Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Chính sách
Tại Việt Nam, thuế thừa kế không tồn tại như một loại thuế riêng biệt và độc lập trong hệ thống pháp luật về thuế. Thay vào đó, thuế thu nhập cá nhân được áp dụng với một số tài sản thừa kế nhất định khi chúng đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định. Trong đó, người nộp thuế là cá nhân nhận tài sản thừa kế sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân nếu tài sản thừa kế đó đáp ứng đủ điều kiện chịu thuế.
aa

Tóm tắt: Bài viết phân tích các quy định pháp luật về thu nhập từ nhận thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế về thuế thừa kế, qua đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam.

Từ khóa: Thu nhập từ nhận thừa kế, thuế thu nhập cá nhân, thuế thừa kế.

THE LAW ON INHERITANCE INCOME UNDER PERSONAL INCOME TAX:
INTERNATIONAL EXPERIENCE AND LESSONS FOR VIETNAM

Abstract: The article analyzes the legal provisions governing income derived from inheritance under personal income tax law in Vietnam, as well as international experiences with inheritance tax, and proposes several recommendations to improve the regulations on income from inheritance within Vietnam’s personal income tax system.

Keywords: Income from inheritance, personal income tax, inheritance tax.

1. Tổng quan về thuế thừa kế

Thuế thừa kế được xây dựng trên nền tảng các lý thuyết thuế cơ bản đã hình thành và phát triển từ rất sớm trong lịch sử tư tưởng kinh tế và tài chính công. Ngay từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, các học giả tài chính công như Edwin R. A. Seligman và Adolf Wagner đã chỉ ra rằng, việc đánh thuế đối với tài sản chuyển giao qua thừa kế không thể tách rời các lý thuyết nền tảng về công bằng thuế và chức năng phân phối lại của thuế trong xã hội. Sang giai đoạn kinh tế học phúc lợi hiện đại, các nghiên cứu của Richard A. Musgrave tiếp tục khẳng định, thuế thừa kế là công cụ điển hình để hiện thực hóa các mục tiêu chuẩn tắc của hệ thống thuế, đặc biệt trong việc điều tiết sự phân bổ gánh nặng thuế và điều chỉnh kết quả phân phối do thị trường tạo ra. Trên cơ sở đó, lý thuyết công bằng thuế và lý thuyết tái phân phối thu nhập và tài sản được xem là hai trụ cột lý luận quan trọng, chi phối cách tiếp cận và thiết kế thuế thừa kế trong cả các hệ thống thuế truyền thống lẫn hiện đại.

Theo Stefan Jestl, thuế thừa kế là “việc đánh thuế đối với các chuyển giao tài sản giữa các thế hệ liên quan đến sự qua đời của người để lại di chúc”. Khái niệm này đề cập tới hai yếu tố quan trọng của thuế thừa kế:

Một là, sự chuyển nhượng tài sản giữa người để lại di sản và người thừa kế. Điều này phản ánh một quá trình chuyển giao tài sản có liên quan đến sự qua đời của người để lại di sản, trong đó hành vi chuyển nhượng tài sản giữa các thế hệ chịu sự tác động của thuế.

Hai là, thuế thừa kế có tác động đến mối quan hệ giữa hai bên chủ thể là người để lại tài sản và người thừa kế. Người để lại tài sản thường thông qua di chúc để xác định người thừa kế và phân chia tài sản của mình sau khi qua đời. Mặc dù thuế thừa kế không trực tiếp tác động đến họ, nhưng người để lại tài sản có thể ảnh hưởng gián tiếp đến mức thuế phải trả thông qua cách thức phân chia tài sản trong di chúc. Cụ thể, họ có thể chia tài sản sao cho mỗi người thừa kế nhận một phần có giá trị phù hợp với các quy định về thuế thừa kế, nhằm giảm thiểu thuế phải nộp. Do đó, thuế thừa kế không chỉ là một nghĩa vụ tài chính mà còn phản ánh sự tác động của hệ thống thuế đối với các quyết định của người để lại tài sản.

Theo Genschel, P., Limberg, J., và Seelkopf, L. (2023), thuế thừa kế là loại thuế được áp dụng trên số tài sản mà từng người thừa kế nhận được. Khái niệm này cho thấy cách tiếp cận của các nhà khoa học đối với thuế thừa kế dưới góc độ đánh thuế đối với người nhận di sản, bởi nó tập trung vào số tài sản mà từng người thừa kế nhận được. Theo quan điểm này, thuế thừa kế chủ yếu nhắm đến việc đánh thuế lên tài sản được chuyển giao từ người để lại di sản sang từng người thừa kế mà không phải tổng tài sản của người để lại di sản. Điều này cho thấy mức thuế thừa kế có thể khác nhau đối với phần tài sản mà mỗi người thừa kế được nhận.

Những quan điểm được đề cập trên đã phần nào đã làm rõ cách hiểu, cách tiếp cận của các học giả, nhà nghiên cứu về thuế thừa kế. Những nghiên cứu này, với phạm vi trải rộng ở cả các quốc gia thuộc hệ thống thông luật và dân luật, đã chỉ ra sự tương đồng cơ bản trong khái niệm thuế thừa kế giữa hai hệ thống pháp luật. Cả hai đều công nhận đây là một nghĩa vụ tài chính liên quan đến việc chuyển nhượng tài sản, tập trung vào yếu tố tài sản được chuyển giao từ người để lại di sản sang người thừa kế. Tuy nhiên, điểm khác biệt có thể xuất phát từ phương thức triển khai tại từng quốc gia. Chẳng hạn, Vương quốc Anh theo hệ thống thông luật, thuế thừa kế chủ yếu đánh vào giá trị tài sản của người đã mất, trong khi ở quốc gia theo hệ dân luật như Đức, cơ chế thuế có thể chú trọng vào tài sản nhận được của người thừa kế.

Có thể thấy, thuế thừa kế có thể được phân loại thành hai nhóm chính là thuế đánh vào tổng giá trị tài sản để lại và thuế đánh vào phần tài sản thực nhận của từng người thừa kế. Sự khác biệt giữa hai cách phân loại thuế không chỉ nằm ở đối tượng chịu thuế mà còn ở mức thuế suất và cơ chế lũy tiến. Tuy nhiên, dù có sự khác biệt trong cách áp dụng, cả hệ thống thông luật và dân luật đều chia sẻ bản chất pháp lý tương tự về thuế thừa kế.

2. Thực trạng pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam

2.1. Người nộp thuế

Tại Việt Nam, thuế thừa kế không tồn tại như một loại thuế riêng biệt và độc lập trong hệ thống pháp luật về thuế. Thay vào đó, thuế thu nhập cá nhân được áp dụng với một số tài sản thừa kế nhất định khi chúng đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định. Trong đó, người nộp thuế là cá nhân nhận tài sản thừa kế sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân nếu tài sản thừa kế đó đáp ứng đủ điều kiện chịu thuế.

2.2. Thu nhập chịu thuế

Theo Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, thu nhập từ nhận thừa kế thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân, đây là khoản thu nhập mà cá nhân nhận được theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật về thừa kế. Tuy nhiên, thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ thừa kế chỉ áp dụng đối với tài sản thừa kế đáp ứng hai điều kiện cơ bản theo quy định của pháp luật.

Thứ nhất, đối với loại tài sản

Các thu nhập từ nhận thừa kế đối với một số loại tài sản cụ thể do luật định, bao gồm thu nhập đối với nhận thừa kế là chứng khoán, bất động sản, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh hoặc các tài sản khác phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng với cơ quan quản lý Nhà nước mà người thừa kế nhận được. Những tài sản thừa kế không thuộc các nhóm trên sẽ không bị áp thuế thu nhập cá nhân. Có thể thấy, các nhóm tài sản bị đánh thuế đều có đặc điểm là có giá trị kinh tế cao, thường gắn với quyền sở hữu rõ ràng và được pháp luật yêu cầu đăng ký hoặc chứng nhận. Đây là những tài sản có khả năng được chuyển nhượng, định giá cụ thể và minh bạch, do đó dễ dàng xác lập nghĩa vụ thuế. Việc lựa chọn đánh thuế các loại tài sản này thể hiện xu hướng tập trung vào các nguồn thu rõ ràng, có tính ổn định và dễ quản lý trong thực tiễn thi hành pháp luật.

Thứ hai, thu nhập chịu thuế

Thu nhập chịu thuế từ thừa kế là phần giá trị tài sản thừa kế vượt trên 10 triệu đồng mà đối tượng nộp thuế nhận được theo từng lần phát sinh (khoản 1 Điều 18 Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007, sửa đổi, bổ sung năm 2014). Mức giá trị này nhằm giảm gánh nặng thuế cho những cá nhân nhận tài sản thừa kế có giá trị thấp, bảo vệ quyền lợi của họ trong trường hợp thừa kế nhỏ.

2.3. Phương pháp tính thuế

Công thức tính thuế thu nhập cá nhân từ thừa kế: Thuế thu nhập cá nhân phải nộp = Thu nhập tính thuế x Thuế suất (10%). Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ thừa kế là thu nhập tính thuế và thuế suất.

Về thu nhập tính thuế, thông thường, đó là kết quả sau khi trừ đi các khoản giảm thuế và chi phí hợp lý ra khỏi thu nhập chịu thuế. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam quy định thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ nhận thừa kế chính là thu nhập chịu thuế (khoản 2 Điều 21 Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007, sửa đổi, bổ sung năm 2014). Điều này phản ánh tính chất đặc thù của thu nhập từ thừa kế, giá trị tài sản nhận được thường không phát sinh các yếu tố chi phí liên quan trực tiếp như trong trường hợp thu nhập từ kinh doanh hay tiền lương.

Về thuế suất, thuế thu nhập cá nhân đối với thừa kế được áp dụng theo thuế toàn phần với thuế suất là 10%. Việc áp dụng một mức thuế thống nhất góp phần đơn giản hóa quy trình tính thuế và thuận tiện cho công tác quản lý.

3. Kinh nghiệm quốc tế về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân

3.1. Vương quốc Anh

Tại Vương quốc Anh, thuế thừa kế áp dụng đối với tất cả tài sản mà người quá cố sở hữu hoặc có quyền kiểm soát tại thời điểm qua đời (Luật Thuế Thừa kế của Vương quốc Anh năm 1984), trừ những tài sản được miễn theo quy định. Tuy nhiên, nếu tổng giá trị tài sản thừa kế của người đó không vượt quá ngưỡng miễn thuế thì tài sản đó sẽ không bị đánh thuế thừa kế. Ngoài ra, đối tượng chịu thuế cũng bị ảnh hưởng bởi nơi cư trú của người để lại di sản. Nếu người quá cố là người cư trú pháp lý tại Anh, tài sản toàn cầu của họ sẽ bị đánh thuế, nếu không phải thì chỉ tài sản ở Anh mới bị đánh thuế, trừ khi họ được coi là là người cư trú.

Dựa trên hình thức sở hữu và định đoạt, tài sản thừa kế có thể được chia thành ba nhóm, bao gồm tài sản đồng sở hữu, tài sản đã được định đoạt và tài sản cá nhân. Trong đó, nhóm thứ nhất được xác định là tài sản chung hoặc tài sản chung có khả năng chuyển nhượng sau khi người để lại di sản qua đời. Đây có thể là những tài sản mà cả hai hoặc nhiều người cùng sở hữu, chẳng hạn như tài sản của vợ chồng hoặc hợp đồng đối tác. Khi một trong các chủ sở hữu qua đời, tài sản đó sẽ được chuyển nhượng cho các đồng sở hữu còn lại hoặc theo quy định của pháp luật nếu không có thỏa thuận rõ ràng. Tài sản này có thể được chia theo tỉ lệ đã được định trước hoặc theo các điều kiện được thỏa thuận trong hợp đồng, di chúc, hoặc theo sự phân chia quy định của pháp luật.

Nhóm thứ hai bao gồm tất cả tài sản đã được định sẵn về cách thức quản lý và phân bổ sau khi chủ sở hữu qua đời. Những tài sản này thường được đặt trong một quỹ tín thác, nơi người thụ hưởng có quyền lợi sở hữu hoặc quyền hưởng lợi từ tài sản đó cho đến thời điểm qua đời. Nhóm thứ ba là những tài sản khác không thuộc hai nhóm trên. Khi chủ sở hữu qua đời, tài sản cá nhân sẽ được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế hoặc theo nguyện vọng của người quá cố nếu có di chúc.

Quà tặng trong vòng 7 năm trước khi người quá cố mất cũng có thể thuộc diện tài sản chịu thuế thừa kế tại Vương quốc Anh. Tuy nhiên, một số loại quà tặng được miễn thuế hoàn toàn như quà tặng cho vợ/chồng, đối tác dân sự, tổ chức từ thiện. Quy định này không chỉ khuyến khích các hoạt động thiện nguyện và hỗ trợ gia đình mà còn giảm nhẹ gánh nặng thuế cho các đối tượng phù hợp.

Căn cứ tính thuế thừa kế tại Vương quốc Anh bao gồm thu nhập tính thuế và thuế suất. Để xác định thu nhập tính thuế, cần phải xem xét toàn bộ tài sản được thừa kế, các tài sản là quà tặng trong diện chịu thuế thừa kế, đối tượng được miễn thuế, chi phí tang lễ, nợ và ngưỡng thuế. Về thuế suất, Vương quốc Anh áp dụng thuế suất cố định là 40% với thu nhập chịu thuế vượt qua ngưỡng miễn thuế. Ngoại lệ, trong trường hợp một phần di sản được chuyển nhượng cho tổ chức từ thiện đáp ứng điều kiện theo luật định thì có thể được áp dụng mức thuế suất là 36% (Phụ lục 1A Luật Thuế Thừa kế của Vương quốc Anh năm 1984).

Thu nhập tính thuế được xác định là phần giá trị vượt quá ngưỡng thuế của thu nhập chịu thuế. Trong đó, thu nhập chịu thuế là kết quả của việc trừ phần giá trị tài sản chuyển nhượng cho đối tượng được miễn thuế, các khoản nợ, chi phí mai táng vào tổng giá trị tài sản thuộc diện chịu thuế thừa kế của người quá cố. Nếu thu nhập chịu thuế thấp hơn ngưỡng miễn thuế thì không cần nộp thuế thừa kế. Theo đó, mức thuế suất bằng không (NRB) là ngưỡng cho di sản của mỗi người, được quy định là 325.000 bảng Anh. Tuy nhiên, ngưỡng này có thể tăng lên trong một số trường hợp đặc biệt. Cụ thể, nếu ngôi nhà chính của người quá cố được chuyển nhượng cho con cháu, ngưỡng miễn thuế có thể cao hơn. Ngoài ra, nếu vợ/chồng hoặc đối tác dân sự của người quá cố mất trước và chưa sử dụng hết ngưỡng miễn thuế của họ, phần ngưỡng miễn thuế chưa sử dụng này có thể được chuyển nhượng sang cho người quá cố, làm tăng giá trị miễn thuế cho người thừa kế. Do đó, ngưỡng miễn thuế khả dụng thường lên tới 1 triệu bảng Anh.

Cách tính thuế thừa kế được xác định thông qua việc áp dụng thu nhập tính thuế vào thuế suất. Trong hệ thống thuế thừa kế cố định này, việc tính toán không yêu cầu phải phân chia tài sản thành các mức thuế khác nhau dựa trên giá trị của từng phần tài sản như ở các quốc gia có thuế suất lũy tiến. Điều này mang lại sự đơn giản và thuận tiện cho quá trình tính toán.

3.2. Đức

Đối tượng chịu thuế thừa kế tại Đức bao gồm tất cả các tài sản và quyền lợi mà người thừa kế nhận được từ người để lại di sản thông qua di chúc, quyền thừa kế hợp pháp hoặc các quà tặng được thực hiện trước khi người cho qua đời (Điều 1 Đạo luật Thuế Thừa kế và Thuế Quà tặng của Đức). Trên cơ sở đó, pháp luật về thuế thừa kế của Đức đánh thuế không chỉ đối với tài sản trong nước mà còn với tài sản ở nước ngoài, tùy thuộc vào mối quan hệ cư trú của người để lại di sản và người thừa kế. Nếu cả hai là cư dân Đức, toàn bộ tài sản, dù ở bất kỳ quốc gia nào, đều thuộc phạm vi đánh thuế. Trường hợp người thừa kế hoặc người để lại di sản không phải cư dân Đức, các quy định quốc tế và hiệp định song phương có thể điều chỉnh phạm vi áp dụng thuế thừa kế.

Tài sản chịu thuế không chỉ bao gồm bất động sản, tiền mặt, hoặc các vật dụng cá nhân mà còn mở rộng đến quyền lợi tài chính, cổ phần doanh nghiệp và các quyền liên quan đến tài sản thừa kế bắt buộc. Ngoài ra, quà tặng trước khi người cho qua đời cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của Đạo luật Thuế Thừa kế và Thuế Quà tặng của Đức và có thể bị đánh thuế nếu được thực hiện trong vòng 10 năm trước thời điểm qua đời. Căn cứ tính thuế thừa kế tại Đức bao gồm thu nhập tính thuế và thuế suất. Để xác định được thu nhập tính thuế, cần xem xét tới toàn bộ tài sản thừa kế, các tài sản là quà tặng trong diện chịu thuế thừa kế, tài sản có thể được miễn thuế, trợ cấp lương hưu, các khoản nợ, chi phí liên quan và khoản miễn trừ cá nhân.

Về thuế suất, hệ thống thuế thừa kế của Đức được xây dựng dựa trên nguyên tắc lũy tiến, dao động từ 7% đến 50% (Điều 19 Đạo luật Thuế Thừa kế và Thuế Quà tặng của Đức), tùy thuộc vào giá trị tài sản thừa kế và mối quan hệ giữa người thừa kế với người để lại di sản. Trong đó, những người thừa kế có quan hệ gần gũi, như vợ/chồng và con cái, được hưởng mức thuế suất thấp hơn và ngưỡng miễn thuế cao hơn. Ngược lại, những người thừa kế không có quan hệ thân thiết phải chịu thuế suất cao hơn và được hưởng mức miễn thuế thấp hơn.

Thu nhập tính thuế được xác định là kết quả của việc trừ khoản miễn trừ cá nhân và trợ cấp lương hưu vào thu nhập chịu thuế. Do đó, để tính được chính xác khoản thu nhập tính thuế thì trước hết cần xác định thu nhập chịu thuế.

Thu nhập chịu thuế được xác định bằng cách giảm trừ tổng thu nhập từ tài sản thừa kế, bao gồm cả quà tặng, các yếu tố như thu nhập từ tài sản được miễn thuế, nợ và chi phí liên quan. Trong đó, các tài sản có thể được miễn thuế, như bất động sản sử dụng làm nơi cư trú chính, doanh nghiệp gia đình duy trì hoạt động, hay tài sản văn hóa có giá trị cộng đồng, sẽ được loại trừ khỏi cơ sở tính thuế nếu thỏa mãn được các điều kiện theo luật định.

Khoản miễn trừ cá nhân trong thuế thừa kế tại Đức được áp dụng theo nguyên tắc giảm dần tùy vào mức độ quan hệ gia đình với người để lại di sản. Cụ thể, những người thân nhất trong gia đình, như vợ/chồng, con cái, hoặc cha mẹ, sẽ được hưởng mức miễn trừ cao hơn so với những đối tượng không phải là thành viên gần gũi trong gia đình. Điều này phản ánh sự bảo vệ quyền lợi của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là những người có mối quan hệ gần gũi với người quá cố. Từ đó, các đối tượng thừa kế sẽ được giảm bớt gánh nặng thuế thừa kế, giúp đảm bảo sự công bằng và hỗ trợ tài chính cho những người thân thiết nhất trong gia đình.

Cách tính thuế thừa kế tại Đức được xác định bằng cách áp dụng thu nhập tính thuế vào thuế suất. Tuy nhiên, hệ thống thuế thừa kế Đức phân chia đối tượng nộp thuế thành ba nhóm khác nhau, mỗi nhóm này sẽ áp dụng một khung thuế suất lũy tiến riêng. Do đó, mức thuế suất sẽ dao động tùy thuộc vào nhóm mà người nhận tài sản thừa kế thuộc về. Vì vậy, sau khi tính toán thu nhập tính thuế từ tài sản thừa kế, việc xác định chính xác nhóm đối tượng nộp thuế là rất quan trọng, giúp đảm bảo rằng thuế suất phù hợp được áp dụng, đồng thời đảm bảo tính công bằng và hợp lý trong việc tính toán thuế đối với từng trường hợp thừa kế cụ thể.

4. Bài học cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân

Thứ nhất, tiếp tục duy trì đánh thuế thu nhập cá nhân cho tài sản thừa kế và quy định chi tiết và cụ thể hơn

Thay vì xây dựng Luật Thuế thừa kế riêng biệt, việc bổ sung và chi tiết hóa các quy định trong Luật Thuế thu nhập cá nhân có thể là một giải pháp hợp lý hơn.

Theo hướng này, pháp luật có thể quy định cụ thể hơn về mức thuế suất đối với từng loại tài sản thừa kế có giá trị lớn, đồng thời, thiết kế các cơ chế miễn, giảm thuế mang tính chọn lọc đối với một số trường hợp đặc thù, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia như Vương quốc Anh và Đức - nơi chính sách thuế thừa kế được thiết kế theo hướng vừa bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa hạn chế tác động tiêu cực đến đời sống gia đình và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Ngoài ra, việc lập một hệ thống thuế thừa kế mới sẽ đòi hỏi thời gian và nguồn lực đáng kể để xây dựng luật, thiết lập cơ quan quản lý, cũng như triển khai các quy trình thu thuế và giám sát thực thi.

Thứ hai, thay đổi quy định về tài sản chịu thuế

Thu nhập từ tài sản thừa kế sẽ tiếp tục bị đánh thuế thu nhập cá nhân đối với các loại tài sản có giá trị lớn và có tính chất đầu tư, bao gồm chứng khoán, bất động sản, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, hoặc các tài sản khác phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng với cơ quan quản lý Nhà nước.

Đối với bất động sản, cần có sự điều chỉnh cụ thể để phù hợp với điều kiện thực tế. Kinh nghiệm của Đức cho thấy pháp luật nước này áp dụng cơ chế miễn thuế thừa kế đối với bất động sản được sử dụng làm nơi ở chính của vợ, chồng hoặc con của người để lại di sản, qua đó bảo đảm nhu cầu an cư và ổn định đời sống cho các thành viên gia đình sau khi người để lại tài sản qua đời.

Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm này, trong điều kiện Việt Nam, tác giả đề xuất chỉ miễn thuế đối với bất động sản đầu tiên của người để lại di sản khi chuyển giao cho người thừa kế có quan hệ thân nhân trực hệ, coi đây là bất động sản phục vụ nhu cầu ở thiết yếu, đồng thời không đặt ra quá nhiều điều kiện kèm theo như pháp luật Đức. Đối với bất động sản thứ hai trở đi, người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ thuế nhằm hạn chế tích lũy tài sản thừa kế với mục đích đầu tư, đồng thời đảm bảo nguồn thu hợp lý cho ngân sách nhà nước.

Thứ ba, thay đổi quy định về thuế suất

Hiện nay, mức thuế suất cố định 10% đối với thu nhập từ thừa kế theo quy định của thuế thu nhập cá nhân chưa thực sự hợp lý. Việc áp dụng một mức thuế chung cho tất cả các đối tượng thừa kế, bất kể giá trị tài sản nhận được, có thể dẫn đến tình trạng thiếu công bằng và chưa phù hợp với thực tế kinh tế - xã hội. Chính vì vậy, cần có sự điều chỉnh trong cách áp dụng thuế suất đối với thuế thừa kế. Tác giả kiến nghị áp dụng thuế suất lũy tiến, theo đó mức thuế sẽ tăng dần tương ứng với giá trị tài sản thừa kế mà người nhận được. Theo cơ chế này, những người thừa kế tài sản có giá trị thấp sẽ chỉ chịu mức thuế thấp hoặc có thể được miễn thuế trong một giới hạn nhất định, qua đó góp phần giảm gánh nặng tài chính đối với các chủ thể không thuộc nhóm có điều kiện kinh tế cao.

Trong quá trình thiết kế, có thể tham khảo kinh nghiệm của Đức trong việc áp dụng thuế suất lũy tiến gắn với giá trị tài sản thừa kế. Tuy nhiên, cần điều chỉnh ở mức độ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam. Trong giai đoạn đầu, có thể giữ nguyên mức thuế suất 10% như hiện tại để tránh gây ra cú sốc lớn đối với người dân và thị trường. Tuy nhiên, sau mỗi 10 năm, mức thuế suất nên được điều chỉnh tăng lên theo từng giai đoạn nhằm thích ứng với sự thay đổi của tình hình kinh tế, mức thu nhập trung bình của người dân cũng như giá trị tài sản thừa kế theo thời gian.

Tài liệu tham khảo:

1. Seligman, E. R. A. (1908), Progressive Taxation in Theory and Practice, American Economic Association Quarterly, 9(4), 1–334.

2. Wagner, A. (1880), Finanzwissenschaft, Leipzig, Germany: C. F. Winter.

3. Musgrave, R. A. (1959), The theory of public finance: A study in public economy, New York, NY: McGraw-Hill.

4. Stefan Jestl (2021), Inheritance tax regimes: a comparison, Public Sector Economics, 45 (3), 367.

5. Margit Schratzenstaller, Cornelia Schobert, Andrea Sutrich (2025), Behavioral responses to inheritance taxation –

A review of the empirical literature, Economic Analysis and Policy 85, 241-243.

6. Genschel, P., Limberg, J., & Seelkopf, L. (2023), Revenue, Redistribution, and the Rise and Fall of Inheritance Taxation, Comparative Political Studies, 0(0), tr. 21-24.

7. Luật Thuế Thu nhập cá nhân năm 2007 (sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014).

8. Luật Thuế Thừa kế của Vương quốc Anh năm 1984.

9. Đạo luật Thuế Thừa kế và Thuế Quà tặng của Đức năm 2024.

10. Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế Thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế Thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế Thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế Thu nhập cá nhân.

11. https://www.gov.uk/inheritance-tax

12. https://www.gov.uk/government/publications/inheritance-tax-claim-to-transf er-unused-nil-rate-band-iht402

Lê Ngọc Bảo Nhi
Trường Đại học Luật Hà Nội

Tin bài khác

Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Bài viết phân tích thực trạng an toàn tài chính vĩ mô tại Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời đề xuất các giải pháp củng cố nền tảng tài chính, nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế và hướng tới tăng trưởng bền vững.
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển ngân hàng số gắn với cơ chế cảnh báo rủi ro tại các Trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới, từ đó đề xuất định hướng xây dựng hệ sinh thái ngân hàng số an toàn, minh bạch và bền vững cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Xem thêm
Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Bài viết phân tích thực trạng an toàn tài chính vĩ mô tại Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời đề xuất các giải pháp củng cố nền tảng tài chính, nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế và hướng tới tăng trưởng bền vững.
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam