Chuyển đổi số ngân hàng: Xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, tiến tới ra quyết định dựa trên dữ liệu
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là một trong những trụ cột quan trọng hướng đến mục tiêu mang lại sản phẩm tiện tích cho người dân, doanh nghiệp, góp phần tăng trưởng kinh tế số, giúp đất nước cất cánh trong thời gian tới.
Quán triệt tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW và chỉ đạo của Chính phủ, ngành Ngân hàng với tinh thần “đổi mới mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ và nhất quán” đã sớm thành lập Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành các kế hoạch của Ngành triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW.
![]() |
| Ảnh minh họa (Nguồn: Internet) |
Từ nền tảng pháp lý và hạ tầng công nghệ thúc đẩy số hóa…
Về hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, NHNN đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 quy định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng và đã triển khai thi hành Nghị định này. Đồng thời, NHNN đã tham mưu trình Chính phủ ban hành Nghị định số 368/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động nhằm tăng cường việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ thanh toán, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam. Năm 2025, NHNN hoàn thiện và ban hành 02 chiến lược: “Chiến lược chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2030” (Quyết định số 3579/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN) và “Chiến lược dữ liệu ngành Ngân hàng đến năm 2030” (Quyết định số 3580/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN). Đây là nền tảng định hình sự phát triển dài hạn của toàn Ngành.
Song song với đó, nhiều thông tư đã được ban hành nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về pháp lý, cho phép ứng dụng mạnh mẽ các công nghệ mới như xác thực qua VNeID và chuẩn hóa an toàn hệ thống thông tin.
Hạ tầng phục vụ chuyển đổi số ngành Ngân hàng được chú trọng đầu tư, nâng cấp, phát triển. Tính đến hết quý I/2026, Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng xử lý bình quân 820 nghìn tỉ đồng mỗi ngày, Hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử xử lý 26 triệu giao dịch mỗi ngày. Hạ tầng thông tin tín dụng quốc gia nâng cấp để gia tăng khả năng xử lý, cập nhật dữ liệu tự động, đồng thời mở rộng thu thập; cập nhật dữ liệu trong và ngoài Ngành với tỉ lệ cập nhật số liệu thành công từ tổ chức tín dụng (TCTD) đạt mức cao trên 98%.
Đến nay, hầu hết dịch vụ ngân hàng cơ bản đã được số hóa trên các kênh điện tử; nhiều ngân hàng ghi nhận trên 95% giao dịch thực hiện qua kênh số thay vì tại quầy truyền thống. Đến hết quý I/2026, hơn 87% người Việt Nam trưởng thành có tài khoản ngân hàng; giá trị thanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 gấp khoảng 28 lần GDP. Việt Nam cũng tiên phong kết nối thanh toán bán lẻ xuyên biên giới qua mã QR với Thái Lan, Campuchia, Lào, Trung Quốc và hướng tới mở rộng trong khu vực châu Á
Hệ sinh thái số, thanh toán số đã được thiết lập kết nối giữa dịch vụ ngân hàng với nhiều dịch vụ khác trong nền kinh tế để cung ứng trải nghiệm liền mạch cho khách hàng. Các dịch vụ trên Cổng dịch vụ công quốc gia (DVCQG), dịch vụ dân sinh đều đã được đưa lên hoặc kết nối với ứng dụng di động của các ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán. Điều này cho phép người dân, doanh nghiệp giao dịch mua bán, thanh toán an toàn, thuận tiện, tiết kiệm thời gian, chi phí ngay trên ứng dụng, nền tảng số quen thuộc hằng ngày.
… đến kết nối, liên thông dữ liệu, lan tỏa sáng kiến số
Ngành Ngân hàng tiếp tục chú trọng đầu tư và nâng cấp hạ tầng dữ liệu mới nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và phát triển sản phẩm, dịch vụ, bảo đảm cập nhật dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. Một trong những điểm nhấn mang tính bước ngoặt chính là sự phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an để "làm sạch" dữ liệu theo Đề án 06. Tính đến hết ngày 03/4/2026, cả ngành Ngân hàng đã có hơn 153,09 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân được đối chiếu thông tin sinh trắc học; hơn 1,94 triệu hồ sơ khách hàng tổ chức đã được đối chiếu thông tin sinh trắc học.
NHNN là một trong những bộ, ngành hoàn thành sớm nhiệm vụ đồng bộ 100% cơ sở dữ liệu chuyên ngành được giao lên Trung tâm dữ liệu quốc gia theo Nghị quyết số 71/NQ-CP1. Không chỉ dừng lại ở nội bộ, NHNN còn chủ động xây dựng các giao diện lập trình ứng dụng (API) chia sẻ dữ liệu liên thông với Văn phòng Chính phủ và Kiểm toán Nhà nước qua Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP), góp phần tạo nên một hệ sinh thái dữ liệu mở và hiệu quả cho cả hệ thống chính trị.
Bên cạnh đó, công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán và các hệ thống thông tin ứng dụng nghiệp vụ ngân hàng, phòng chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng luôn được quan tâm chú trọng. Nổi bật, NHNN đã triển khai Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận trong hoạt động thanh toán (SIMO). Tính đến ngày 12/4/2026, theo báo cáo của các đơn vị sử dụng dịch vụ của hệ thống SIMO, đã có trên 3,7 triệu lượt khách hàng nhận được cảnh báo, trong đó có trên 1,2 triệu lượt khách hàng tạm dừng/hủy bỏ giao dịch sau khi nhận được cảnh báo, với tổng số tiền giao dịch là gần 4,17 nghìn tỉ đồng.
Công tác cải cách hành chính gắn liền với số hóa toàn trình cũng được đẩy mạnh để tiết giảm chi phí cho người dân và doanh nghiệp. Nhiều năm liên tục, NHNN đứng trong top dẫn đầu các bộ, ngành về chỉ số Cải cách hành chính. Theo NHNN, 100% dịch vụ công của NHNN được tích hợp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia; gần 99% hồ sơ công việc được xử lý trên môi trường số. Năm 2025, NHNN đã chính thức cung cấp thêm 32 dịch vụ công toàn trình, nâng tổng số đã cung cấp lên 57 dịch vụ, hoàn thành nhiệm vụ 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện liên quan đến doanh nghiệp được nâng cấp lên dịch vụ công toàn trình.
Ngoài ra, hưởng ứng phong trào “Bình dân học vụ số”, ngày 27/5/2025, NHNN đã tổ chức Hội nghị phát động phong trào “Cả nước thi đua đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” và “Bình dân học vụ số” ngành Ngân hàng gắn với thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Các phong trào này nhằm phổ cập tri thức và kỹ năng số, khơi dậy ý chí đổi mới trong từng cán bộ, TCTD và toàn hệ thống ngân hàng. Tinh thần chủ động cải tiến quy trình và ứng dụng công nghệ số đã lan tỏa rộng khắp, giúp toàn Ngành ghi nhận con số ấn tượng 1.484 sáng kiến, trong đó có 37 sáng kiến số được đăng ký trên Cổng Sáng kiến Khoa học và Công nghệ của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Xác định nguồn nhân lực đóng vai trò then chốt, là yếu tố quyết định sự thành công, NHNN và các TCTD đã quan tâm, đầu tư cho nhân sự công nghệ thông tin và chuyển đổi số cả về số lượng và chất lượng. Những ngân hàng tiên phong cho chuyển đổi số đều có tỉ lệ từ 8 - 10% nhân sự công nghệ thông tin và chuyển đổi số trên tổng số lượng nhân sự của mình.
Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh trên phạm vi toàn cầu, NHNN và các TCTD đã xây dựng cơ chế hợp tác song phương, đa phương, chủ động kết nối với các tổ chức tài chính quốc tế, các đối tác công nghệ hàng đầu để trao đổi kiến thức, chuyển giao công nghệ. Việc chủ động hội nhập, hợp tác cũng giúp các ngân hàng trong nước thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao từ thị trường quốc tế, cũng như mở rộng mạng lưới hoạt động ra nước ngoài.
Bảo vệ thông tin khách hàng, an toàn hệ thống thanh toán quốc gia
Mặc dù gặt hái những thành quả nhất định, quá trình chuyển đổi số ngân hàng cũng gặp nhiều thách thức. Sự gia tăng của các cuộc tấn công mạng cùng các chiêu trò lừa đảo của tội phạm sử dụng công nghệ cao ngày càng tinh vi, phức tạp. Trong khi đó, việc bảo vệ thông tin khách hàng và đảm bảo an toàn hệ thống thanh toán quốc gia là ưu tiên số một. Chuyển đổi số không chỉ về công nghệ mà còn là sự thay đổi về nhận thức và thói quen của cả nhân viên lẫn khách hàng. Điều này phụ thuộc lớn vào quyết tâm của người đứng đầu tổ chức.
Bên cạnh đó, dữ liệu còn phân mảnh, chưa đồng bộ, thiếu kết nối. Tại nhiều ngân hàng, dữ liệu khách hàng bị chia cắt, nằm rải rác ở các hệ thống lõi, hệ thống thẻ và các kênh số khác nhau. Mỗi ngân hàng thường có mô hình dữ liệu riêng. Việc thiếu các tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất (như Open API) khiến việc kết nối giữa hệ thống ngân hàng với các công ty công nghệ tài chính (Fintech) hoặc đơn vị dịch vụ công trở nên phức tạp. Các ngân hàng phải tăng cường “hàng rào” bảo mật khi chia sẻ dữ liệu với bên thứ ba.
Việc làm sạch và chuẩn hóa dữ liệu cũ của ngân hàng để khớp với dữ liệu dân cư là một thách thức lớn về nguồn lực. Việc kết nối trực tiếp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đòi hỏi hạ tầng công nghệ hiện đại để đảm bảo xử lý hàng triệu giao dịch mỗi ngày một cách liên tục và an toàn. Đồng thời, việc chuẩn hóa và quản trị dữ liệu khách hàng cũng tiêu tốn rất nhiều nguồn lực.
Đặc biệt, trong bối cảnh hoạt động ngân hàng chịu sự tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập kinh tế quốc tế, xuất hiện những vấn đề mới, phức tạp cần được đánh giá kỹ các tác động chính sách và sự phù hợp với thực tế, cũng như liên quan đến nhiều lĩnh vực trong và ngoài Ngành có những quan điểm khác nhau, ảnh hưởng đến tiến độ của việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về lĩnh vực ngân hàng.
Chưa kể, thói quen, tâm lý sử dụng tiền mặt ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa cùng với tâm lý e ngại khi tiếp cận với công nghệ thanh toán mới, cũng như lo ngại về an ninh an toàn khi sử dụng các phương thức thanh toán điện tử, trực tuyến. Bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận người dân thiếu thông tin, chưa ý thức được đầy đủ sự quan trọng của việc bảo mật thông tin cá nhân, hậu quả của hành vi cho thuê, cho mượn, mua bán thông tin tài khoản, thẻ ngân hàng... dẫn đến tội phạm lợi dụng cho mục đích gian lận, lừa đảo, bất hợp pháp.
Thời gian tới, để hoạt động chuyển đổi số ngân hàng phát triển hơn nữa, góp phần thúc đẩy kinh tế số, xã hội số, Chính phủ số, ngành Ngân hàng tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp:
Thứ nhất, đẩy nhanh hoàn thiện thể chế: NHNN tiếp tục đẩy nhanh hoàn thiện thể chế, pháp luật mang tính đột phá, trong đó, tổ chức triển khai Nghị định số 94/2025/NĐ-CP; rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của ngành để tháo gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số toàn Ngành.
Thứ hai, phát triển hạ tầng số, nền tảng số hiện đại, bảo đảm an ninh, an toàn: Tăng cường ứng dụng công nghệ tiên tiến trong hoạt động ngân hàng để đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện hoạt động quản trị, điều hành, nghiệp vụ, đẩy nhanh quá trình ra quyết định và phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại; đầu tư mạnh mẽ vào an ninh mạng, bảo mật dữ liệu, xây dựng trung tâm giám sát an ninh mạng và năng lực ứng phó sự cố hiệu quả; chú trọng xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung toàn Ngành, phục vụ nâng cao chất lượng ra quyết định dựa trên dữ liệu.
Thứ ba, đa dạng và cá nhân hóa dịch vụ ngân hàng số, tăng trải nghiệm: Số hóa toàn diện các quy trình và sản phẩm, dịch vụ ngân hàng truyền thống; phát triển các sản phẩm, dịch vụ tài chính số mới; mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính cho đối tượng yếu thế, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
Thứ tư, phát triển dữ liệu số: Phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an triển khai hiệu quả Đề án 06 tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi số ngành Ngân hàng. Đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu an toàn giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành để phát triển hệ sinh thái số thông minh, an toàn và lấy người dân làm trung tâm.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực, văn hóa học tập, sáng tạo: Đa dạng hóa các hình thức đào tạo, các trình độ; quyết liệt triển khai phong trào "Bình dân học vụ số"; tổ chức đào tạo chuyển đổi số, nâng cao năng lực quản trị, phân tích dữ liệu và đổi mới sáng tạo gắn với phong trào “học tập suốt đời” trong cán bộ, công chức và người lao động ngành Ngân hàng.
Thứ sáu, tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế: Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học quốc tế, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và phát triển chuyên gia theo chuẩn toàn cầu. Bên cạnh mục tiêu tiếp thu tinh hoa công nghệ của thế giới sẽ đồng thời quảng bá những sáng kiến “Make in Vietnam” của ngành Ngân hàng Việt Nam để đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của khoa học, công nghệ và tài chính số quốc tế.
Thứ bảy, xây dựng các chính sách thu hút, đãi ngộ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về công nghệ thông tin, chuyển đổi số: Tăng cường hợp tác, đẩy mạnh học hỏi nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, vận dụng hợp lý, hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn hoạt động Ngân hàng tại Việt Nam.
Thứ tám, đẩy mạnh truyền thông, giáo dục tài chính nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng cho công chúng trong sử dụng sản phẩm, dịch vụ tài chính, ngân hàng, hạn chế nguy cơ tội phạm lợi dụng dịch vụ ngân hàng cho mục đích gian lận, lừa đảo.
1 Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Tài liệu tham khảo
1. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và chuyển đổi số quốc gia.
2. Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 của Chính phủ về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng.
3. Nghị định số 368/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động.
4. Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
5. Quyết định số 1633/QĐ-NHNN ngày 31/3/2025 của Thống đốc NHNN thành lập Ban chỉ đạo và Tổ Giúp việc của ngành Ngân hàng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06.
6. Quyết định số 3579/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN phê duyệt Chiến lược chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2030.Quyết định số 3580/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN phê duyệt Chiến lược dữ liệu ngành Ngân hàng đến năm 2030”.
Tin bài khác
Nâng cao mức độ an toàn đối với các dịch vụ ngân hàng trên kênh số nhờ “lá chắn số” SIMO
Stablecoin neo tiền pháp định - hình thức ngân hàng ngầm kỹ thuật số: Rủi ro hệ thống và thách thức đối với điều hành chính sách tiền tệ
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ sinh thái thanh toán số: Nền tảng cho phát triển thanh toán hiện đại và bền vững
Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và những tác động đối với lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam
Khai thác dữ liệu đảm bảo tính riêng tư trong lĩnh vực ngân hàng: Phương pháp tiếp cận đáp ứng yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân
Xu hướng nghiên cứu toàn cầu về sự giao thoa giữa AI, tài chính xanh và lòng trung thành của khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng
Khung pháp lý về quản trị dữ liệu cá nhân trong ngân hàng: Giải pháp quản lý hiệu quả và đảm bảo quyền lợi khách hàng
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
