Chuyển đổi số ngân hàng: Xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, tiến tới ra quyết định dựa trên dữ liệu

Công nghệ & ngân hàng số
Thời gian qua, bên cạnh việc hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, ngành Ngân hàng tiếp tục đầu tư mạnh mẽ vào an ninh mạng, bảo mật dữ liệu, xây dựng trung tâm giám sát an ninh mạng và năng lực ứng phó sự cố hiệu quả; chú trọng xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung toàn Ngành, phục vụ nâng cao chất lượng ra quyết định dựa trên dữ liệu.
aa

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là một trong những trụ cột quan trọng hướng đến mục tiêu mang lại sản phẩm tiện tích cho người dân, doanh nghiệp, góp phần tăng trưởng kinh tế số, giúp đất nước cất cánh trong thời gian tới.

Quán triệt tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW và chỉ đạo của Chính phủ, ngành Ngân hàng với tinh thần “đổi mới mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ và nhất quán” đã sớm thành lập Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành các kế hoạch của Ngành triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Chuyển đổi số ngân hàng: Xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, tiến tới ra quyết định dựa trên dữ liệu
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Từ nền tảng pháp lý và hạ tầng công nghệ thúc đẩy số hóa…

Về hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, NHNN đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 quy định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng và đã triển khai thi hành Nghị định này. Đồng thời, NHNN đã tham mưu trình Chính phủ ban hành Nghị định số 368/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động nhằm tăng cường việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ thanh toán, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam. Năm 2025, NHNN hoàn thiện và ban hành 02 chiến lược: “Chiến lược chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2030” (Quyết định số 3579/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN) và “Chiến lược dữ liệu ngành Ngân hàng đến năm 2030” (Quyết định số 3580/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN). Đây là nền tảng định hình sự phát triển dài hạn của toàn Ngành.

Song song với đó, nhiều thông tư đã được ban hành nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về pháp lý, cho phép ứng dụng mạnh mẽ các công nghệ mới như xác thực qua VNeID và chuẩn hóa an toàn hệ thống thông tin.

Hạ tầng phục vụ chuyển đổi số ngành Ngân hàng được chú trọng đầu tư, nâng cấp, phát triển. Tính đến hết quý I/2026, Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng xử lý bình quân 820 nghìn tỉ đồng mỗi ngày, Hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử xử lý 26 triệu giao dịch mỗi ngày. Hạ tầng thông tin tín dụng quốc gia nâng cấp để gia tăng khả năng xử lý, cập nhật dữ liệu tự động, đồng thời mở rộng thu thập; cập nhật dữ liệu trong và ngoài Ngành với tỉ lệ cập nhật số liệu thành công từ tổ chức tín dụng (TCTD) đạt mức cao trên 98%.

Đến nay, hầu hết dịch vụ ngân hàng cơ bản đã được số hóa trên các kênh điện tử; nhiều ngân hàng ghi nhận trên 95% giao dịch thực hiện qua kênh số thay vì tại quầy truyền thống. Đến hết quý I/2026, hơn 87% người Việt Nam trưởng thành có tài khoản ngân hàng; giá trị thanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 gấp khoảng 28 lần GDP. Việt Nam cũng tiên phong kết nối thanh toán bán lẻ xuyên biên giới qua mã QR với Thái Lan, Campuchia, Lào, Trung Quốc và hướng tới mở rộng trong khu vực châu Á

Hệ sinh thái số, thanh toán số đã được thiết lập kết nối giữa dịch vụ ngân hàng với nhiều dịch vụ khác trong nền kinh tế để cung ứng trải nghiệm liền mạch cho khách hàng. Các dịch vụ trên Cổng dịch vụ công quốc gia (DVCQG), dịch vụ dân sinh đều đã được đưa lên hoặc kết nối với ứng dụng di động của các ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán. Điều này cho phép người dân, doanh nghiệp giao dịch mua bán, thanh toán an toàn, thuận tiện, tiết kiệm thời gian, chi phí ngay trên ứng dụng, nền tảng số quen thuộc hằng ngày.

… đến kết nối, liên thông dữ liệu, lan tỏa sáng kiến số

Ngành Ngân hàng tiếp tục chú trọng đầu tư và nâng cấp hạ tầng dữ liệu mới nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và phát triển sản phẩm, dịch vụ, bảo đảm cập nhật dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. Một trong những điểm nhấn mang tính bước ngoặt chính là sự phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an để "làm sạch" dữ liệu theo Đề án 06. Tính đến hết ngày 03/4/2026, cả ngành Ngân hàng đã có hơn 153,09 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân được đối chiếu thông tin sinh trắc học; hơn 1,94 triệu hồ sơ khách hàng tổ chức đã được đối chiếu thông tin sinh trắc học.

NHNN là một trong những bộ, ngành hoàn thành sớm nhiệm vụ đồng bộ 100% cơ sở dữ liệu chuyên ngành được giao lên Trung tâm dữ liệu quốc gia theo Nghị quyết số 71/NQ-CP1. Không chỉ dừng lại ở nội bộ, NHNN còn chủ động xây dựng các giao diện lập trình ứng dụng (API) chia sẻ dữ liệu liên thông với Văn phòng Chính phủ và Kiểm toán Nhà nước qua Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP), góp phần tạo nên một hệ sinh thái dữ liệu mở và hiệu quả cho cả hệ thống chính trị.

Bên cạnh đó, công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán và các hệ thống thông tin ứng dụng nghiệp vụ ngân hàng, phòng chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng luôn được quan tâm chú trọng. Nổi bật, NHNN đã triển khai Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận trong hoạt động thanh toán (SIMO). Tính đến ngày 12/4/2026, theo báo cáo của các đơn vị sử dụng dịch vụ của hệ thống SIMO, đã có trên 3,7 triệu lượt khách hàng nhận được cảnh báo, trong đó có trên 1,2 triệu lượt khách hàng tạm dừng/hủy bỏ giao dịch sau khi nhận được cảnh báo, với tổng số tiền giao dịch là gần 4,17 nghìn tỉ đồng.

Công tác cải cách hành chính gắn liền với số hóa toàn trình cũng được đẩy mạnh để tiết giảm chi phí cho người dân và doanh nghiệp. Nhiều năm liên tục, NHNN đứng trong top dẫn đầu các bộ, ngành về chỉ số Cải cách hành chính. Theo NHNN, 100% dịch vụ công của NHNN được tích hợp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia; gần 99% hồ sơ công việc được xử lý trên môi trường số. Năm 2025, NHNN đã chính thức cung cấp thêm 32 dịch vụ công toàn trình, nâng tổng số đã cung cấp lên 57 dịch vụ, hoàn thành nhiệm vụ 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện liên quan đến doanh nghiệp được nâng cấp lên dịch vụ công toàn trình.

Ngoài ra, hưởng ứng phong trào “Bình dân học vụ số”, ngày 27/5/2025, NHNN đã tổ chức Hội nghị phát động phong trào “Cả nước thi đua đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” và “Bình dân học vụ số” ngành Ngân hàng gắn với thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Các phong trào này nhằm phổ cập tri thức và kỹ năng số, khơi dậy ý chí đổi mới trong từng cán bộ, TCTD và toàn hệ thống ngân hàng. Tinh thần chủ động cải tiến quy trình và ứng dụng công nghệ số đã lan tỏa rộng khắp, giúp toàn Ngành ghi nhận con số ấn tượng 1.484 sáng kiến, trong đó có 37 sáng kiến số được đăng ký trên Cổng Sáng kiến Khoa học và Công nghệ của Bộ Khoa học và Công nghệ.

Xác định nguồn nhân lực đóng vai trò then chốt, là yếu tố quyết định sự thành công, NHNN và các TCTD đã quan tâm, đầu tư cho nhân sự công nghệ thông tin và chuyển đổi số cả về số lượng và chất lượng. Những ngân hàng tiên phong cho chuyển đổi số đều có tỉ lệ từ 8 - 10% nhân sự công nghệ thông tin và chuyển đổi số trên tổng số lượng nhân sự của mình.

Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh trên phạm vi toàn cầu, NHNN và các TCTD đã xây dựng cơ chế hợp tác song phương, đa phương, chủ động kết nối với các tổ chức tài chính quốc tế, các đối tác công nghệ hàng đầu để trao đổi kiến thức, chuyển giao công nghệ. Việc chủ động hội nhập, hợp tác cũng giúp các ngân hàng trong nước thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao từ thị trường quốc tế, cũng như mở rộng mạng lưới hoạt động ra nước ngoài.

Bảo vệ thông tin khách hàng, an toàn hệ thống thanh toán quốc gia

Mặc dù gặt hái những thành quả nhất định, quá trình chuyển đổi số ngân hàng cũng gặp nhiều thách thức. Sự gia tăng của các cuộc tấn công mạng cùng các chiêu trò lừa đảo của tội phạm sử dụng công nghệ cao ngày càng tinh vi, phức tạp. Trong khi đó, việc bảo vệ thông tin khách hàng và đảm bảo an toàn hệ thống thanh toán quốc gia là ưu tiên số một. Chuyển đổi số không chỉ về công nghệ mà còn là sự thay đổi về nhận thức và thói quen của cả nhân viên lẫn khách hàng. Điều này phụ thuộc lớn vào quyết tâm của người đứng đầu tổ chức.

Bên cạnh đó, dữ liệu còn phân mảnh, chưa đồng bộ, thiếu kết nối. Tại nhiều ngân hàng, dữ liệu khách hàng bị chia cắt, nằm rải rác ở các hệ thống lõi, hệ thống thẻ và các kênh số khác nhau. Mỗi ngân hàng thường có mô hình dữ liệu riêng. Việc thiếu các tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất (như Open API) khiến việc kết nối giữa hệ thống ngân hàng với các công ty công nghệ tài chính (Fintech) hoặc đơn vị dịch vụ công trở nên phức tạp. Các ngân hàng phải tăng cường “hàng rào” bảo mật khi chia sẻ dữ liệu với bên thứ ba.

Việc làm sạch và chuẩn hóa dữ liệu cũ của ngân hàng để khớp với dữ liệu dân cư là một thách thức lớn về nguồn lực. Việc kết nối trực tiếp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đòi hỏi hạ tầng công nghệ hiện đại để đảm bảo xử lý hàng triệu giao dịch mỗi ngày một cách liên tục và an toàn. Đồng thời, việc chuẩn hóa và quản trị dữ liệu khách hàng cũng tiêu tốn rất nhiều nguồn lực.

Đặc biệt, trong bối cảnh hoạt động ngân hàng chịu sự tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập kinh tế quốc tế, xuất hiện những vấn đề mới, phức tạp cần được đánh giá kỹ các tác động chính sách và sự phù hợp với thực tế, cũng như liên quan đến nhiều lĩnh vực trong và ngoài Ngành có những quan điểm khác nhau, ảnh hưởng đến tiến độ của việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về lĩnh vực ngân hàng.

Chưa kể, thói quen, tâm lý sử dụng tiền mặt ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa cùng với tâm lý e ngại khi tiếp cận với công nghệ thanh toán mới, cũng như lo ngại về an ninh an toàn khi sử dụng các phương thức thanh toán điện tử, trực tuyến. Bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận người dân thiếu thông tin, chưa ý thức được đầy đủ sự quan trọng của việc bảo mật thông tin cá nhân, hậu quả của hành vi cho thuê, cho mượn, mua bán thông tin tài khoản, thẻ ngân hàng... dẫn đến tội phạm lợi dụng cho mục đích gian lận, lừa đảo, bất hợp pháp.

Thời gian tới, để hoạt động chuyển đổi số ngân hàng phát triển hơn nữa, góp phần thúc đẩy kinh tế số, xã hội số, Chính phủ số, ngành Ngân hàng tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp:

Thứ nhất, đẩy nhanh hoàn thiện thể chế: NHNN tiếp tục đẩy nhanh hoàn thiện thể chế, pháp luật mang tính đột phá, trong đó, tổ chức triển khai Nghị định số 94/2025/NĐ-CP; rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của ngành để tháo gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số toàn Ngành.

Thứ hai, phát triển hạ tầng số, nền tảng số hiện đại, bảo đảm an ninh, an toàn: Tăng cường ứng dụng công nghệ tiên tiến trong hoạt động ngân hàng để đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện hoạt động quản trị, điều hành, nghiệp vụ, đẩy nhanh quá trình ra quyết định và phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại; đầu tư mạnh mẽ vào an ninh mạng, bảo mật dữ liệu, xây dựng trung tâm giám sát an ninh mạng và năng lực ứng phó sự cố hiệu quả; chú trọng xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung toàn Ngành, phục vụ nâng cao chất lượng ra quyết định dựa trên dữ liệu.

Thứ ba, đa dạng và cá nhân hóa dịch vụ ngân hàng số, tăng trải nghiệm: Số hóa toàn diện các quy trình và sản phẩm, dịch vụ ngân hàng truyền thống; phát triển các sản phẩm, dịch vụ tài chính số mới; mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính cho đối tượng yếu thế, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Thứ tư, phát triển dữ liệu số: Phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an triển khai hiệu quả Đề án 06 tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi số ngành Ngân hàng. Đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu an toàn giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành để phát triển hệ sinh thái số thông minh, an toàn và lấy người dân làm trung tâm.

Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực, văn hóa học tập, sáng tạo: Đa dạng hóa các hình thức đào tạo, các trình độ; quyết liệt triển khai phong trào "Bình dân học vụ số"; tổ chức đào tạo chuyển đổi số, nâng cao năng lực quản trị, phân tích dữ liệu và đổi mới sáng tạo gắn với phong trào “học tập suốt đời” trong cán bộ, công chức và người lao động ngành Ngân hàng.

Thứ sáu, tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế: Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học quốc tế, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và phát triển chuyên gia theo chuẩn toàn cầu. Bên cạnh mục tiêu tiếp thu tinh hoa công nghệ của thế giới sẽ đồng thời quảng bá những sáng kiến “Make in Vietnam” của ngành Ngân hàng Việt Nam để đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của khoa học, công nghệ và tài chính số quốc tế.

Thứ bảy, xây dựng các chính sách thu hút, đãi ngộ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về công nghệ thông tin, chuyển đổi số: Tăng cường hợp tác, đẩy mạnh học hỏi nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, vận dụng hợp lý, hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn hoạt động Ngân hàng tại Việt Nam.

Thứ tám, đẩy mạnh truyền thông, giáo dục tài chính nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng cho công chúng trong sử dụng sản phẩm, dịch vụ tài chính, ngân hàng, hạn chế nguy cơ tội phạm lợi dụng dịch vụ ngân hàng cho mục đích gian lận, lừa đảo.

1 Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Tài liệu tham khảo

1. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và chuyển đổi số quốc gia.

2. Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 của Chính phủ về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng.

3. Nghị định số 368/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động.

4. Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

5. Quyết định số 1633/QĐ-NHNN ngày 31/3/2025 của Thống đốc NHNN thành lập Ban chỉ đạo và Tổ Giúp việc của ngành Ngân hàng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06.

6. Quyết định số 3579/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN phê duyệt Chiến lược chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2030.Quyết định số 3580/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN phê duyệt Chiến lược dữ liệu ngành Ngân hàng đến năm 2030”.

Hải An (NHNN)

Tin bài khác

Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết này phân tích thực trạng bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, đồng thời chỉ ra những rủi ro ngày càng gia tăng trong bối cảnh số hóa, từ đó đề xuất các giải pháp đồng bộ về pháp lý, công nghệ, nhân lực và quản lý nhằm xây dựng một hệ sinh thái ngân hàng số an toàn và bền vững.
Nâng cao hiệu quả an ninh mạng thông qua “human firewall” tại các ngân hàng Việt Nam

Nâng cao hiệu quả an ninh mạng thông qua “human firewall” tại các ngân hàng Việt Nam

Trong bối cảnh các mối đe dọa an ninh mạng ngày càng khai thác yếu tố con người, việc xây dựng “human firewall” trở thành trụ cột chiến lược giúp ngành Ngân hàng Việt Nam nâng cao năng lực phòng vệ và thích ứng với môi trường số hóa.
Đánh giá "tính tiền tệ" của Stablecoin và khuyến nghị đối với ổn định tiền tệ, tài chính

Đánh giá "tính tiền tệ" của Stablecoin và khuyến nghị đối với ổn định tiền tệ, tài chính

Bài viết phân tích “tính tiền tệ” của Stablecoin (tiền mã hóa ổn định), qua đó chỉ ra những giới hạn và hàm ý chính sách nhằm bảo đảm ổn định tiền tệ và tài chính trong kỷ nguyên số.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong dịch vụ ngân hàng số và thanh toán điện tử tại Việt Nam

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong dịch vụ ngân hàng số và thanh toán điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích những thách thức nổi bật trong bảo vệ dữ liệu cá nhân trong ngân hàng số và thanh toán điện tử tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường an toàn thông tin và củng cố niềm tin của khách hàng trong môi trường tài chính số.
Tăng cường quản trị và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng nhằm kiến tạo niềm tin số

Tăng cường quản trị và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng nhằm kiến tạo niềm tin số

Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu cá nhân ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu cao về quản trị và bảo vệ thông tin. Bài viết phân tích vai trò của dữ liệu cá nhân, các rủi ro phát sinh trong ngân hàng số và khung pháp lý hiện hành tại Việt Nam, qua đó đề xuất một số định hướng nhằm tăng cường quản trị dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư của khách hàng và củng cố niềm tin số trong hệ thống ngân hàng.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân

An ninh mạng, an ninh dữ liệu và an toàn thông tin là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời khỏi quá trình chuyển đổi số ngân hàng. Việc phát triển sản phẩm, dịch vụ số phải đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm hoạt động liên tục của các hệ thống thông tin quan trọng và quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng. Vì thế, thời gian qua, công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán và các hệ thống thông tin ứng dụng nghiệp vụ ngân hàng luôn được quan tâm chú trọng. Bên cạnh đó, ngành Ngân hàng thường xuyên phối hợp với các cơ quan chức năng nhằm tăng cường công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao.
Ứng dụng các thuật toán học sâu nâng cao năng lực phòng, chống tội phạm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Ứng dụng các thuật toán học sâu nâng cao năng lực phòng, chống tội phạm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), học sâu và các công nghệ an ninh tiên tiến, qua đó đánh giá hạ tầng bảo mật và đề xuất các giải pháp chiến lược giai đoạn 2026 - 2030 nhằm chuyển đổi sang hệ sinh thái an ninh chủ động, bảo vệ hiệu quả tài sản, con người và uy tín của hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank).
Xem thêm
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng