Pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Chính sách
Bài viết phân tích thực trạng khung pháp lý thúc đẩy Môi trường - Xã hội - Quản trị (ESG) trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị hoàn thiện chính sách nhằm tăng cường quản trị rủi ro bền vững và định hướng dòng vốn theo mục tiêu phát triển xanh.
aa

Tóm tắt: Thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng đang trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính trước rủi ro bền vững và thực hiện hóa các cam kết khí hậu của Việt Nam. Trong nhiều giải pháp, khung pháp lý đóng vai trò nền tảng trong định hướng giám sát rủi ro và thúc đẩy phân bổ dòng vốn theo hướng xanh và có trách nhiệm. Bài viết đánh giá thực trạng quy định pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng, ghi nhận những bước tiến tích cực trong thúc đẩy tín dụng xanh, công bố thông tin và tích hợp quản trị bền vững tại các ngân hàng, đồng thời chỉ ra một số hạn chế trong khung pháp lý hiện hành. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số khuyến nghị hoàn thiện khung pháp lý cũng như nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, góp phần định hình mục tiêu dài hạn, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng.

Từ khóa: Phát triển bền vững, ESG, hoàn thiện pháp luật.

LEGAL FRAMEWORK FOR PROMOTING ESG IN VIETNAMESE BANKING SECTOR:
CURRENT SITUATION AND RECOMMENDATIONS FOR IMPROVEMENT

Abstract: Promoting Environmental - Social - Governance (ESG) in the banking sector has become an urgent requirement to enhance the resilience of the financial system to sustainability-related risks and to operationalize Vietnam’s climate commitments. Among various solutions, the legal framework plays a foundational role in guiding risk supervision and promoting the allocation of capital toward green and responsible activities. This article examines the current state of legal regulations promoting ESG in the banking sector, recognizing positive progress in advancing green credit, information disclosure, and the integration of sustainable governance within banks, while also identifying several shortcomings in the existing legal framework. On that basis, the article proposes some recommendations to further refine the legal framework and enhance the effectiveness of law enforcement, thereby contributing to the formulation of long-term objectives that meet the requirements of sustainable development in the banking industry.

Keywords: Sustainable development, ESG, improvement of the legal framework.

1. Đặt vấn đề

Thuật ngữ ESG xuất hiện vào năm 2003 trong bản báo cáo của Liên hợp quốc mang tên “Who cares wins”. Đây là một bộ tiêu chuẩn để xác định các yếu tố liên quan đến phát triển bền vững và tác động của doanh nghiệp đến cộng đồng (Thủy, P.T., 2022). Bộ tiêu chuẩn ESG bao gồm: Trụ cột E - Môi trường, đánh giá trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường như quản lý tài nguyên có hiệu quả, giảm phát thải khí, ứng phó tốt với biến đổi khí hậu và khả năng sử dụng năng lượng có lợi cho môi trường. Trụ cột S - Xã hội, gồm các nội dung liên quan đến quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp, bảo đảm quyền con người, thúc đẩy bình đẳng giới cũng như đánh giá ảnh hưởng xã hội phát sinh trong toàn bộ chuỗi giá trị. Trụ cột G - Quản trị tập trung vào hệ thống quản trị doanh nghiệp, bao gồm cơ cấu tổ chức, các cơ chế giám sát và phân quyền, yêu cầu về minh bạch và công bố thông tin, đồng thời nhấn mạnh nghĩa vụ giải trình của đội ngũ lãnh đạo.

Việc đánh giá các yếu tố trong bộ tiêu chuẩn ESG dựa trên những hệ thống đo lường phổ biến như Sáng kiến Báo cáo Toàn cầu (GRI) hay các chuẩn mực của Hội đồng Tiêu chuẩn Kế toán Bền vững (SASB). Bộ tiêu chuẩn ESG đóng vai trò quan trọng, hỗ trợ nhà đầu tư cũng như các ngân hàng xây dựng giá trị bền vững không chỉ về lợi ích tài chính mà còn trên phương diện xã hội và môi trường. Ngân hàng Thế giới - WB (2020) cũng khẳng định rằng, việc lồng ghép các tiêu chí ESG vào hoạt động tín dụng là xu hướng tất yếu để bảo đảm phát triển bền vững.

Nhiều tổ chức quốc tế đã đưa ra các nguyên tắc, khung pháp lý hay hướng dẫn tích hợp ESG vào hoạt động ngân hàng như: Nguyên tắc hoạt động ngân hàng có trách nhiệm của Liên hợp quốc, nguyên tắc xích đạo của Hiệp hội Nguyên tắc xích đạo, bộ tiêu chuẩn hoạt động môi trường và xã hội của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC)... Trong bối cảnh thế giới đang phải chuyển đổi mạnh mẽ nhằm xanh hóa nền kinh tế và tiến tới Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs), hoàn thiện pháp luật về ESG trở thành một yêu cầu tất yếu đối với hệ thống tài chính và đặc biệt là trong lĩnh vực ngân hàng.

2. Thực trạng pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

2.1. Một số kết quả đạt được

Trụ cột E

Một thành tố then chốt của việc thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng là cơ chế tín dụng bền vững - ngân hàng định hướng dòng vốn tín dụng vào các mục tiêu phát triển xanh, thân thiện với môi trường. Đây chính là nội dung của tín dụng xanh, được coi là công cụ tài chính góp phần ứng phó biến đổi khí hậu, giảm phát thải và thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn. Tín dụng xanh không chỉ nâng cao trách nhiệm xã hội của ngân hàng mà còn giúp giảm thiểu rủi ro dài hạn và mở ra thị trường tài chính mới (Weber, O., và Feltmate, B., 2016).

Tại Việt Nam, ngành Ngân hàng đang thực thi nhiều biện pháp nhằm phát triển tài chính xanh. Ngày 24/3/2015, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Chỉ thị số 03/CT-NHNN về việc thúc đẩy tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường - xã hội trong hoạt động cấp tín dụng, đồng thời, nhiều ngân hàng thương mại đã thành công xây dựng chính sách tín dụng xanh, khuyến khích vốn cho các dự án xanh. Qua đó đã gặt hái một số kết quả đáng tự hào trong tiến trình thúc đẩy pháp luật ESG ở lĩnh vực ngân hàng. Tính đến tháng 12/2025, gần 60 tổ chức tín dụng (TCTD) có dư nợ tín dụng xanh, tăng mạnh so với năm 2017 là 15 TCTD. Đặc biệt, nhiều TCTD đã phát hành báo cáo ESG, nhằm thúc đẩy trách nhiệm công bố và tránh tình trạng thiếu minh bạch.

Việc thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 khẳng định dấu mốc lớn tiến trình xây dựng khung pháp lý đồng bộ cho lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Việt Nam. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã tạo nền tảng cốt lõi để hiện thực hóa các mục tiêu môi trường dài hạn, bảo đảm sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và gìn giữ hệ sinh thái; đồng thời, đóng vai trò định hướng cho hoạt động môi trường của doanh nghiệp và chiến lược phát triển bền vững quốc gia.

Trong tiến trình chuyển đổi xanh, chính sách tiền tệ, tín dụng có ý nghĩa chiến lược để tháo gỡ nguồn lực, phát triển đầu tư vào các mô hình sản xuất tuần hoàn. Ngày 07/8/2018, Thống đốc NHNN ban hành Quyết định số 1604/QĐ-NHNN phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam, tạo nên khung chính sách toàn diện cho hoạt động ngân hàng trong mục tiêu thúc đẩy bền vững, đồng thời tạo điều kiện các TCTD tích cực nghiên cứu danh mục sản phẩm tín dụng xanh, ưu tiên dự án có yếu tố xanh, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên.

Tiếp đến là Thông tư số 17/2022/TT-NHNN ngày 23/12/2022 của Thống đốc NHNN về hướng dẫn thực hiện quản lý rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã đặt ra yêu cầu cho các TCTD tăng cường công tác quản lý rủi ro môi trường trong hoạt động cấp tín dụng. Điều này không chỉ góp phần tăng cường khả năng quản trị rủi ro cho hệ thống ngân hàng, mà còn tạo ra áp lực tích cực buộc các doanh nghiệp và hợp tác xã phải nâng cao trách nhiệm môi trường nếu muốn tiếp cận nguồn vốn.

Trong tháng 5/2025, NHNN đã phối hợp với IFC xây dựng và ban hành Sổ tay hướng dẫn hệ thống quản lý rủi ro về môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng. Sổ tay nhằm hỗ trợ các TCTD trong việc lồng ghép yếu tố môi trường, xã hội vào quá trình thẩm định, ra quyết định cấp tín dụng, giúp các TCTD nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro về môi trường, xã hội, góp phần thực hiện Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh.

Ngoài ra, NHNN đã và đang phối hợp với các bộ, ngành thống nhất nội dung đề xuất định hướng chiến lược để trình Chính phủ phê duyệt Khung đối tác quốc gia Việt Nam - WB (CPF)1 giai đoạn 2025 - 2029, tập trung vào các nội dung chính như sau: (i) Tăng trưởng xanh gắn với mục tiêu phát triển cơ sở hạ tầng và các ngành kinh tế với mức phát thải khí nhà kính thấp; (ii) Phát triển đô thị bền vững gắn với ứng dụng công nghệ/kỹ thuật hiện đại; (iii) Phát triển kinh tế có tính liên kết vùng nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư công và giải quyết tốt hơn những thách thức mang tính tính hệ thống; (iv) Chuyển đổi số và phát triển nền kinh tế số.

Trụ cột S

Khác với trụ cột E trong khuôn khổ ESG vốn đã được điều chỉnh bằng các văn bản pháp luật tương đối chuyên biệt, pháp luật điều chỉnh khía cạnh xã hội trong ngành Ngân hàng ở Việt Nam hiện nay còn mang tính phân tán. Các quy định liên quan chủ yếu được lồng ghép trong nhiều luật khác nhau và giải quyết rất nhiều các vấn đề của đời sống xã hội.

Trong lĩnh vực tín dụng chính sách và tài chính toàn diện

Tại Việt Nam, vai trò của Ngân hàng Chính sách xã hội tiếp tục được củng cố trên cơ sở pháp lý vững chắc thông qua các quyết định của Thủ tướng Chính phủ liên quan đến xử lý nợ rủi ro, tiêu biểu như Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg ngày 28/7/2010 ban hành cơ chế xử lý nợ bị rủi ro tại Ngân hàng Chính sách xã hội. Văn bản này tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện cơ chế khoanh nợ, xóa nợ đối với các khoản vay của người nghèo và các đối tượng chính sách khi gặp rủi ro bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh. Cơ chế xử lý nợ rủi ro mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện rõ trụ cột xã hội trong hoạt động ngân hàng, khi không chỉ bảo đảm an sinh xã hội mà còn giúp người vay tránh rơi vào vòng xoáy nợ nần.

Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chính trị - xã hội này, Ngân hàng Chính sách xã hội được hưởng nhiều cơ chế đặc thù như không phải thực hiện dự trữ bắt buộc, không tham gia bảo hiểm tiền gửi và được miễn, giảm một số nghĩa vụ tài chính. Những ưu đãi này cho phép ngân hàng tập trung nguồn lực vào mục tiêu tài chính toàn diện, mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng chính thức cho các nhóm yếu thế trong xã hội. Ngành Ngân hàng cũng đã ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030, hướng tới thu hẹp khoảng cách giới trong tiếp cận dịch vụ tài chính và trong cơ cấu lãnh đạo ngân hàng.

Trong lĩnh vực lao động

Việt Nam đã phê chuẩn gần hết các Công ước cốt lõi của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có những nguyên tắc quan trọng liên quan đến lao động cưỡng bức, quyền tự do liên kết, chống phân biệt đối xử. Bộ luật Lao động năm 2019 là một trong những dấu mốc quan trọng trong việc củng cố trụ cột S của ESG tại Việt Nam. Bộ luật này không chỉ điều chỉnh quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động, mà còn nhấn mạnh giá trị nhân văn, công bằng, bền vững trong môi trường lao động. Đây cũng là một bước tiến lớn, cho phép thành lập tổ chức đại diện người lao động độc lập, mở ra một chương mới trong đối thoại lao động tại Việt Nam (Phước, N.H., 2025). Đặc biệt, Bộ luật quy định cụ thể về bình đẳng giới; phòng, chống quấy rối tình dục nơi làm việc, và quyền của các nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ mang thai, người khuyết tật, người lao động cao tuổi2.

Trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Luật Các TCTD năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 đã góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh quan hệ giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính - ngân hàng và khách hàng, qua đó bảo đảm sự an toàn và phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng. Luật Các TCTD năm 2024 đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc bảo đảm quyền tự do lựa chọn của khách hàng, thông qua việc nghiêm cấm gắn việc cung ứng dịch vụ ngân hàng với yêu cầu mua các sản phẩm, dịch vụ không bắt buộc, nhất là sản phẩm bảo hiểm. Đồng thời, Luật nâng cao yêu cầu minh bạch hóa thông tin, buộc các TCTD phải công khai đầy đủ và rõ ràng về lãi suất, phí, điều kiện giao dịch và các nội dung cơ bản của hợp đồng tín dụng, qua đó hạn chế bất cân xứng thông tin và phòng ngừa tranh chấp.

Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 tăng cường bảo vệ người tiêu dùng tài chính thông qua việc ghi nhận quyền được cung cấp thông tin, quyền được lựa chọn, quyền được bảo đảm an toàn về tài sản và dữ liệu cá nhân... Những quy định này góp phần bảo vệ khách hàng, đặc biệt là nhóm người tiêu dùng dễ bị tổn thương, đồng thời củng cố niềm tin xã hội và kỷ luật thị trường trong hoạt động ngân hàng.

Trụ cột G

Tại Việt Nam, trụ cột G được điều chỉnh bởi một khuôn khổ pháp lý tương đối toàn diện, chủ yếu tập trung vào vấn đề quản trị nội bộ với yếu tố then chốt như cơ cấu tổ chức doanh nghiệp, tiêu chuẩn và nghĩa vụ của các vị trí quản lý, nghĩa vụ soạn thảo, ban hành điều lệ và hệ thống kiểm soát nội bộ. Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2022, 2025) là văn bản pháp luật cơ bản trong lĩnh vực này, quy định về tổ chức và quản trị doanh nghiệp, bao gồm cơ cấu tổ chức phù hợp với các loại hình công ty, yêu cầu về trình độ chuyên môn của người quản lý, cũng như yêu cầu ban hành điều lệ công ty có nội dung cơ bản liên quan đến thông tin doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức và quản trị nội bộ.

Trong lĩnh vực ngân hàng, Luật Các TCTD năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) giải quyết những vấn đề cốt lõi về quản trị công ty trong ngân hàng bằng cách tăng cường minh bạch, kỷ luật quản trị, đặc biệt là kiểm soát quyền lực của cổ đông lớn và người quản lý. Luật siết chặt giới hạn sở hữu cổ phần, yêu cầu công khai thông tin về cổ đông và người có liên quan, qua đó hạn chế tình trạng thao túng, sở hữu chéo hay xung đột lợi ích. Đồng thời, Luật chuẩn hóa cơ cấu quản trị với trách nhiệm rõ ràng của Hội đồng quản trị, Ban điều hành và Ban kiểm soát, nâng cao vai trò giám sát nội bộ và trách nhiệm giải trình. Nhìn chung, Luật hướng tới khắc phục các “điểm yếu” truyền thống trong quản trị ngân hàng, góp phần bảo đảm an toàn hệ thống và tiệm cận các chuẩn mực quản trị công ty theo thông lệ quốc tế.

Bên cạnh đó, Luật Chứng khoán năm 2019 và Nghị định số 155/2025/NĐ-CP ngày 16/6/2025 của Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp đã minh bạch hóa việc quản trị công ty trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Các quy định này yêu cầu công ty niêm yết phải cung cấp thông tin minh bạch và báo cáo tài chính định kỳ, đồng thời đảm bảo sự minh bạch trong quản trị doanh nghiệp. Điều này giúp cải thiện tính minh bạch của thị trường chứng khoán và bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. Đồng thời, Thông tư số 96/2020/TT-BTC ngày 16/11/2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán đã yêu cầu các TCTD là công ty niêm yết phải báo cáo chính sách hoạt động bảo vệ môi trường, tác động đến môi trường, các thông tin chính sách lao động, trách nhiệm cộng đồng, cấu trúc quản lý, trách nhiệm lãnh đạo.

2.2. Một số hạn chế

Thứ nhất, về tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật

Khung pháp lý ESG tại Việt Nam đang được hoàn thiện một cách toàn diện, song vẫn thiếu một đạo luật riêng điều chỉnh, khiến việc thực thi phụ thuộc vào các văn bản chuyên ngành (Anh, L.N, 2025). Hiện nay, quy định liên quan đến ESG được phân tán trong nhiều văn bản khác nhau, cùng với các chiến lược, nghị định và thông tư hướng dẫn thuộc từng lĩnh vực riêng biệt. Tuy nhiên, các văn bản này chủ yếu được ban hành độc lập, chưa dựa trên một khung định hướng ESG tổng thể, dẫn đến sự thiếu liên kết giữa chính sách môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp. Hơn nữa, các nghĩa vụ về ESG phần lớn mới dừng lại ở mức định hướng hoặc khuyến nghị, chưa được cụ thể hóa thành quy định bắt buộc. Do đó, việc thực thi ESG tại Việt Nam vẫn được nhìn nhận như một chính sách tự nguyện hơn là nghĩa vụ pháp lý.

Thứ hai, việc công bố thông tin ESG chưa hoàn toàn mang tính bắt buộc

Điều này khiến việc giám sát thiếu tính toàn diện, không phản ánh được bức tranh ESG chung của nền kinh tế. Ngoài ra, chưa có cơ quan chuyên trách giám sát việc tuân thủ và công bố ESG, dẫn đến sự chồng chéo trong quản lý giữa các bộ, ngành. Theo khảo sát của AI Consulting (2025), 71% doanh nghiệp ở Việt Nam đang ở giai đoạn ban đầu của việc hiểu biết hoặc chưa bắt đầu tích hợp dữ liệu ESG. Ngoài ra, chỉ có 36% doanh nghiệp trải qua kiểm toán độc lập hoặc xác minh báo cáo ESG của họ, thấp hơn mức trung bình toàn cầu là 58%.

Thứ ba, Việt Nam hiện chưa có bộ tiêu chuẩn quốc gia thống nhất về báo cáo và đánh giá ESG

Các doanh nghiệp thường phải dựa vào khung hướng dẫn quốc tế như GRI, SASB…, trong khi khung nội địa như Chỉ số phát triển bền vững (VNSI) hay Bộ chỉ số Doanh nghiệp bền vững (CSI) của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) mới chỉ dừng ở giai đoạn thử nghiệm. Việc thiếu một hệ thống tiêu chí ESG quốc gia đã dẫn đến tình trạng mỗi doanh nghiệp lựa chọn một khung tiêu chuẩn khác nhau, gây khó khăn trong việc so sánh, đánh giá và kiểm chứng kết quả thực hiện ESG (Sen Vàng, 2025). Điều này không chỉ cản trở khả năng đo lường và minh bạch thông tin mà còn khiến Việt Nam gặp khó trong việc liên kết với các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng yêu cầu cao về minh chứng ESG.

Bên cạnh vấn đề pháp lý, cơ chế thực thi và giám sát các quy định ESG cũng còn hạn chế. Mặc dù Chính phủ và các bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, song phần lớn mới dừng ở cấp chính sách, chưa có hệ thống kiểm tra, giám sát và chế tài đủ mạnh để đảm bảo việc tuân thủ. Đa phần các quy định ESG hiện nay mang tính khuyến khích, chưa có cơ chế cưỡng chế rõ ràng, dẫn đến việc thực thi phụ thuộc vào cam kết tự nguyện của doanh nghiệp (Ngân, H.D., 2024).

Thứ tư, về khả năng thực thi pháp luật của doanh nghiệp

Về phía doanh nghiệp, mặc dù khái niệm ESG đã được phổ biến rộng rãi trong vài năm gần đây, nhưng đa phần doanh nghiệp vẫn chưa hiểu đúng và đầy đủ về ý nghĩa, lợi ích và phương thức tích hợp ESG vào chiến lược kinh doanh. Phần lớn doanh nghiệp vẫn xem ESG như một chi phí tuân thủ thay vì là cơ hội đầu tư, đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh. Hạn chế về nguồn lực tài chính và nhân sự cũng là nguyên nhân chính khiến việc thực hành ESG gặp khó khăn. Bên cạnh đó, các chương trình đào tạo, tư vấn và hỗ trợ doanh nghiệp về ESG tại Việt Nam còn hạn chế, chưa hình thành hệ sinh thái chuyên nghiệp, bao gồm trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức kiểm toán, chứng nhận độc lập. Nhiều ngân hàng vẫn đang ở giai đoạn học hỏi, chưa đủ năng lực nội bộ để triển khai quy trình báo cáo và giám sát ESG một cách bài bản.

3. Một số kiến nghị và giải pháp

Trên cơ sở những phân tích, đánh giá về thực trạng pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam nêu trên, nhóm tác giả đưa ra một số kiến nghị, giải pháp sau:

Thứ nhất, tập trung hoàn thiện và thống nhất khung pháp lý về ESG trong lĩnh vực ngân hàng. Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nên thống nhất hoặc ban hành một văn bản pháp lý có giá trị cao để điều chỉnh bộ tiêu chuẩn ESG trong lĩnh vực ngân hàng. Cần quy định rõ khái niệm ESG, phạm vi áp dụng, nguyên tắc đánh giá rủi ro môi trường, xã hội và yêu cầu tích hợp ESG vào các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng. Đồng thời, NHNN cần xây dựng lộ trình thực hiện ESG theo từng giai đoạn, từ tự nguyện đến bắt buộc, giúp các ngân hàng chủ động chuyển đổi, nâng cấp hệ thống dữ liệu, nhân sự và quy trình nội bộ.

Thứ hai, hoàn thiện quy định về minh bạch và công bố thông tin ESG. Các nguyên tắc công bố thông tin trong Luật Chứng khoán năm 2019, Thông tư số 96/2020/TT-BTC và các văn bản liên quan hiện nay tạo nền tảng pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm tính đầy đủ, chính xác và kịp thời của việc công bố thông tin. Tuy nhiên, để nâng cao mức độ hội nhập, Bộ Tài chính cần xem xét ban hành hoặc sửa đổi quy định theo hướng tham chiếu các chuẩn mực quốc tế. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế pháp lý khuyến khích các ngân hàng tích hợp nội dung ESG vào báo cáo thường niên và thành lập tiểu ban ESG trong cơ cấu quản trị. Một yếu tố quan trọng khác là yêu cầu kiểm toán độc lập đối với báo cáo ESG nhằm bảo đảm tính trung thực, đáng tin cậy của thông tin được công bố, đồng thời thiết lập cơ chế tiếp nhận, xử lý phản ánh và khiếu nại liên quan đến vi phạm ESG.

Thứ ba, xây dựng bộ tiêu chuẩn chung về ESG trong lĩnh vực ngân hàng. NHNN cần chủ trì nghiên cứu, tiếp thu các chuẩn mực và công ước quốc tế liên quan đến ESG để điều chỉnh phù hợp với đặc thù của hệ thống tài chính - ngân hàng trong nước. Việc chuẩn hóa các tiêu chí ESG không chỉ tạo sự đồng bộ trong triển khai mà còn hỗ trợ cơ quan quản lý trong công tác giám sát, đánh giá mức độ tuân thủ của các ngân hàng. Qua đó, các ngân hàng sẽ có cơ sở rõ ràng hơn để xây dựng kế hoạch hành động, thực hiện công bố thông tin và lập báo cáo phù hợp với yêu cầu chung. Sau khi hoàn thiện bộ tiêu chuẩn, NHNN cần ban hành hướng dẫn chi tiết về phương thức áp dụng, quy trình báo cáo và cơ chế giám sát.

Thứ tư, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật tại các ngân hàng thương mại, xuyên suốt vào hoạt động kinh doanh cốt lõi. Trên cơ sở nhận diện các vấn đề ESG trọng yếu, ngân hàng cần tập trung nguồn lực, hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro ESG và tổ chức bộ phận chuyên trách hoạt động theo khung chiến lược, mục tiêu và tiêu chuẩn ESG.

Bên cạnh đó, ngân hàng phải công khai đầy đủ, chính xác, kịp thời các chính sách, thông tin ESG. Việc tham chiếu các chuẩn mực công bố thông tin quốc tế như GRI và SASB, kết hợp dữ liệu định tính và định lượng, sẽ nâng cao tính minh bạch, hình thành cơ sở dữ liệu ESG thống nhất và hạn chế hiện tượng tẩy xanh (greenwashing). Cuối cùng, ngân hàng cần đẩy mạnh đào tạo nội bộ và nâng cao nhận thức cho khách hàng về ESG, đặc biệt trong đánh giá rủi ro môi trường - xã hội khi thẩm định tín dụng. Đồng thời, tăng cường truyền thông về chiến lược, cam kết và tiêu chí ESG, kết hợp tư vấn, hỗ trợ khách hàng nhận diện, khắc phục rủi ro, qua đó thúc đẩy phát triển bền vững trong chuỗi giá trị.

4. Kết luận

Trước diễn biến phức tạp do biến đổi khí hậu gây ra, pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam trở thành yêu cầu tất yếu của thời đại. Khung pháp luật hiện hành về ESG đã có những bước tiến đáng kể, nhưng vẫn chưa ghi nhận bộ tiêu chuẩn ESG một cách thống nhất, chưa hình thành cơ chế giám sát và chế tài xử lý vi phạm riêng về ESG, còn hạn chế trong việc bắt buộc các ngân hàng công bố thông tin theo chuẩn mực quốc tế. Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng, việc hoàn thiện pháp luật thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng là điều kiện then chốt để định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực xanh, giảm thiểu rủi ro phi tài chính và nâng cao năng lực của các ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Do đó, cần xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ, tạo ra cơ chế nhằm bảo đảm hệ thống ngân hàng vận hành theo hướng bền vững, có trách nhiệm và phù hợp với mục tiêu phát triển xanh của quốc gia.

1 Khung CPF giai đoạn 2025 - 2029 sẽ lồng ghép cam kết của WB về việc triển khai 100% các hoạt động tài trợ cho các chương trình/dự án mới phù hợp với các mục tiêu của Thỏa thuận Paris, nhằm chống lại và thích ứng với hiện tượng nóng lên toàn cầu.

2 Điều 8, Điều 135 - 140 Bộ luật Lao động năm 2019.

Tài liệu tham khảo:

1. A1 Consulting (2025), Áp dụng ESG tại Việt Nam: Thực trạng và thách thức, https://www.a1consulting.vn/blog/dx-blog9/esg-viet-nam-137

2. Đào Quỳnh (2024), ESG là gì? Thực trạng quản trị doanh nghiệp theo định hướng ESG tại Việt Nam, https://greeninvietnam.org/blogs/blog/esg

3. Demirgüç-Kunt, A., Klapper, L., Singer, D., Ansar, S., & Hess, J. (2018), The Global Findex Database 2017: Measuring financial inclusion and the fintech revolution, World Bank. 18.pdf

4. Dentons LuatViet (2025), Legal framework on ESG in Vietnam, https://www.dentonsluatviet.com/en/insights/alerts/2025/june/9/legal-framework-on-esg-in-vietnam

5. Huỳnh Diệu Ngân (2024), Hành trình ESG của Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, https://kinhtevadubao.vn/hanh-trinh-esg-cua-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap-28995.html

6. Lương Ngọc Anh (2025), ESG tại Việt Nam: Xu hướng, chính sách và triển vọng 5-10 năm tới, https://hocvienhr.com/esg-tai-viet-nam-xu-huong-chinh-sach-tuong-lai/

7. Minh Đức (2025), Hầu hết TCTD đã báo cáo và tích hợp nội dung phát triển bền vững trong báo cáo thường niên, https://thitruongtaichinhtiente.vn/hau-het-to-chuc-tin-dung-da-bao-cao-va-tich-hop-noi-dung-phat-trien-ben-vung-trong-bao-cao-thuong-nien-67806.html

8. Minh Hiền (2025), Thực thi ESG và báo cáo phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng Việt Nam: Thực trạng, thách thức và giải pháp, https://tapchinganhang.gov.vn/thuc-thi-esg-va-bao-cao-phat-trien-ben-vung-trong-nganh-ngan-hang-viet-nam-thuc-trang-thach-thuc-va-giai-phap-16427.html

9. Ngô Quảng Biên và Đỗ Thị Thùy Vân (2025), Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý ESG trong quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, https://kinhtevadubao.vn/hoan-thien-khuon-kho-phap-ly-esg-trong-quan-tri-doanh-nghiep-tai-viet-nam-31852.html

10. Nguyễn Hữu Phước (2025), ESG và việc tuân thủ lao động: Từ “nỗi ám ảnh” đến cơ hội đổi đời của doanh nghiệp Việt Nam, https://thesaigontimes.vn/esg-va-viec-tuan-thu-lao-dong-tu-noi-am-anh-den-co-hoi-doi-doi-cua-doanh-nghiep-viet-nam/

11. Nguyễn Thị Hòa (2024), Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, https://tapchinganhang.gov.vn/trien-khai-esg-trong-linh-vuc-ngan-hang-gop-phan-thuc-hien-cac-muc-tieu-phat-trien-ben-vung-10519.html

12. Sen Vàng (2025), Các khung báo cáo ESG phổ biến tại Việt Nam và hướng dẫn các bước triển khai, https://senvangdata.com.vn/cac-khung-bao-cao-esg-pho-bien-tai-viet-nam-va-huong-dan-cac-buoc-trien-khai.html

13. Tilleke & Gibbins (2024), ESG in Vietnam: Legal framework and path to compliance, https://www.tilleke.com/wp-content/uploads/2024/08/ESG_in_Vietnam_2024.pdf

14. United Nations (2015), Transforming our world: The 2030 Agenda for Sustainable Development. UN General Assembly.

15. Weber, O., & Feltmate, B. (2016), Sustainable banking: Managing the social and environmental impact of financial institutions, University of Toronto Press.

TS. Phan Đăng Hải, Lê Đức Huy
Học viện Ngân hàng

Tin bài khác

Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển ngân hàng số gắn với cơ chế cảnh báo rủi ro tại các Trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới, từ đó đề xuất định hướng xây dựng hệ sinh thái ngân hàng số an toàn, minh bạch và bền vững cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Bài viết cho rằng, trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, việc xây dựng mô hình kinh tế - tài chính hiện đại cùng với phát triển Trung tâm tài chính quốc tế sẽ mở ra cơ hội để Việt Nam tạo đột phá tăng trưởng và vươn lên trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.
Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Bài viết này xây dựng khung đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh Khu vực dựa trên mô hình Input - Process - Output - Effectiveness (IPOE), đồng thời đề xuất hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPI) nhằm lượng hóa hiệu quả giám sát theo vị trí việc làm.
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Xem thêm
Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển ngân hàng số gắn với cơ chế cảnh báo rủi ro tại các Trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới, từ đó đề xuất định hướng xây dựng hệ sinh thái ngân hàng số an toàn, minh bạch và bền vững cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Bài viết cho rằng, trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, việc xây dựng mô hình kinh tế - tài chính hiện đại cùng với phát triển Trung tâm tài chính quốc tế sẽ mở ra cơ hội để Việt Nam tạo đột phá tăng trưởng và vươn lên trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.
Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Bài viết này xây dựng khung đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh Khu vực dựa trên mô hình Input - Process - Output - Effectiveness (IPOE), đồng thời đề xuất hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPI) nhằm lượng hóa hiệu quả giám sát theo vị trí việc làm.
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng