Củng cố nền tảng tăng trưởng và sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2026

Chính sách
Bài viết này phân tích toàn diện những chuyển động lớn của nền kinh tế Việt Nam năm 2025, chỉ ra các kết quả đạt được, những hạn chế mang tính cơ cấu và các rủi ro tiềm ẩn, qua đó gợi mở các định hướng chính sách trọng tâm nhằm nâng cao nội lực, sức chống chịu và chất lượng tăng trưởng trong năm 2026.
aa

1. Mở đầu

Năm 2025 đánh dấu một giai đoạn đặc biệt trong tiến trình phát triển kinh tế của Việt Nam, khi nền kinh tế vừa bước qua chu kỳ phục hồi sau các cú sốc toàn cầu liên tiếp, vừa phải thích ứng với một môi trường kinh tế quốc tế ngày càng biến động. Trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, lạm phát hạ nhiệt nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro, xung đột địa chính trị kéo dài và xu hướng phân mảnh kinh tế gia tăng, Việt Nam tiếp tục theo đuổi mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô gắn với thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

Thực tiễn phát triển năm 2025 cho thấy, kinh tế Việt Nam đạt được nhiều kết quả tích cực, thể hiện qua tăng trưởng GDP duy trì ở mức khá, lạm phát được kiểm soát, xuất khẩu và đầu tư từng bước phục hồi. Tuy nhiên, đằng sau các kết quả đó vẫn còn những hạn chế mang tính cơ cấu như: Chất lượng tăng trưởng chưa cao, năng suất lao động cải thiện chậm, khu vực kinh tế tư nhân trong nước phát triển chưa tương xứng tiềm năng và mức độ phụ thuộc vào khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn lớn.

Bài viết này nhằm tổng hợp và phân tích một cách có hệ thống tình hình kinh tế Việt Nam năm 2025 trên cơ sở các báo cáo chính thức của Cục Thống kê và các tài liệu liên quan, đồng thời, đánh giá triển vọng kinh tế năm 2026. Khung phân tích của bài viết dựa trên cách tiếp cận tổng hợp, kết hợp giữa phân tích thực trạng vĩ mô, đánh giá cơ cấu tăng trưởng và xem xét các yếu tố thể chế - chính sách tác động đến triển vọng trung hạn. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng và khả năng chống chịu của nền kinh tế trong năm 2026.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

2. Nhìn lại toàn cảnh bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2025

2.1. Một số thành tựu nổi bật

Năm 2025 là năm cuối cùng thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2025, đồng thời, là năm diễn ra nhiều sự kiện chính trị, văn hóa trọng đại của đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những kết quả toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực.

2.1.1. Tăng trưởng kinh tế ấn tượng, vượt mục tiêu

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2025 tăng 8,02%, vượt xa mục tiêu Quốc hội đề ra và là mức tăng cao thứ hai trong giai đoạn 2011 - 2025, chỉ sau năm 2022. Đặc biệt, đà tăng trưởng được cải thiện qua các quý (quý I: 7,05%, quý II: 8,16%, quý III: 8,25%, quý IV: 8,46%), cho thấy sức bật mạnh mẽ và bền vững của nền kinh tế. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,70%, đóng góp 5,13% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,73%, đóng góp 45,80%; khu vực dịch vụ tăng 8,82%, đóng góp 49,07%.

Quy mô và thu nhập được nâng cao: GDP theo giá hiện hành đạt 514 tỉ USD (tăng 38 tỉ USD so với 2024). GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024 (4.700 USD), lần đầu tiên vượt ngưỡng 5.000 USD, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình trở thành nước thu nhập trung bình cao.

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực: Khu vực dịch vụ chiếm tỉ trọng lớn nhất (42,75%) và đóng góp trên 51% vào tăng trưởng, phản ánh xu hướng phát triển hiện đại. Khu vực công nghiệp và xây dựng giữ vững vai trò động lực với tỉ trọng 37,65% và đóng góp 43,62%. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tuy giảm tỉ trọng (còn 11,64%), nhưng vẫn đóng vai trò trụ đỡ, bảo đảm an ninh lương thực.

2.1.2. Các ngành, lĩnh vực then chốt tăng trưởng mạnh

Công nghiệp - động lực tăng trưởng hàng đầu: Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 9,2% - mức cao nhất kể từ năm 2019. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng vượt trội với mức tăng 10,5%, tiếp tục là "đầu tàu" của nền kinh tế. Các ngành công nghiệp hỗ trợ và công nghệ cao như sản xuất xe có động cơ (tăng 22%), sản phẩm điện tử, linh kiện (tăng 8,3%) ghi nhận sự tăng tốc mạnh mẽ, cho thấy sự dịch chuyển lên các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Dịch vụ - bức tranh sôi động với sự bùng nổ của du lịch: Khu vực dịch vụ tăng 8,62%, đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng GDP. Điểm sáng nổi bật là ngành du lịch phục hồi thần kỳ. Lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt kỷ lục 21,2 triệu lượt người (tăng 20,4%), lần đầu tiên vượt mốc 20 triệu. Các chính sách visa cởi mở, đa dạng hóa sản phẩm và xúc tiến quảng bá hiệu quả đã phát huy tác dụng. Doanh thu du lịch lữ hành tăng 20,2%, dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 14,6%. Hoạt động bán lẻ và tiêu dùng nội địa cũng tăng trưởng khả quan (9,2%), được hỗ trợ bởi thu nhập người dân được cải thiện và các sự kiện văn hóa, lễ hội lớn trong năm (Biểu đồ 1).

Biểu đồ 1: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành giai đoạn 2021 - 2025

Nguồn: Cục Thống kê (2026)
Nguồn: Cục Thống kê (2026)

Nông nghiệp - vững vàng trước thách thức: Mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của bão lũ và dịch tả lợn châu Phi bùng phát, ngành nông nghiệp vẫn tăng trưởng 3,78%, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực. Sản lượng lúa đạt 43,54 triệu tấn, cao nhất trong 4 năm qua. Sản xuất cây ăn quả, cây công nghiệp (cà phê, cao su, hồ tiêu) và thủy sản nuôi trồng (đặc biệt là cá tra, tôm) tiếp tục khởi sắc, vừa đáp ứng nhu cầu nội địa vừa phục vụ xuất khẩu hiệu quả.

2.1.3. Các cân đối vĩ mô lớn được giữ vững

Lạm phát được kiểm soát tốt: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm chỉ tăng 3,31%, nằm trong mục tiêu Quốc hội đề ra (< 4%). Đây là thành công lớn trong bối cảnh giá nhiên liệu, nguyên vật liệu thế giới biến động và áp lực chi phí đẩy trong nước.

Cán cân thương mại tiếp tục thặng dư: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt kỷ lục 930,05 tỉ USD (tăng 18,2%). Trong đó, xuất khẩu đạt 475,04 tỉ USD (tăng 17%), nhập khẩu đạt 455,01 tỉ USD (tăng 19,4%). Xuất siêu 20,03 tỉ USD, duy trì liên tục trong nhiều năm, khẳng định vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như điện tử, máy tính, điện thoại, dệt may, giày dép, gỗ, thủy sản đều tăng trưởng tốt.

Đầu tư toàn xã hội tăng mạnh: Tổng vốn đầu tư thực hiện tăng 12,1%, cao hơn nhiều so với năm trước, trong đó, vốn khu vực Nhà nước, chiếm 29,7% tổng vốn và tăng 19,7%; khu vực ngoài Nhà nước, chiếm 53,9% và tăng 8,4%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, chiếm 16,4% và tăng 11,7% (Biểu đồ 2). Đặc biệt, FDI thực hiện đạt 27,62 tỉ USD, tăng 9% so với năm trước, mức cao nhất trong 5 năm qua, với trọng tâm vào công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 82,8%). Điều này cho thấy sức hút mạnh mẽ của môi trường đầu tư Việt Nam.

Ngân sách nhà nước khả quan: Thu ngân sách vượt dự toán (đạt 134,7%), tăng 29,7% so với năm trước, nhờ quản lý thu hiệu quả và hoạt động sản xuất, kinh doanh phục hồi. Chi ngân sách bằng 93,2% dự toán năm và tăng 31,2% so với năm trước, được bố trí hợp lý, bảo đảm các nhiệm vụ chiến lược, an sinh xã hội và phòng chống thiên tai.

2.1.4. Đời sống xã hội được cải thiện, an sinh được bảo đảm

Thị trường lao động ổn định: Lực lượng lao động có việc làm đạt 52,4 triệu người, tăng 578,3 nghìn người. Tỉ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ở mức thấp (2,22%). Thu nhập bình quân của người lao động đạt 8,4 triệu đồng/tháng, tăng 8,9% so với năm trước.

Công tác an sinh xã hội được quan tâm: Tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều tiếp tục giảm (còn khoảng 1,3%, giảm 1,0 điểm phần trăm so với năm 2024). Các chính sách hỗ trợ người có công, đối tượng bảo trợ, hộ nghèo, hộ bị thiên tai được triển khai kịp thời. Chương trình "Cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát" đã hoàn thành vượt mốc, cải thiện đáng kể điều kiện sống của người dân.

Tiến bộ trong giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao: Kỳ thi tốt nghiệp THPT được đổi mới theo hướng giảm áp lực. Nhiều di sản của Việt Nam được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) vinh danh. Thể thao thành tích cao ghi dấu ấn với nhiều huy chương vàng tại các đấu trường khu vực và quốc tế.

2.2. Một số thách thức và hạn chế

Bên cạnh những thành tựu nêu trên, nền kinh tế Việt Nam năm 2025 vẫn đối mặt với không ít khó khăn:

Tác động của các cú sốc phi kinh tế - xã hội

Thiên tai cực đoan tiếp tục gây ra những hệ lụy nghiêm trọng đối với nền kinh tế. Mưa lũ, bão lớn tại các tỉnh miền Trung và Nam Trung Bộ đã gây thiệt hại nặng nề về người, tài sản và sản xuất nông nghiệp, với tổng giá trị ước tính lên tới gần 102.700 tỉ đồng, làm gián đoạn sinh kế và gia tăng áp lực lên ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, dịch tả lợn châu Phi bùng phát trong quý III/2025 đã gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi, ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn cung thực phẩm và mặt bằng giá cả, qua đó tác động đến ổn định kinh tế vĩ mô và đời sống người dân.

Những hạn chế nội tại và rủi ro phụ thuộc bên ngoài của nền kinh tế

Mặc dù năng suất lao động được cải thiện, đạt 9.809 USD/lao động (tăng 626 USD so với năm 2024), song vẫn còn khoảng cách đáng kể so với nhiều quốc gia trong khu vực; tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2025 dù tăng nhưng mới đạt 29,2%, phản ánh chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế. Sức chống chịu của doanh nghiệp trong nước chưa thực sự vững chắc khi số doanh nghiệp thành lập mới tăng mạnh (195,1 nghìn doanh nghiệp) nhưng số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động vẫn ở mức cao; khu vực kinh tế trong nước tiếp tục nhập siêu lớn (29,43 tỉ USD), trong khi xuất siêu chủ yếu đến từ khu vực FDI (49,46 tỉ USD). Đồng thời, nền kinh tế vẫn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu, vốn FDI và nhập khẩu nguyên liệu, máy móc, tiềm ẩn rủi ro trước các cú sốc bên ngoài như xung đột thương mại hay đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu.

3. Triển vọng và định hướng phát triển kinh tế Việt Nam năm 2026

3.1. Triển vọng nền kinh tế

Với mức tăng trưởng GDP năm 2025 tăng 8,02% - mức cao thứ hai trong giai đoạn 2011 - 2025, hàng loạt tổ chức quốc tế đã đồng loạt nâng dự báo tăng trưởng của Việt Nam cho năm 2026.

Trong báo cáo kinh tế vĩ mô về Việt Nam vừa mới được công bố, Văn phòng nghiên cứu kinh tế vĩ mô khu vực ASEAN+3 (AREO) đã nâng dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2026 sẽ đạt mức 7,6% - mức cao nhất trong khu vực ASEAN+3. Động lực tăng trưởng chính đến từ sự hồi phục toàn diện của FDI và hoạt động xuất khẩu công nghệ cao. Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ kinh tế tư nhân và nỗ lực đẩy mạnh hạ tầng chiến lược đã bắt đầu tạo ra không gian phát triển mới cho các doanh nghiệp trong nước.

Trước đó, Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên United Overseas Bank (UOB - Singapore) cũng nâng dự báo tăng trưởng năm 2026 của Việt Nam từ 7% lên 7,5% nhờ nền tảng sản xuất và xuất khẩu vững vàng cuối năm 2025. UOB nhận định, nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng vượt trội trong năm 2025, dù chịu áp lực từ thuế quan của Mỹ. Với mức tăng trưởng GDP 8,02% năm 2025, Việt Nam bước vào năm 2026 với nền tảng vững chắc.

Báo cáo Triển vọng Kinh tế Toàn cầu mới nhất của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy kinh tế toàn cầu tuy đang thể hiện khả năng chống chịu nhất định, song, vẫn đối mặt với nhiều rủi ro đáng kể trong bối cảnh căng thẳng thương mại kéo dài, xung đột địa chính trị phức tạp và mức độ bất định chính sách duy trì ở mức cao. WB dự báo tăng trưởng toàn cầu được dự báo chỉ duy trì ở mức thấp trong hai năm tới, giảm xuống 2,6% vào năm 2026 trước khi nhích nhẹ lên 2,7% vào năm 2027. Trong đó, đà tăng trưởng của các nền kinh tế đang phát triển có xu hướng chậm lại rõ rệt, chỉ đạt khoảng 4% trong năm 2026, giảm so với mức 4,2% của năm 2025, trước khi tăng nhẹ lên 4,1% vào năm 2027.

WB nhận định triển vọng tăng trưởng của Việt Nam năm 2026 được hỗ trợ bởi tiêu dùng trong nước duy trì tích cực, điều kiện tài chính thuận lợi hơn từ gia tăng xuất khẩu của một số ngành công nghệ, đặc biệt là chất bán dẫn... WB điều chỉnh dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2026 lên 6,3%, so với mức 6,1% trước đó, song, lưu ý dư địa tăng trưởng vẫn phụ thuộc lớn vào khả năng ứng phó với các cú sốc bên ngoài và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô.

Trong khi đó, Hongkong and Shanghai Banking Corporatio (HSBC) dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ đạt 6,7% trong năm 2026, lạm phát duy trì ở mức vừa phải khoảng 3,5%. Về mục tiêu tăng trưởng năm 2026 được đặt ở mức tăng trưởng ít nhất 10%, với GDP bình quân đầu người đạt từ 5.400 - 5.500 USD. HSBC lưu ý mục tiêu tăng trưởng hai chữ số này được xây dựng trên nền tảng tăng trưởng GDP cao, đạt 8% trong năm trước, do đó, đòi hỏi một “cú hích” mạnh mẽ và đồng bộ, bao gồm tăng trưởng thương mại vượt trội, đầu tư quy mô lớn và tiêu dùng trong nước duy trì ở mức cao.

3.2. Các định hướng trọng tâm

Bước sang năm 2026, năm đầu tiên của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030, Việt Nam đặt mục tiêu tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao, ổn định vĩ mô và nâng cao chất lượng tăng trưởng. Dựa trên kết quả năm 2025 và bối cảnh mới, các định hướng trọng tâm cần tập trung vào một số vấn đề sau:

Thứ nhất, tiếp tục ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao nội lực và sức cạnh tranh, trong đó duy trì sự phối hợp hiệu quả, đồng bộ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ; điều hành linh hoạt lãi suất và tỉ giá nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, nâng cao năng lực dự báo, phân tích và cảnh báo sớm các rủi ro phát sinh từ môi trường kinh tế thế giới để chủ động có phương án ứng phó phù hợp. Bên cạnh đó, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế, cải thiện thực chất môi trường đầu tư, kinh doanh, cắt giảm chi phí tuân thủ, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

Thứ hai, đột phá trong thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư, theo đó cần đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, đặc biệt là các dự án trọng điểm quốc gia về hạ tầng giao thông, năng lượng và chuyển đổi số, qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa, dẫn dắt đầu tư xã hội. Đồng thời, thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao, có chọn lọc, tập trung vào các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng xanh và kinh tế số, gắn với chuyển giao công nghệ và phát triển chuỗi giá trị trong nước. Bên cạnh đó, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho khu vực đầu tư tư nhân trong nước phát triển, từng bước hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế.

Thứ ba, đẩy mạnh tái cơ cấu công nghiệp theo hướng hiện đại, xanh và bền vững, trong đó ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp công nghệ cao nhằm nâng cao hàm lượng nội địa hóa, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu và gia tăng giá trị trong nước. Đồng thời, thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và tự động hóa trong sản xuất công nghiệp để nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước, qua đó thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ tư, đa dạng hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu, theo đó cần khai thác tối đa các lợi ích từ các hiệp định thương mại tự do đã ký kết, đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường lớn, đồng thời chủ động mở rộng sang các thị trường mới, giàu tiềm năng như Trung Đông, châu Phi và Mỹ Latinh nhằm giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống. Song song với đó, tập trung nâng cao chất lượng, hàm lượng giá trị gia tăng và xây dựng thương hiệu cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, qua đó nâng cao vị thế và sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, tăng cường năng lực theo dõi, dự báo và chủ động ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại và rào cản kỹ thuật ngày càng gia tăng từ các nước nhập khẩu.

Thứ năm, phát triển mạnh thị trường nội địa và đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, theo đó cần triển khai các chính sách kích cầu tiêu dùng trong nước một cách hiệu quả và bền vững, gắn với nâng cao thu nhập, niềm tin và sức mua của người dân. Đồng thời, tạo đột phá trong phát triển du lịch theo hướng đa dạng hóa và nâng cấp chất lượng sản phẩm, tập trung vào các loại hình có lợi thế như du lịch văn hóa, sinh thái và nghỉ dưỡng cao cấp; song song với đó là đầu tư nâng cấp hạ tầng, cải thiện chất lượng dịch vụ và đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá thương hiệu du lịch quốc gia theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, qua đó nâng cao sức cạnh tranh và đóng góp của ngành du lịch đối với tăng trưởng kinh tế.

Thứ sáu, tăng cường an sinh xã hội, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó tiếp tục hoàn thiện và triển khai hiệu quả hệ thống an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bao trùm, chú trọng hỗ trợ các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương và các khu vực thường xuyên chịu tác động của thiên tai. Đồng thời, đẩy mạnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo theo hướng phát triển năng lực, kỹ năng đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong tương lai, đặc biệt là nguồn nhân lực cho các ngành công nghệ số và kinh tế số. Bên cạnh đó, tăng cường năng lực dự báo, cảnh báo sớm và khả năng ứng phó với thiên tai, biến đổi khí hậu, gắn với thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn nhằm bảo đảm tăng trưởng bền vững trong dài hạn.

4. Kết luận

Việt Nam đã khép lại năm 2025, với một thành tích hết sức ấn tượng, khẳng định sự phục hồi mạnh mẽ và quyết tâm chính trị cao trong điều hành, quản lý kinh tế. Thành công này là kết quả sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự điều hành linh hoạt, quyết liệt của Chính phủ, sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp, người dân.

Tuy nhiên, bước vào năm 2026, hành trình phát triển vẫn còn nhiều thách thức, cả từ những điểm yếu nội tại lẫn những biến động khó lường của kinh tế thế giới. Để hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030, Việt Nam cần tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, chủ động, sáng tạo, tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp đã đề ra. Trọng tâm là nâng cao chất lượng tăng trưởng, dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời tăng cường khả năng tự chủ, thích ứng và sức chống chịu của nền kinh tế trước mọi biến động.

Với nền tảng vững chắc từ năm 2025, cùng với quyết tâm chính trị cao và sự đồng thuận xã hội, triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2026 tiếp tục được kỳ vọng sẽ duy trì được đà tăng trưởng cao, ổn định và bền vững, góp phần quan trọng vào sự phát triển thịnh vượng chung của đất nước.

Tài liệu tham khảo

1. Cục Thống kê (2026a), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025, https://www.nso.gov.vn/bai-top/2026/01/mot-so-net-chinh-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2025/

2. Cục Thống kê (2026b), Tổng quan tình hình dự báo kinh tế thế giới quý IV và năm 2025, https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/01/tong-quan-du-bao-tinh-hinh-kinh-te-the-gioi-quy-iv-va-nam-2025/

3. Vietnambiz (2026), Loạt tổ chức quốc tế điều chỉnh dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2026, https://vietnambiz.vn/loat-to-chuc-quoc-te-dieu-chinh-du-bao-tang-truong-gdp-cua-viet-nam-nam-2026-2026239436169.htm

TS. Nghiêm Văn Trọng, Nhật Trung
Trường Đại học Hòa Bình

Tin bài khác

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển ngân hàng số gắn với cơ chế cảnh báo rủi ro tại các Trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới, từ đó đề xuất định hướng xây dựng hệ sinh thái ngân hàng số an toàn, minh bạch và bền vững cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Bài viết cho rằng, trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, việc xây dựng mô hình kinh tế - tài chính hiện đại cùng với phát triển Trung tâm tài chính quốc tế sẽ mở ra cơ hội để Việt Nam tạo đột phá tăng trưởng và vươn lên trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.
Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Bài viết này xây dựng khung đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh Khu vực dựa trên mô hình Input - Process - Output - Effectiveness (IPOE), đồng thời đề xuất hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPI) nhằm lượng hóa hiệu quả giám sát theo vị trí việc làm.
Xem thêm
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam