Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2026)

Từ mùa Xuân thành lập Đảng đến hành trình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Trong tiến trình lịch sử hiện đại của dân tộc Việt Nam, ngày 3/2 luôn mang ý nghĩa chính trị - lịch sử đặc biệt sâu sắc. Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là dịp ôn lại sự kiện mang tính bước ngoặt của cách mạng nước ta mà còn là thời điểm để khẳng định vai trò lãnh đạo tất yếu của Đảng trong việc mở ra con đường phát triển đúng đắn cho dân tộc, đặt nền móng vững chắc cho những thắng lợi vẻ vang của thế kỷ XX và tiếp tục định hướng, dẫn dắt sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước trong thế kỷ XXI.
aa
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Đảng ra đời mở lối cho hành trình độc lập, tự chủ và phát triển của dân tộc Việt Nam

Sự ra đời của Đảng vào mùa Xuân năm 1930 đã chấm dứt hành trình tìm đường cứu nước đầy gian nan của dân tộc Việt Nam, xác lập vai trò lãnh đạo cách mạng và kết tinh khát vọng độc lập, tự do của toàn dân tộc dưới một ngọn cờ chung. Từ dấu mốc lịch sử ấy, Đảng từng bước xác lập cho đất nước một hệ giá trị phát triển bền vững, thấm đẫm tính nhân văn sâu sắc, trong đó có tinh thần độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; sự nghiệp giải phóng dân tộc song hành với giải phóng con người; khát vọng tự do được đặt trong lý tưởng xây dựng một xã hội công bằng, tiến bộ và văn minh. Chính trên nền tảng tư tưởng và hệ giá trị đó, vai trò lãnh đạo duy nhất, đúng đắn của Đảng ngày càng được khẳng định, tạo nên sự thống nhất cao về tư tưởng, sự đồng thuận sâu rộng về ý chí và sự thống nhất trong hành động của toàn xã hội.

Trải qua 96 năm đồng hành và lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã dẫn dắt đất nước vượt qua những thử thách khắc nghiệt của lịch sử, đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận bị áp bức, chia cắt vươn lên trở thành một quốc gia độc lập, thống nhất, từng bước khẳng định vị thế và uy tín trên trường quốc tế. Từ những thắng lợi vĩ đại trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đến công cuộc đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mỗi giai đoạn phát triển đều in đậm bản lĩnh chính trị kiên định, trí tuệ lãnh đạo sắc bén và năng lực thích ứng linh hoạt của Đảng trước những biến động nhanh chóng, phức tạp của thời đại.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng định hình tầm nhìn phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra trong bối cảnh đặc biệt có ý nghĩa, khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vừa được tổ chức thành công. Đây là sự kiện chính trị có ý nghĩa chiến lược sâu sắc, không chỉ tổng kết toàn diện một nhiệm kỳ phát triển quan trọng của đất nước mà còn xác lập những định hướng lớn, mang tính nền tảng và dài hạn, tạo cơ sở tư tưởng và chiến lược để Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới.

Đại hội đã tiến hành tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII một cách toàn diện, khách quan và khoa học; đánh giá đúng những thành tựu nổi bật đạt được, đồng thời thẳng thắn chỉ rõ những hạn chế, tồn tại, rút ra các bài học kinh nghiệm có giá trị trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó lường. Trên cơ sở đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đã thống nhất cao về tầm nhìn phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI với mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao, sở hữu nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, phát triển nhanh và bền vững.

Một trong những nội dung xuyên suốt, mang ý nghĩa nền tảng của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV là việc tiếp tục khẳng định vai trò then chốt của ổn định kinh tế vĩ mô. Đây chính là điều kiện tiên quyết nhằm hiện thực hóa các mục tiêu phát triển dài hạn của đất nước. Đại hội nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng và hiệu quả tăng trưởng; đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và tăng trưởng xanh; đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân và củng cố vững chắc niềm tin xã hội trong tiến trình phát triển.

Ngành Ngân hàng trong tiến trình hiện thực hóa đường lối phát triển đất nước của Đảng

Trong tổng thể các định hướng chiến lược phát triển đất nước của Đảng, ngành Ngân hàng được xác định giữ vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là trụ cột của hệ thống tài chính - tiền tệ quốc gia vừa là công cụ điều tiết vĩ mô then chốt của Đảng và Nhà nước trong quản lý, điều hành nền kinh tế. Thông qua việc dẫn dắt dòng vốn, ổn định thị trường tiền tệ và tín dụng, bảo đảm an toàn hệ thống, ngành Ngân hàng góp phần trực tiếp vào việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững và củng cố niềm tin của xã hội.

Nhìn lại chặng đường lịch sử, ngành Ngân hàng Việt Nam luôn gắn bó chặt chẽ với từng bước phát triển của cách mạng, đồng hành cùng những nhiệm vụ trọng đại của đất nước trong mỗi giai đoạn lịch sử. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hệ thống ngân hàng Việt Nam được xây dựng, đồng bộ và hoàn thiện. Ngành Ngân hàng giữ vai trò trung tâm trong điều hành vĩ mô, thực hiện chức năng điều tiết thị trường, định hướng dòng vốn và bảo đảm ổn định, thông suốt của nền kinh tế.

Từ những năm tháng phục vụ yêu cầu huy động nguồn lực cho kháng chiến và kiến thiết đất nước, đến giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã khẳng định vai trò là cơ quan hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia thông qua quản lý phát hành tiền, điều tiết cung tiền, tín dụng và lãi suất…, qua đó góp phần kiểm soát lạm phát, giữ vững giá trị đồng tiền và bảo đảm an toàn hệ thống.

Với khuôn khổ điều hành ngày càng hiện đại, linh hoạt và thận trọng, chính sách tiền tệ trở thành một trong những công cụ trọng yếu trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và củng cố nền tảng tăng trưởng bền vững. Cùng với điều hành vĩ mô, hệ thống các tổ chức tín dụng đã phát huy hiệu quả vai trò là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế, thực hiện chức năng trung gian tài chính, huy động và phân bổ nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh, đầu tư phát triển và bảo đảm an sinh xã hội. Việc mở rộng tín dụng theo hướng có trọng tâm, trọng điểm gắn với tăng cường quản trị rủi ro, nâng cao an toàn vốn và năng lực tài chính đã góp phần nâng cao sức chống chịu của toàn hệ thống trước những biến động trong nước và quốc tế.

Không chỉ góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, ngành Ngân hàng còn mang trách nhiệm chính trị và sứ mệnh đồng hành cùng sự nghiệp phát triển quốc gia. Việc điều hành chính sách tiền tệ luôn gắn liền với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội, qua đó củng cố niềm tin thị trường. Chính thực tiễn lịch sử ấy đã khẳng định vị thế ngày càng quan trọng của NHNN và toàn ngành Ngân hàng trong việc triển khai đường lối, chủ trương của Đảng, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Bước vào giai đoạn phát triển mới theo tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, nhiệm vụ đặt ra đối với NHNN và toàn ngành Ngân hàng không chỉ dừng lại ở việc giữ vững ổn định tiền tệ và an toàn hệ thống, mà còn là chủ động kiến tạo dư địa phát triển cho nền kinh tế trong trung và dài hạn. Chính sách tiền tệ được điều hành theo hướng chủ động, linh hoạt, thận trọng và hiệu quả, gắn kết chặt chẽ với chính sách tài khóa và các công cụ vĩ mô khác nhằm hài hòa giữa yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng trước mắt và mục tiêu ổn định, bền vững lâu dài. Trên cơ sở đó, hệ thống các tổ chức tín dụng được định hướng phát huy vai trò chuyển hóa các chủ trương, chính sách thành nguồn lực thực tiễn cho nền kinh tế.

Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục hướng dòng vốn tín dụng tập trung vào các lĩnh vực then chốt như chuyển đổi số, tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, phát triển kết cấu hạ tầng, đổi mới sáng tạo và khu vực kinh tế tư nhân… Đây là những động lực quan trọng của tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn mới. Đặc biệt, gắn phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, ngành Ngân hàng tiếp tục thúc đẩy tài chính toàn diện như một định hướng mang tính chiến lược lâu dài. Việc mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ ngân hàng an toàn, hiện đại cho người dân, doanh nghiệp, đặc biệt tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa và các nhóm yếu thế không chỉ thu hẹp khoảng cách tiếp cận tài chính mà còn góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển bao trùm để mọi chủ thể kinh tế đều có cơ hội tham gia và đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.

Trong bối cảnh đó, vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên và người lao động ngành Ngân hàng càng trở nên quan trọng. Mỗi cán bộ, đảng viên không chỉ là người thực thi chính sách mà còn là chủ thể trực tiếp chuyển hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành hiệu quả điều hành và chất lượng phục vụ nền kinh tế. Việc không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao năng lực chuyên môn, giữ vững kỷ cương, kỷ luật và đạo đức nghề nghiệp là yêu cầu xuyên suốt nhằm bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh và bền vững của toàn hệ thống.

Hướng tới năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, ngành Ngân hàng Việt Nam tiếp tục hoàn thiện vai trò điều hành kinh tế vĩ mô, dẫn dắt phân bổ hiệu quả nguồn lực tài chính cho phát triển bền vững và lan tỏa tài chính toàn diện trong nền kinh tế. Trong bối cảnh nền kinh tế tiếp tục duy trì diễn biến tích cực, ngành ngân hàng góp phần không nhỏ trong hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy đầu tư và duy trì ổn định các cân đối vĩ mô.

Theo số liệu của NHNN, tăng trưởng tín dụng tính đến cuối năm 2025 đạt 19,01% với tổng dư nợ tín dụng vượt 18,58 triệu tỉ đồng, cho thấy nguồn vốn ngân hàng tiếp tục tăng trưởng mạnh, hỗ trợ tích cực cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nhu cầu tín dụng chính đáng của nền kinh tế. Trên cơ sở này, ngành Ngân hàng tập trung nâng cao chất lượng điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động, linh hoạt, minh bạch và gắn kết chặt chẽ với chính sách tài khóa, tạo dựng nền tảng vững chắc cho ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng dài hạn. Các tổ chức tín dụng tiếp tục được củng cố theo hướng an toàn, hiệu quả và bền vững, nâng cao năng lực quản trị rủi ro để thích ứng với những biến động phức tạp của môi trường kinh tế - tài chính trong nước và quốc tế.

Cùng với đó, ngành Ngân hàng đẩy mạnh phát triển tài chính toàn diện như một trụ cột chiến lược nhằm mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng an toàn, hiện đại cho mọi thành phần kinh tế và người dân, đặc biệt ở khu vực nông thôn và vùng sâu, vùng xa. Việc thúc đẩy chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ tài chính (Fintech) và phát triển các sản phẩm, dịch vụ phù hợp sẽ góp phần thu hẹp khoảng cách tiếp cận tài chính và nâng cao hòa nhập tài chính trong xã hội.

Với tầm nhìn đến năm 2045, ngành Ngân hàng Việt Nam định hướng xây dựng một hệ thống ngân hàng hiện đại, hội nhập sâu rộng với thị trường tài chính khu vực và quốc tế, tiếp tục thực hiện hiệu quả vai trò điều tiết vĩ mô và dẫn dắt nguồn lực, góp phần quan trọng vào mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao, xã hội công bằng, văn minh và phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.

Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là dấu mốc lịch sử mang ý nghĩa chính trị sâu sắc mà còn là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân cùng lắng lại trong dòng chảy của thời gian, nhìn lại chặng đường cách mạng vẻ vang đã qua với niềm tự hào, sự tri ân và ý thức trách nhiệm trước tương lai. Từ những năm tháng gian khó của buổi đầu giành độc lập dân tộc, đến sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, thực tiễn lịch sử đã khẳng định một cách sinh động và thuyết phục tính đúng đắn của con đường cách mạng mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhân dân ta đã kiên định lựa chọn.

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển bền vững, ý nghĩa của Ngày thành lập Đảng càng được thể hiện rõ qua trách nhiệm hành động của từng ngành, từng lĩnh vực. Đối với ngành Ngân hàng, kỷ niệm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm nay mang ý nghĩa đặc biệt khi gắn liền với việc triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đặt ra những yêu cầu mới về tư duy, năng lực và bản lĩnh trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và chuyên môn. Đây là thời điểm để mỗi cán bộ, đảng viên và người lao động trong toàn Ngành tự soi rọi, tăng cường trách nhiệm, làm mới tư duy, nâng cao năng lực chuyên môn và chủ động thích ứng với những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp phát triển đất nước.

Phát huy truyền thống đồng hành cùng cách mạng, ngành Ngân hàng bước vào giai đoạn phát triển mới với quyết tâm chính trị rõ ràng, tầm nhìn dài hạn và tinh thần đổi mới mạnh mẽ; kiên định mục tiêu hiện đại hóa toàn diện, nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững của toàn hệ thống. Trên nền tảng đó, ngành Ngân hàng tiếp tục khẳng định vai trò là “huyết mạch” của nền kinh tế, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.

Với vị thế trụ cột của hệ thống tài chính - tiền tệ quốc gia, ngành Ngân hàng đồng hành cùng Đảng, Nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp trong việc khơi thông và phân bổ hiệu quả các nguồn lực cho phát triển, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tăng trưởng xanh, đồng thời lan tỏa các giá trị của tài chính toàn diện, công bằng và bao trùm. Được tôi luyện qua thực tiễn lịch sử và hun đúc bởi khát vọng cống hiến trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng Việt Nam quyết tâm tiếp tục đóng góp ngày càng thiết thực, hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc và phát triển bền vững, xứng đáng với niềm tin của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Tài liệu tham khảo

1. Cục Thống kê (2025), Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội năm 2025.

2. NHNN (2025), Báo cáo điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng năm 2025.

3. Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 22/012020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Huỳnh Tấn Lực
Giám đốc Agribank Quảng Ngãi

Tin bài khác

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng định hình sứ mệnh của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng định hình sứ mệnh của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong việc hiện thực hóa các định hướng phát triển nhanh gắn với bền vững theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng thời làm rõ những yêu cầu đổi mới thể chế, điều hành chính sách và phát triển tài chính xanh trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Nâng cao hiệu quả quản lý phát triển xã hội bền vững theo dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Nâng cao hiệu quả quản lý phát triển xã hội bền vững theo dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Quản lý phát triển xã hội thể hiện ý chí, nguyện vọng, lợi ích của toàn thể Nhân dân, của quốc gia, dân tộc, trong đó Nhà nước là chủ thể quan trọng, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp là nòng cốt, Nhân dân là chủ thể quyết định...
Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng: Bảo vệ môi trường cùng với phát triển kinh tế, xã hội là nhiệm vụ trọng tâm

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng: Bảo vệ môi trường cùng với phát triển kinh tế, xã hội là nhiệm vụ trọng tâm

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Đây là lần đầu tiên, bảo vệ môi trường được xác định là trụ cột, điều kiện, động lực của mô hình phát triển nhanh, bền vững, phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa xanh và cam kết Net Zero 2050 của Việt Nam.
Tư duy đột phá của Đảng ta trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tư duy đột phá của Đảng ta trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Nhìn tổng thể, Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới, một Đảng kiên định, đổi mới và hành động vì hạnh phúc của nhân dân, vì một Việt Nam phồn vinh, hùng cường và thịnh vượng.
Từ “thế trận lòng dân” đến “thế trận số” - Sức mạnh mới của Đảng trong kỷ nguyên số hiện nay (Kỳ 3)

Từ “thế trận lòng dân” đến “thế trận số” - Sức mạnh mới của Đảng trong kỷ nguyên số hiện nay (Kỳ 3)

Trong bối cảnh không gian mạng trở thành phần tất yếu của đời sống xã hội, việc xây dựng “thế trận số” vững chắc và chủ động làm chủ truyền thông số là yêu cầu chiến lược để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và lan tỏa các giá trị đúng đắn, tích cực trong xã hội.
Giữ vững niềm tin trước “bão” thông tin sai lệch (Kỳ 2)

Giữ vững niềm tin trước “bão” thông tin sai lệch (Kỳ 2)

Trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển bùng nổ của công nghệ, vấn đề bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đang đối diện với thách thức chưa từng có từ những “cơn bão” thông tin sai lệch, xuyên tạc trên môi trường số.
Không gian số - Mặt trận mới trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng (Kỳ 1)

Không gian số - Mặt trận mới trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng (Kỳ 1)

Trong kỷ nguyên số, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trở nên cấp thiết và mang tính chiến lược hơn, đòi hỏi tư duy đổi mới, cách tiếp cận hệ thống, gắn kết giữa “xây” và “chống”, giữa “thế trận lòng dân” và “thế trận số”.
Xây dựng nhân lực quốc gia trong kỷ nguyên số: Từ thách thức đến bứt phá (Kỳ 5)

Xây dựng nhân lực quốc gia trong kỷ nguyên số: Từ thách thức đến bứt phá (Kỳ 5)

Bài toán về nguồn nhân lực số không chỉ là thách thức cấp bách đối với ngành giáo dục, mà còn là mối trăn trở của các nhà hoạch định chính sách trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra nóng bỏng từng ngày. Để giải được bài toán này, chúng ta cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp chiến lược và tổng thể: Quy hoạch nguồn nhân lực, thúc đẩy hợp tác quốc tế, cải cách giáo dục, đổi mới khu vực công, biến doanh nghiệp thành “trường học” và vun đắp văn hóa học tập suốt đời.
Xem thêm
Đề xuất triển khai cơ chế hành lang lãi suất tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điều kiện và bước đi

Đề xuất triển khai cơ chế hành lang lãi suất tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điều kiện và bước đi

Bài viết phân tích yêu cầu đổi mới khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của Việt Nam theo thông lệ quốc tế, trên cơ sở đó đề xuất các điều kiện, lộ trình và bước đi phù hợp nhằm xây dựng và vận hành cơ chế hành lang lãi suất, tạo nền tảng cho chuyển đổi sang điều hành chính sách tiền tệ.
Chuyển đổi mô hình điều hành chính sách tiền tệ: Kinh nghiệm một số quốc gia Đông Nam Á và bài học cho Việt Nam

Chuyển đổi mô hình điều hành chính sách tiền tệ: Kinh nghiệm một số quốc gia Đông Nam Á và bài học cho Việt Nam

Bài viết đã phân tích một cách hệ thống kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và vận hành cơ chế hành lang lãi suất, nhấn mạnh vai trò của khuôn khổ pháp lý, thiết kế lãi suất và biên độ, bộ công cụ điều tiết và cơ sở hạ tầng hỗ trợ. Các kết quả phân tích cho thấy, hành lang lãi suất là một khuôn khổ linh hoạt, có khả năng thích ứng với các điều kiện thị trường khác nhau, song đòi hỏi nền tảng thể chế và kỹ thuật vững chắc để phát huy hiệu quả.
Cơ chế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực Fintech - Trường hợp của Việt Nam

Cơ chế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực Fintech - Trường hợp của Việt Nam

Bài viết này phân tích cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (gọi tắt là cơ chế thử nghiệm) trong lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech) tại Việt Nam, chỉ ra các cơ hội và rủi ro tiềm ẩn khi triển khai cơ chế thử nghiệm nhằm thúc đẩy tài chính số, qua đó đề xuất định hướng chính sách minh bạch và bền vững.
Phát triển tài chính xanh trong lĩnh vực nông nghiệp: Kết quả năm 2025 và hàm ý chính sách đối với hệ thống ngân hàng năm 2026

Phát triển tài chính xanh trong lĩnh vực nông nghiệp: Kết quả năm 2025 và hàm ý chính sách đối với hệ thống ngân hàng năm 2026

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn triển khai chuyển đổi xanh từ năm 2025, bài viết phân tích vai trò trung tâm của tài chính xanh trong nông nghiệp, với các ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vị trí chủ đạo nhằm ứng phó rủi ro khí hậu và thúc đẩy phát triển bền vững.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường

Trong bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế nhiều biến động, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã phát huy vai trò trung tâm trong điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn 2023 - 2025, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững giai đoạn 2025 - 2030.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.
Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Kết quả khảo sát năm 2025 của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) cho thấy thị trường ngoại hối toàn cầu đã sôi động trở lại từ đầu quý II/2025, với quy mô giao dịch tăng mạnh dưới tác động của bất ổn kinh tế, biến động tỉ giá USD và những điều chỉnh chiến lược phòng hộ, đầu cơ của các chủ thể tham gia thị trường.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng