Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh tri thức toàn cầu ngày càng gay gắt, kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới không chỉ là yêu cầu chiến lược nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn là nhiệm vụ then chốt để củng cố nền tảng tư tưởng, bảo vệ định hướng phát triển quốc gia và khẳng định vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
aa

Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, phát triển giáo dục hiện nay không chỉ là yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mà là bảo vệ định hướng phát triển quốc gia trước các luận điệu xuyên tạc và tăng sức đề kháng tư tưởng của xã hội. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo và Nghị quyết số 281/NQ-CP ngày 15/9/2025 của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW; cùng những chỉ đạo đầu nhiệm kỳ 2026 - 2031 của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chứng tỏ một bước chuyển rõ rệt trong giáo dục: Từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển, từ tuyên bố chủ trương sang quyết liệt thực thi. Giáo dục Việt Nam cần đổi mới mạnh mẽ, nhưng không thể bị lái chệch khỏi định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thành quả của ngành Giáo dục giai đoạn 2021 - 2025 không chỉ thể hiện qua số lượng trường lớp hay tỉ lệ nhập học, mà được phản ánh qua sự dịch chuyển của cơ cấu lao động và chất lượng nhân lực quốc gia. Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ Chính phủ lần thứ I nhiệm kỳ 2025 - 2030, tỉ lệ lao động trong nông nghiệp đã giảm từ 28,3% năm 2020 xuống khoảng 25% năm 2025; tỉ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 64,5% lên 70%; trong đó, tỉ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ tăng từ 24,1% lên khoảng 29%1. Những con số ấy cho thấy giáo dục, đào tạo và học nghề đã trực tiếp tham gia vào quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, dịch chuyển lao động từ khu vực năng suất thấp sang khu vực có giá trị gia tăng cao hơn. Nói cách khác, hiệu quả của giáo dục không còn nằm trong nhà trường mà đã đi vào cấu trúc tăng trưởng.

Bàn về giáo dục hôm nay phải vừa “xây” - vừa “chống”. “Xây” là thiết lập những kết quả thực chất, nhận diện đúng hướng đi chiến lược và củng cố niềm tin xã hội đối với công cuộc đổi mới giáo dục. “Chống” là đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, những cách nhìn phiến diện, những thông tin sai lệch cố tình bẻ cong bản chất của chính sách, hoặc tuyệt đối hóa những hiện tượng cục bộ để phủ nhận nỗ lực và thành tựu của cả hệ thống chính trị.

Giáo dục - trận địa tư tưởng quyết định vận mệnh của dân tộc

Thế giới bước sâu vào kỷ nguyên số với một nghịch lý rất rõ: Công nghệ càng hiện đại thì cuộc đấu tranh về tư tưởng, nhận thức, giá trị và niềm tin âm thầm nhưng càng quyết liệt. Các báo cáo về an ninh mạng, truyền thông chính sách và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đều minh chứng rằng không gian số đang trở thành “địa bàn” để thông tin xấu độc len sâu vào đời sống xã hội, đặc biệt nhắm tới thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên và phụ huynh. Do đó, cần nhận thức đúng và đầy đủ về giáo đục, để giáo dục được phát triển đúng tầm chiến lược và kỳ vọng của Đảng, của Nhân dân.

Nghị quyết số 71-NQ/TW đã xác lập một bước chuyển rất rõ: Từ yêu cầu “đổi mới căn bản, toàn diện” sang đòi hỏi “đột phá phát triển giáo dục và đào tạo”, đặt giáo dục vào vị trí “quốc sách hàng đầu”, “quyết định tương lai dân tộc”, đồng thời xác định giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân. Cùng tinh thần đó, Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV của Đảng tiếp tục yêu cầu phải nhận thức sâu sắc: Thực hiện xuyên suốt quan điểm giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu; xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng; đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học; đưa kỹ năng số, trí tuệ nhân tạo vào hệ thống giáo dục quốc dân; phát triển nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số2.

Đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, quan điểm này không mang tính khẩu hiệu mà có cơ sở chính trị và thực tiễn rõ ràng. Tại Lễ kỷ niệm 80 năm truyền thống ngành Giáo dục, Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ, giáo dục phải “thực sự là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt của phát triển đất nước và tương lai dân tộc”. Đồng thời, tại Hội nghị toàn quốc quán triệt các nghị quyết của Bộ Chính trị, Tổng Bí thư yêu cầu chuyển nhanh từ “ban hành chủ trương” sang “quản trị thực thi”, lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo. Những chỉ đạo này nói lên yêu cầu nhất quán: Giáo dục không thể dừng ở định hướng chính trị mang tính tuyên bố, mà phải được cụ thể hóa bằng hệ thống pháp luật, chính sách công, phân bổ nguồn lực, tổ chức thực hiện và cơ chế giám sát trách nhiệm rõ ràng.

Không có bất cứ quốc gia nào bước vào thời đại trí tuệ nhân tạo, kinh tế dữ liệu và cạnh tranh nhân lực toàn cầu mà lại xem nhẹ giáo dục. Vấn đề đặt ra là đổi mới giáo dục theo định hướng nào, phục vụ ai, nuôi dưỡng hệ giá trị nào và tạo ra mẫu hình công dân nào cho tương lai? Và ở Việt Nam, câu trả lời ấy đã được Đảng xác định rất rõ: Đó là những con người phát triển toàn diện, có năng lực số, có khát vọng cống hiến, có bản lĩnh văn hóa, có trách nhiệm công dân và đủ sức sống, học tập, lao động trong một thế giới biến động nhanh chóng.

Bởi vậy, kiên định mục tiêu phát triển giáo dục Việt Nam phải đi thẳng vào vấn đề cốt lõi: Nhận diện đúng các luận điệu xuyên tạc, phản bác bằng thực tiễn và lý lẽ, đồng thời khẳng định rõ rằng kiên định với định hướng xã hội chủ nghĩa trong giáo dục không phải là cứng nhắc, đó là lựa chọn có cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn. Trong thời đại mà thông tin giả được sản xuất với tốc độ công nghiệp, sự kiên định tỉnh táo ấy chính là khả năng phòng vệ chiến lược của quốc gia.

Bóc trần những luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch trên mặt trận giáo dục

Mẫu số chung mà các thế lực thù địch sử dụng là không đối thoại trung thực với toàn bộ chính sách và kết quả thực tiễn, mà cắt từng hiện tượng rời rạc, thổi phồng khuyết điểm, bỏ qua thành tựu, rồi từ đó quy kết bản chất. Đây chính là thủ đoạn “lấy hiện tượng thay cho bản chất, lấy sự cố thay cho xu hướng, lấy cảm xúc thay cho dữ liệu” rất điển hình trong chiến tranh thông tin thời đại số.

Thứ nhất, luận điệu cho rằng giáo dục Việt Nam “cũ kỹ, nhồi nhét chính trị, kìm hãm sáng tạo” chủ yếu đánh vào tâm lý lo lắng của phụ huynh trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu, nhưng thiếu cơ sở thực tiễn. Nghị quyết 71-NQ/TW đã xác lập tám đột phá, bao gồm chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, ngoại ngữ và hội nhập quốc tế, cho thấy định hướng mở và hiện đại. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh: Phát triển con người toàn diện, gắn đạo đức với sáng tạo và kỹ năng nghề nghiệp. Thực tiễn năm 2025, đội tuyển Olympic Trí tuệ nhân tạo quốc tế của Việt Nam đạt 100% giải và nằm trong nhóm dẫn đầu; đội tuyển Olympic Tin học quốc tế đạt 4/4 huy chương, xếp top 8 toàn đoàn… Những kết quả này phản bác trực diện nhận định về sự “lạc hậu” của giáo dục Việt Nam.

Đội tuyển quốc gia Việt Nam giành thành tích xuất sắc tại Olympic Trí tuệ nhân tạo quốc tế 2025 tại Bắc Kinh, Trung Quốc (Nguồn ảnh: Báo Văn hóa)
Đội tuyển quốc gia Việt Nam giành thành tích xuất sắc tại Olympic Trí tuệ nhân tạo quốc tế 2025 tại Bắc Kinh, Trung Quốc (Nguồn ảnh: Báo Văn hóa)

Thứ hai, quan điểm cho rằng chính sách miễn học phí chỉ mang tính hình thức đã bỏ qua cơ sở pháp lý và tài khóa rõ ràng của chính sách. Quyết định miễn học phí được cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 217/2025/QH15 ngày 26/6/2025, của Quốc hội về miễn, hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông tại các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân và Nghị định số 238/2025/NĐ-CP ngày 03/9/2025 của Chính phủ quy định về chính sách học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, kèm theo cơ chế hỗ trợ cho cả khu vực ngoài công lập. Một chính sách có thiết kế pháp lý đầy đủ và cam kết tài chính cụ thể không thể xem là “hình thức”, mà phản ánh lựa chọn chính trị thống nhất về công bằng giáo dục.

Thứ ba, luận điệu cho rằng giáo dục Việt Nam thiên về tư tưởng mà xem nhẹ kỹ năng là một sự đối lập giả tạo. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 71-NQ/TW đều xác định phát triển toàn diện con người, kết hợp giáo dục chính trị, tư tưởng với kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số và sự sáng tạo. Trên thực tế, giáo dục tư tưởng không loại trừ kỹ năng, mà cung cấp hệ giá trị định hướng cho việc áp dụng kỹ năng đó trong đời sống một cách có trách nhiệm và hiệu quả.

Thứ tư, nhận định cho rằng việc nâng đãi ngộ nhà giáo chỉ là phản ứng tình thế đã bỏ qua tính chiến lược của chính sách. Dù thực tế ngành Giáo dục đang thiếu hơn 100.000 giáo viên, Nghị quyết số 71-NQ/TW vẫn xác định phát triển đội ngũ nhà giáo là một đột phá, với việc nâng phụ cấp nghề và ưu tiên khu vực khó khăn. Đặc biệt, Luật Nhà giáo năm 2025 lần đầu tiên xác lập vị trí pháp lý riêng cho đội ngũ này, đồng thời khẳng định định hướng nâng cao thu nhập tương xứng. Điều đó càng khẳng định chính sách đãi ngộ không phải giải pháp ngắn hạn, mà là sự tái định vị vai trò nhà giáo trong chiến lược phát triển quốc gia.

Thứ năm, quan điểm cho rằng hội nhập quốc tế đòi hỏi “phi chính trị hóa giáo dục” là một lập luận sai lệch, núp dưới danh nghĩa hiện đại hóa. Nghị quyết số 71-NQ/TW và Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đều định vị hội nhập có chọn lọc, tiếp thu tinh hoa nhân loại trên nền tảng giữ vững bản sắc và định hướng xã hội chủ nghĩa. Mô hình này cho phép mở rộng tự chủ giáo dục, đồng thời bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng trong định hướng phát triển con người. Hội nhập không đồng nghĩa với hòa tan; việc duy trì nền tảng tư tưởng chính là điều kiện để giáo dục phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Mục đích chính của thế lực thù địch là làm xói mòn niềm tin vào đường lối giáo dục của Đảng, tạo sự ngờ vực đối với chính sách xã hội của Nhà nước, và từng bước tách người học khỏi nền tảng tư tưởng, khỏi ký ức lịch sử, khỏi lý tưởng phụng sự cộng đồng. Trong một số trường hợp, chúng còn lợi dụng những vụ việc học đường cụ thể để khoét sâu mâu thuẫn dân tộc, vùng miền hoặc tâm lý bất mãn. Vì thế, phản bác xuyên tạc trong giáo dục không phải là chuyện “tranh luận cho vui” trên mạng; đó là một phần của nhiệm vụ bảo vệ an ninh tư tưởng, an ninh văn hóa và thế trận lòng dân trong kỷ nguyên số.

Những “thước đo” không thể phủ nhận của chất lượng giáo dục Việt Nam

Lý lẽ thuyết phục nhất để phản bác các quan điểm xuyên tạc không nằm ở những khẳng định mang tính khẩu hiệu, mà ở hệ thống dẫn chứng khách quan và thực tiễn. Theo số liệu từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến tháng 8/2025, quy mô giáo dục Việt Nam đạt hơn 25,2 triệu người học, gần 54.000 cơ sở giáo dục và trên 1,65 triệu giáo viên, giảng viên cùng cán bộ quản lý. Hệ thống giáo dục thường xuyên trong năm học 2025 - 2026 phục vụ hơn 26 triệu lượt người học, trong khi tỉ lệ biết chữ của nhóm tuổi 15 - 60 duy trì ở mức rất cao, với trên 99% ở mức độ cơ bản và gần 98% ở mức độ nâng cao. Với quy mô lớn như vậy, việc duy trì phổ cập giáo dục, đồng thời thu hẹp chênh lệch vùng miền, trước hết phản ánh nguồn lực quản trị hệ thống và hiệu quả của chính sách công trong lĩnh vực giáo dục.

Các chỉ số của năm học 2025 - 2026 tiếp tục củng cố nhận định này. Toàn quốc có hơn 15.000 cơ sở giáo dục mầm non với gần 4,8 triệu trẻ, cùng hơn 25.700 trường phổ thông với trên 18,5 triệu học sinh. Tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025 đạt 99,25%, nói lên tính ổn định và bao phủ của hệ thống. Tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn tiếp tục tăng ở tất cả các cấp học, trong khi tỉ lệ kiên cố hóa trường lớp đạt gần 90%, góp phần cải thiện đáng kể điều kiện học tập, đặc biệt tại vùng khó khăn. Song song với đó, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác giáo dục với hơn 100 quốc gia và tổ chức quốc tế, đồng thời hoàn thiện cơ sở dữ liệu ngành với hàng chục triệu hồ sơ điện tử được số hóa.

Ở cấp độ giáo dục mũi nhọn, năm học 2025 - 2026 ghi nhận những bước tiến nổi bật, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2025 có 91 học sinh Việt Nam đạt giải tại các kỳ thi quốc tế. Đáng chú ý là việc đội tuyển Olympic Trí tuệ nhân tạo quốc tế đạt 100% giải, với ba huy chương Vàng, một huy chương Bạc, ba huy chương Đồng và một giải Khuyến khích, đồng thời nằm trong nhóm bốn quốc gia có thành tích cao nhất tại kỳ thi Olympic Trí tuệ nhân tạo quốc tế 2025 tại Bắc Kinh, Trung Quốc. Hệ thống giáo dục Việt Nam đang thích ứng nhanh chóng và phát huy thế mạnh với các lĩnh vực tri thức mới như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu và công nghệ số. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, đây là bằng chứng thực tiễn: Sự sáng tạo không bị kìm hãm, mà đang được bồi dưỡng và phát triển có định hướng.

Ở bậc đại học, tiến trình hội nhập quốc tế tiếp tục được mở rộng cả về chiều rộng và chiều sâu. Việt Nam có 25 cơ sở giáo dục đại học vào bảng xếp hạng này, trong đó có 8 trường lần đầu tiên tham gia (theo Bảng xếp hạng các trường đại học châu Á 2026 - QS AUR 2026). Một số trường có bước tiến đáng kể, như Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đạt vị trí trong nhóm 200 châu Á, hay Đại học Quốc gia Hà Nội cải thiện mạnh về uy tín học thuật và mức độ quốc tế hóa. Hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục cũng được đẩy mạnh, với hơn 2.600 chương trình đào tạo được kiểm định đến hết năm 2025, trong đó hàng trăm chương trình đạt chuẩn quốc tế.

Chuyển đổi số trong giáo dục tiếp tục là một trong những điểm nhấn quan trọng của giai đoạn 2025 - 2026. Trong năm 2025, ngành Giáo dục đã triển khai cấp hơn 10 triệu học bạ số và hơn 1,5 triệu văn bằng tốt nghiệp trung học phổ thông dưới dạng điện tử. Cơ sở dữ liệu giáo dục quốc gia tiếp tục được hoàn thiện với hàng chục triệu hồ sơ số hóa, tạo nền tảng cho quản trị giáo dục dựa trên dữ liệu. Quan trọng hơn, xu hướng chuyển đổi từ lớp học truyền thống sang hệ sinh thái giáo dục số đang hình thành rõ nét, trong khi mục tiêu công bằng và phổ cập vẫn được duy trì.

Những số liệu dẫn chứng càng trở nên có ý nghĩa hơn khi đã lan tỏa tích cực đến từng địa phương và con người cụ thể. Tại Lạng Sơn, năm học 2025 - 2026 ghi nhận việc triển khai chính sách miễn học phí gắn với ưu tiên đầu tư cho vùng biên giới và khu vực dân tộc thiểu số, góp phần mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục. Tỉnh Quảng Ninh đã kịp thời xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW với cam kết rõ ràng về chất lượng đầu ra và bình đẳng giáo dục.

Ở cấp độ cá nhân, những đổi mới trong giảng dạy cũng thể hiện rõ nét. Tại Cần Thơ, giáo viên Đỗ Thị Ngọc Duyên đã ứng dụng công nghệ thực tế ảo vào giảng dạy kỹ năng sống và giáo dục công dân số, chuyển từ phương pháp truyền đạt một chiều sang trải nghiệm tương tác. Hay học sinh Lê Kiến Thành (Gia Lai) giành huy chương Vàng Olympic Tin học quốc tế năm 2025… Giáo dục Việt Nam qua đó không dừng lại ở việc vận hành ở cấp độ chính sách mà còn trở thành cơ sở thực tiễn vững chắc nhất để phản bác các luận điệu xuyên tạc, đồng thời đặt ra xu hướng phát triển nhất quán của giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên số.

Từ chủ trương đúng đến hành động quyết liệt

Điều mấu chốt nhất trong Nghị quyết số 71-NQ/TW là không dừng ở việc nêu tinh thần chung, mà xác lập một tầm nhìn có mốc, có chỉ tiêu, có thước đo và có cơ chế thực thi. Mục tiêu, đến năm 2030, giáo dục phổ thông Việt Nam phấn đấu đạt trình độ tiên tiến trong khu vực châu Á; có 8 cơ sở giáo dục đại học trong top 200 châu Á; chỉ số phát triển con người trong giáo dục đạt khoảng 0,8 và người dân được tiếp cận giáo dục chất lượng ngày càng rộng hơn. Mốc 2035 đặt ra yêu cầu giáo dục Việt Nam bắt kịp các nước ASEAN hàng đầu trong nhiều phương diện, còn tầm nhìn 2045 hướng tới đưa Việt Nam vào nhóm 20 quốc gia có hệ thống giáo dục hàng đầu thế giới3. Có thể còn nhiều việc phải làm để biến những mốc ấy thành hiện thực, nhưng điều quan trọng là Đảng đã chọn cách nói vượt ra khỏi khẩu hiệu và hướng tới những mục tiêu cụ thể.

Sự thống nhất chiến lược càng rõ khi đặt Nghị quyết số 71-NQ/TW cạnh Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và định hướng của Đảng bộ Chính phủ. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Chính phủ nhiệm kỳ 2025 - 2030 đều xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc, đồng thời đặt ra yêu cầu phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, sáng tạo và kỹ năng số: “Xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới, trọng tâm là nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo”. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ Chính phủ cũng xác định phải thực hiện nhất quán, quyết liệt quan điểm coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu; chú trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao phục vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nói cách khác, giáo dục không còn nằm trong phạm vi ngành, mà nằm ở giao điểm của chiến lược phát triển con người, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chủ quyền số và năng lực cạnh tranh quốc gia4.

Về mặt triển khai, Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào đạo. Chương trình hành động này gồm 8 nhóm nhiệm vụ, 36 mục tiêu và 151 nhiệm vụ; phân công theo tinh thần “6 rõ”: Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả. Cụ thể hơn, Bộ Giáo dục và Đào tạo kịp thời ban hành Quyết định số 2811/QĐ-BGDĐT ngày 10/10/2025 về kế hoạch hành động, làm căn cứ để các đơn vị và địa phương xây dựng chương trình thực tiễn. Song song với đó là chuỗi văn bản pháp luật ra đời tạo ra hành lang pháp lý vững chắc, như: Nghị quyết 217/2025/QH15; Nghị định 238/2025/NĐ-CP; Luật Nhà giáo số 73/2025/QH15; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục số 123/2025/QH15 và Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 có hiệu lực ngày 01/01/2026… Đây chính là quyết tâm của cả hệ thống chính trị với mục tiêu bứt phá và phát triển bền vững giáo dục.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã đặt mục tiêu xây dựng một Chính phủ hiện đại, kiến tạo, phục vụ Nhân dân, đồng thời xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là các đột phá chiến lược, trong đó giáo dục và phát triển nguồn nhân lực giữ vai trò quan trọng và ưu tiên. Tại cuộc làm việc với Bộ Giáo dục và Đào tạo tháng 4/2026, Thủ tướng yêu cầu đồng bộ hóa chương trình, bảo đảm nguồn sách giáo khoa thống nhất, nâng cao chất lượng kỳ thi quốc gia, thúc đẩy dạy và học ngoại ngữ, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, đồng thời đẩy nhanh xây dựng cơ sở dữ liệu giáo dục và chuyển đổi số toàn ngành. Song song với đó, Chính phủ cũng thẳng thắn chỉ ra các điểm nghẽn của hệ thống, từ thiếu hụt giáo viên, chậm đổi mới cơ sở đào tạo đến hạn chế trong gắn kết với thị trường lao động, qua đó yêu cầu triển khai đồng bộ các giải pháp về nhân lực, tài chính và cơ chế tự chủ nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng làm việc với Bộ Giáo dục và Đào tạo tháng 4/2026 (Nguồn ảnh: Website Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng làm việc với Bộ Giáo dục và Đào tạo tháng 4/2026 (Nguồn ảnh: Website Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Ở cấp ngành, định hướng này được tiếp nối bằng tư duy đổi mới trong quản trị giáo dục. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị hệ sinh thái giáo dục, trong đó trọng tâm là nâng cao chất lượng thực chất, củng cố nền tảng giáo dục phổ thông và gắn đào tạo với đổi mới sáng tạo. Chính sự thống nhất giữa định hướng chiến lược, điều hành chính sách và triển khai thực tiễn đã tạo ra tiền đề quan trọng để giáo dục Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, để những định hướng đó thực sự đi vào cuộc sống, yêu cầu đặt ra không dừng lại ở việc ban hành chính sách, mà cần triển khai đồng bộ các giải pháp mang tính hệ thống nhằm nâng cao hiệu quả thực thi và phát huy tối đa vai trò của giáo dục trong phát triển quốc gia.

Giải pháp chiến lược để tiếp tục đổi mới và phát triển giáo dục trong kỷ nguyên số

Trong bối cảnh nền giáo dục Việt Nam đang chuyển đổi sâu sắc gắn với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và thích ứng với kỷ nguyên số, việc đề xuất các giải pháp không thể dừng lại ở những điều chỉnh mang tính cục bộ, mà cần được tiếp cận theo hướng hệ thống, đồng bộ và có tầm nhìn dài hạn.

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế giáo dục là điều kiện tiên quyết để bảo đảm mọi chủ trương, định hướng phát triển được triển khai hiệu quả trong thực tiễn. Hệ thống chính sách giáo dục cần tiếp tục được rà soát, điều chỉnh theo hướng đồng bộ, thống nhất và linh hoạt, phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế tri thức và xã hội số. Việc đổi mới và hoàn thiện đồng bộ hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách về phát triển giáo dục và đào tạo cần chú trọng đến hiệu quả và khả năng thực thi. Điều này đòi hỏi sự gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng chính sách và tổ chức thực hiện, trong đó trách nhiệm của các cấp quản lý phải được xác định rõ ràng, đi kèm với cơ chế giám sát và đánh giá minh bạch. Khi thể chế được hoàn thiện theo hướng hiện đại, giáo dục sẽ có điều kiện vận hành ổn định, giảm thiểu tình trạng chồng chéo, thiếu thống nhất và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Thứ hai, đổi mới phương pháp giáo dục cần được xác định là khâu đột phá để nâng cao chất lượng đào tạo. Trong nhiều năm, mô hình giáo dục truyền thống chủ yếu dựa vào việc truyền thụ kiến thức theo hướng một chiều đã bộc lộ những hạn chế nhất định, đặc biệt trong bối cảnh tri thức thay đổi nhanh chóng và yêu cầu về kỹ năng ngày càng đa dạng. Việc chuyển sang mô hình giáo dục phát triển năng lực, trong đó người học giữ vai trò trung tâm, là xu hướng tất yếu. Điều này được nâng lên thành yêu cầu đổi mới toàn diện phương pháp giảng dạy, cách thức kiểm tra, đánh giá và tổ chức hoạt động học tập. Người học cần được trang bị kỹ năng tư duy phản biện, giải quyết vấn đề và sáng tạo, thay vì chỉ ghi nhớ kiến thức. Đồng thời, việc tăng cường các hoạt động thực hành, trải nghiệm, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và gắn kết với thực tiễn sẽ giúp người học phát triển toàn diện hơn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường lao động số.

Cô giáo Nguyễn Thị Thu Hồng, Trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng (Thành phố Hải Phòng) thực hiện tiết dạy “Thiên nhiên Việt Nam” tại phòng học thông minh (Nguồn ảnh: Chuyên trang An ninh Hải Phòng)
Cô giáo Nguyễn Thị Thu Hồng, Trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng (Thành phố Hải Phòng) thực hiện tiết dạy “Thiên nhiên Việt Nam” tại phòng học thông minh (Nguồn ảnh: Chuyên trang An ninh Hải Phòng)

Thứ ba, trong kỷ nguyên số, phát triển nguồn nhân lực công nghệ trở thành một yêu cầu mang tính chiến lược, gắn trực tiếp với sức cạnh tranh quốc gia. Giáo dục cần đi trước một bước trong việc đào tạo nhân lực cho các lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, an ninh mạng và công nghệ bán dẫn. Trong một xã hội số, mọi công dân đều cần sử dụng công nghệ một cách hiệu quả và an toàn. Điều này đòi hỏi giáo dục phải tích cực trang bị kỹ năng số toàn diện và công nghệ mới vào chương trình đào tạo ở tất cả các cấp học, đồng thời xây dựng chiến lược dữ liệu và các nền tảng giáo dục số mang tính quốc gia5. Khi nguồn nhân lực có khả năng thích ứng cao với môi trường số, nền kinh tế sẽ có điều kiện để phát triển bền vững và giảm thiểu rủi ro từ những biến động công nghệ.

Thứ tư, nâng cao nền tảng quản trị giáo dục là yếu tố quyết định để các giải pháp cải cách được triển khai hiệu quả. Quản trị giáo dục trong giai đoạn mới không thể chỉ dựa vào các phương thức hành chính truyền thống, mà cần chuyển sang mô hình quản trị hiện đại, dựa trên dữ liệu và công nghệ. Việc khai thác hiệu quả hơn nữa các cơ sở dữ liệu giáo dục sẽ giúp các cơ quan quản lý có cái nhìn toàn diện, kịp thời đưa ra các quyết định phù hợp. Đồng thời, cần tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý giáo dục, bảo đảm mọi hoạt động đều được theo dõi, đánh giá một cách khách quan. Khi hệ thống quản trị được tăng cường, khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn sẽ được thu hẹp, góp phần nâng cao hiệu quả của toàn bộ hệ thống.

Thứ năm, gắn kết chặt chẽ giữa giáo dục và nhu cầu của thị trường lao động. Trong bối cảnh nền kinh tế số chuyển dịch nhanh chóng, nếu giáo dục không theo kịp nhu cầu thực tiễn, sẽ dẫn đến tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu lao động. Do đó, cần tăng cường sự phối hợp giữa cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội trong việc xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức thực tập và đánh giá kỹ năng người học; phát triển một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt trình độ tương đương với khu vực và thế giới. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời, phát triển các mô hình, phương thức, phong trào học tập theo hương đa dạng hóa, phù hợp với các đối tượng và từng địa phương. Khi giáo dục gắn với thực tiễn, người học sẽ có điều kiện phát triển kỹ năng phù hợp, đồng thời giảm thiểu tình trạng đào tạo không đáp ứng nhu cầu thị trường.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh tri thức toàn cầu ngày càng gay gắt, giáo dục Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ mang tính chiến lược: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và giữ vững định hướng phát triển quốc gia. Nếu như trước đây, thách thức chủ yếu nằm ở quy mô và mức độ tiếp cận giáo dục, thì hiện nay trọng tâm đã chuyển sang chất lượng, sự thích ứng và bản lĩnh của người học trong môi trường số hóa. Tuy nhiên, quá trình này không diễn ra trong một không gian trung tính, mà chịu tác động mạnh mẽ từ các luồng thông tin đa chiều, trong đó có không ít nhận định phiến diện hoặc sai lệch về giáo dục. Những quan điểm này thường khai thác các vấn đề cục bộ, tách rời khỏi bối cảnh tổng thể và xu hướng phát triển, từ đó tạo ra cách nhìn thiếu toàn diện, ảnh hưởng đến nhận thức xã hội. Do đó, phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay không thể chỉ nhìn nhận như bài toán chuyên môn, mà phải thực chất gắn với yêu cầu bảo đảm tính nhất quán trong nhận thức và niềm tin xã hội đối với các định hướng phát triển dài hạn.

Trên nền tảng đó, việc đổi mới giáo dục cần được triển khai theo cách tiếp cận tổng thể, trong đó các yếu tố thể chế, công nghệ, con người và quản trị được đặt trong mối quan hệ hữu cơ. Giáo dục không chỉ hướng tới đào tạo kỹ năng đáp ứng thị trường lao động, mà còn phải hình thành năng lực tư duy độc lập, và trách nhiệm công dân trong bối cảnh số. Đồng thời, quá trình này đòi hỏi sự chủ động trong việc định hướng thông tin, nâng cao khả năng nhận diện và xử lý các quan điểm sai lệch, qua đó tạo môi trường nhận thức lành mạnh cho xã hội. Khi giáo dục được đặt đúng vị trí trong chiến lược phát triển quốc gia và được triển khai trên cơ sở đổi mới, nền giáo dục quốc dân sẽ được nâng tầm trở thành động lực tăng trưởng và nền tảng bền vững của đất nước trong tương lai./.

1 Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ nhiệm kỳ 2020 - 2025 trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ Chính phủ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030.

2 Nghị quyết số 281/NQ-CP ngày 15/9/2025 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW.

3 Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

4 Quyết định số 2811/QĐ-BGDĐT ngày 10/10/2025 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết 281/NQ-CP.

5 Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Chính phủ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030.

Tài liệu tham khảo

1. Báo Điện tử Chính phủ (2025), Thủ tướng chủ trì Hội nghị tổng kết năm học 2024 - 2025, triển khai nhiệm vụ năm học 2025 - 2026. https://baochinhphu.vn/thu-tuong-chu-tri-hoi-nghi-tong-ket-nam-hoc-2024-2025-trien-khai-nhiem-vu-nam-hoc-2025-2026-102250822150833033.htm

2. Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Chính phủ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030.

3. Luật Nhà giáo số 73/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.

4. Nghị định số 238/2025/NĐ-CP ngày 3/9/2025 của Chính phủ quy định về chính sách học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo.

5. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

6. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

7. Nghị quyết số 217/2025/QH15 ngày 26/6/2025 của Quốc hội về miễn, hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông và người học chương trình giáo dục phổ thông.

8. Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Chính phủ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030.

9. Quyết định số 2811/QĐ-BGDĐT ngày 10/10/2025 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện Nghị quyết số 281/NQ-CP ngày 15/9/2025 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Nguyễn Thanh Huyền, Nguyễn Minh Thu, Trần Thị Thu Quế, Bùi Thế Long
Văn phòng Đảng ủy Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam

Tin bài khác

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người gieo mầm “Mùa xuân cách mạng”

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người gieo mầm “Mùa xuân cách mạng”

Bài viết khắc họa hành trình gieo mầm và vun trồng “Mùa xuân cách mạng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những dấu mốc lịch sử trọng đại của dân tộc, từ khởi nguồn lý tưởng cứu nước đến khát vọng phát triển trong kỷ nguyên vươn mình hôm nay.
Từ mùa Xuân thành lập Đảng đến hành trình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Từ mùa Xuân thành lập Đảng đến hành trình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình lịch sử hiện đại của dân tộc Việt Nam, ngày 3/2 luôn mang ý nghĩa chính trị - lịch sử đặc biệt sâu sắc. Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là dịp ôn lại sự kiện mang tính bước ngoặt của cách mạng nước ta mà còn là thời điểm để khẳng định vai trò lãnh đạo tất yếu của Đảng trong việc mở ra con đường phát triển đúng đắn cho dân tộc, đặt nền móng vững chắc cho những thắng lợi vẻ vang của thế kỷ XX và tiếp tục định hướng, dẫn dắt sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước trong thế kỷ XXI.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và định hướng chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn gắn với phát triển bền vững

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và định hướng chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn gắn với phát triển bền vững

Bài viết phân tích những điểm mới trong tư duy phát triển tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) về chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn, làm rõ các định hướng chiến lược và giải pháp trọng tâm nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng định hình sứ mệnh của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng định hình sứ mệnh của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong việc hiện thực hóa các định hướng phát triển nhanh gắn với bền vững theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng thời làm rõ những yêu cầu đổi mới thể chế, điều hành chính sách và phát triển tài chính xanh trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Nâng cao hiệu quả quản lý phát triển xã hội bền vững theo dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Nâng cao hiệu quả quản lý phát triển xã hội bền vững theo dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Quản lý phát triển xã hội thể hiện ý chí, nguyện vọng, lợi ích của toàn thể Nhân dân, của quốc gia, dân tộc, trong đó Nhà nước là chủ thể quan trọng, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp là nòng cốt, Nhân dân là chủ thể quyết định...
Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng: Bảo vệ môi trường cùng với phát triển kinh tế, xã hội là nhiệm vụ trọng tâm

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng: Bảo vệ môi trường cùng với phát triển kinh tế, xã hội là nhiệm vụ trọng tâm

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Đây là lần đầu tiên, bảo vệ môi trường được xác định là trụ cột, điều kiện, động lực của mô hình phát triển nhanh, bền vững, phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa xanh và cam kết Net Zero 2050 của Việt Nam.
Tư duy đột phá của Đảng ta trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tư duy đột phá của Đảng ta trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Nhìn tổng thể, Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới, một Đảng kiên định, đổi mới và hành động vì hạnh phúc của nhân dân, vì một Việt Nam phồn vinh, hùng cường và thịnh vượng.
Xem thêm
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành