Nâng cao hiệu quả hoạt động cấp tín dụng cho hộ kinh doanh tại Việt Nam

Chính sách
Các quy định hiện hành về hộ kinh doanh đã có nhiều đổi mới, tạo điều kiện cho hộ kinh doanh phát triển về quy mô và năng lực sản xuất, cung cấp các tiền đề cần thiết giúp thu hẹp khoảng cách giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp. Tuy nhiên, hộ kinh doanh vẫn đang gặp phải một số rào cản trong việc tiếp cận nguồn vốn chính thức. Để tháo gỡ những vướng mắc này cần có sự kết hợp đồng bộ từ phía cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức tín dụng (TCTD) và bản thân hộ kinh doanh. Việc triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp không chỉ giải quyết được bài toán vốn cho hộ kinh doanh mà còn thúc đẩy khu vực kinh tế này phát triển chuyên nghiệp và minh bạch hơn.
aa

Tóm tắt: Hộ kinh doanh là khu vực kinh tế vi mô giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội, đóng góp đáng kể vào GDP và ngân sách quốc gia. Tuy nhiên, khu vực này vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận tín dụng chính thức do hạn chế về tư cách pháp lý, tài sản bảo đảm và tính minh bạch tài chính. Bài viết đánh giá thực trạng cấp tín dụng cho hộ kinh doanh dựa trên các chính sách hỗ trợ của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Kết quả cho thấy, dù khung pháp lý và chính sách tín dụng ngày càng hoàn thiện, hiệu quả tiếp cận vốn của hộ kinh doanh vẫn còn hạn chế do rào cản về thông tin hay quy trình thẩm định… Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả cấp tín dụng cho hộ kinh doanh, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển bền vững khu vực này.

Từ khóa: Hộ kinh doanh, tín dụng, tài chính toàn diện.

ENHANCING THE EFFICIENCY OF CREDIT PROVISION FOR HOUSEHOLD BUSINESSES IN VIETNAM

Abstract: Household businesses represent an essential microeconomic sector that play a crucial role in promoting economic growth and social stability, contributing significantly to national GDP and state budget. However, this sector continues to face major challenges in accessing formal credit due to limitations in legal status, collateral, and financial transparency. This article examines the current situation of credit provision for household businesses in the context of supportive policies introduced by the Government and the State Bank of Vietnam. The findings indicate that although the legal framework and credit policies have been increasingly improved, access to capital remains limited because of information asymmetry and complex credit appraisal procedures. Based on these findings, the article proposes several recommendations to enhance credit efficiency for household businesses, thereby promoting financial inclusion and sustainable development of this economic sector.

Keywords: Household business, credit, financial inclusion.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Đặt vấn đề

Sau gần 40 năm đổi mới, kinh tế tư nhân nước ta đã từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khu vực kinh tế tư nhân hiện có khoảng hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, là lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội1. Có thể khẳng định, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế quốc gia.

Xét về số lượng, sự đóng góp của hộ kinh doanh đang chiếm tỉ trọng cao trong khu vực kinh tế tư nhân. Trên thực tế, các hộ kinh doanh đang đối mặt với những thách thức đáng kể trong việc tiếp cận vốn vay từ các TCTD. Do không có tư cách pháp nhân, hộ kinh doanh không thể sử dụng tài sản kinh doanh làm tài sản bảo đảm chính thức khi có nhu cầu vay vốn, các khoản vay này thường được xử lý như một khoản vay cá nhân có rủi ro cao và điều này đặc biệt hạn chế khả năng tiếp cận vốn với những hộ kinh doanh không sở hữu bất động sản hoặc tài sản cá nhân có giá trị lớn.

Bài viết này phân tích thực trạng tiếp cận và sử dụng vốn tín dụng của khu vực hộ kinh doanh tại Việt Nam trên cơ sở các chính sách tín dụng của Nhà nước. Từ kết quả phân tích, bài viết đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cấp tín dụng cho hộ kinh doanh, từ đó, thúc đẩy tài chính toàn diện và tạo điều kiện để hộ kinh doanh phát triển bền vững, đóng góp tích cực hơn vào tăng trưởng kinh tế quốc gia.

2. Tổng quan về hộ kinh doanh

2.1. Khái niệm hộ kinh doanh

Theo Điều 82 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ. Trường hợp hộ kinh doanh do các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập thì các thành viên ủy quyền bằng văn bản cho một thành viên làm người đại diện hộ kinh doanh trong quá trình hoạt động kinh doanh. Văn bản ủy quyền của các thành viên hộ gia đình cho một thành viên làm người đại diện hộ kinh doanh phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.

Cá nhân, thành viên hộ gia đình là công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật Dân sự có quyền thành lập hộ kinh doanh theo quy định tại Nghị định này, trừ các trường hợp sau đây:

- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định;

- Người không được thành lập hộ kinh doanh theo quy định của luật.

Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, kinh doanh thời vụ, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký hộ kinh doanh, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương.

2.2. Đặc điểm về chủ sở hữu và quy mô hộ kinh doanh

Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ phát sinh từ hoạt động kinh doanh của hộ, bao gồm cả tài sản cá nhân không dùng vào kinh doanh. Điều này khiến hộ kinh doanh có rủi ro pháp lý cao hơn so với công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần, nơi trách nhiệm của chủ sở hữu chỉ giới hạn trong phạm vi góp vốn.

Hơn thế nữa, hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân, điều này dẫn đến những hạn chế khi mở rộng quy mô kinh doanh, đặc biệt là trong các thị trường giao dịch lớn và hợp đồng giá trị cao. Chính vì vậy, hộ kinh doanh thường gặp khó khăn hoặc bị loại khỏi các chuỗi cung ứng và quan hệ hợp tác đòi hỏi sự minh bạch cao cùng một cấu trúc pháp lý chặt chẽ.

Ngoài ra, hộ kinh doanh được phép sử dụng lao động theo quy mô và nhu cầu kinh doanh mà không bị giới hạn về số lượng. Tuy nhiên, do đặc trưng trách nhiệm vô hạn của chủ hộ và cơ cấu tổ chức đơn giản, hộ kinh doanh vẫn chủ yếu phát triển với quy mô nhỏ. Dù vậy, hộ kinh doanh vẫn có nghĩa vụ tuân thủ đầy đủ các quy định về bảo hiểm xã hội, thuế và các nghĩa vụ tài chính khác đối với người lao động theo luật định.

3. Chính sách tín dụng cho hộ kinh doanh tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, Nhà nước luôn quan tâm thúc đẩy tài chính toàn diện, coi hộ kinh doanh là một bộ phận quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân và là đối tượng cần được tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận vốn tín dụng chính thức. Hệ thống chính sách tín dụng dành cho hộ kinh doanh đã được hoàn thiện từng bước, với nhiều văn bản pháp lý quan trọng được ban hành nhằm mở rộng khả năng tiếp cận vốn, giảm chi phí vay và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn.

Để giảm thiểu gánh nặng tài chính và mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho hộ kinh doanh, Chính phủ và NHNN đã triển khai nhiều biện pháp hỗ trợ. Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân đã nêu bật các chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh, bao gồm: Hỗ trợ tài chính, tín dụng; cung cấp miễn phí phần mềm kế toán và dịch vụ tư vấn về kế toán, thuế...

Đặc biệt, Chính phủ và NHNN đã ban hành, triển khai đồng bộ nhiều chính sách nhằm mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng của khu vực hộ kinh doanh, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển kinh tế vi mô. Một trong những chính sách quan trọng là Nghị định số 156/2025/NĐ-CP ngày 16/6/2025 của Chính phủ, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Điểm mới nổi bật của Nghị định số 156/2025/NĐ-CP là nâng hạn mức cho vay không có tài sản bảo đảm đối với hộ kinh doanh và tổ hợp tác lên đến 500 triệu đồng (khoản 6 Điều 1 Nghị định số 156/2025/NĐ-CP), thay vì 200 triệu đồng trước đây. Việc nâng hạn mức cho vay không có tài sản bảo đảm lên đến 500 triệu đồng có ý nghĩa lớn, nó thừa nhận quy mô hoạt động kinh doanh thực tế của hộ kinh doanh đã gia tăng, đồng thời tạo ra một hành lang pháp lý an toàn hơn cho các ngân hàng thực hiện cho vay tín chấp với hạn mức cao hơn. Chính sách này cũng đi kèm với việc gỡ bỏ nhiều thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân tiếp cận vốn, khuyến khích mở rộng tín dụng không cần tài sản bảo đảm.

Bên cạnh các chính sách vĩ mô, NHNN cũng ban hành các văn bản điều hành như Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 04/01/2025 của Thống đốc NHNN về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng năm 2025, trong đó nhấn mạnh yêu cầu định hướng dòng tín dụng vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, khu vực nông nghiệp - nông thôn và hộ kinh doanh cá thể, đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao.

Như vậy, chính sách điều hành của Chính phủ, NHNN trong thời gian qua đã tạo hành lang thuận lợi cho các TCTD triển khai hiệu quả các gói vay ưu đãi, giảm lãi suất và mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho hộ kinh doanh, nhất là trong bối cảnh hộ kinh doanh vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn chính thức. Đây là nền tảng quan trọng giúp khu vực này tăng trưởng ổn định, đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển bền vững và tài chính toàn diện quốc gia.

4. Đánh giá chung về tình hình tín dụng cho hộ kinh doanh tại Việt Nam

4.1. Những kết quả đạt được

Trong những năm gần đây, tín dụng đối với khu vực hộ kinh doanh có xu hướng tăng trưởng ổn định, phản ánh sự quan tâm ngày càng lớn của hệ thống ngân hàng trong việc thúc đẩy tài chính toàn diện và hỗ trợ kinh tế vi mô. Theo số liệu của NHNN, tính đến ngày 29/9/2025, tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế đạt 17,71 triệu tỉ đồng, tăng 13,37% so với cuối năm 2024. Trong đó, dư nợ tín dụng dành cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (bao gồm hộ kinh doanh) ước đạt khoảng 3,3 triệu tỉ đồng, chiếm 19,04% tổng dư nợ.

Đáng chú ý, tín dụng cho hộ kinh doanh được phân bổ chủ yếu vào các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, còn lại là cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng kết hợp sản xuất nhỏ lẻ. Các khu vực có dư nợ lớn tập trung ở Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, nơi hoạt động thương mại và sản xuất hàng hóa nhỏ diễn ra sôi động.

Đồng thời, nhiều TCTD lớn tại Việt Nam cũng đã chủ động triển khai các gói vay ưu đãi nhằm hỗ trợ cá nhân và hộ kinh doanh. Chẳng hạn, năm 2024, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) triển khai gói tín dụng ưu đãi trị giá 200.000 tỉ đồng dành cho khách hàng cá nhân và hộ kinh doanh với lãi suất ưu đãi từ 4,5%/năm, áp dụng cho cả vay ngắn hạn và trung dài hạn. Gói vay này hỗ trợ nhu cầu sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, với hạn mức tối đa 100% phương án vay vốn và thời gian cho vay lên tới 30 năm. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) triển khai nhiều gói tín dụng hỗ trợ hộ gia đình nông nghiệp, trong đó có gói tín dụng 100.000 tỉ đồng cho vay nông nghiệp - nông thôn, tập trung hỗ trợ hộ cá thể và hợp tác xã.

Như vậy, nguồn vốn tín dụng hộ kinh doanh, được định hướng thông qua các chính sách của NHNN đã mang lại nhiều tác động tích cực, thúc đẩy đầu tư và nâng cao hiệu quả sản xuất, đóng góp vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế và tạo việc làm ổn định cho một lượng lớn lao động địa phương.

4.2. Một số hạn chế

Về cơ sở pháp lý, theo Nghị định số 168/2025/NĐ-CP, pháp luật không quy định mức vốn tối thiểu hoặc tối đa khi thành lập hộ kinh doanh, do vậy pháp luật đang thiếu thông tin chính thức và minh bạch về vốn góp hoặc vốn chủ sở hữu. Mặc dù quy định này tạo ra sự linh hoạt cho hộ kinh doanh khởi nghiệp, giảm rào cản gia nhập thị trường, đồng thời đây cũng là một hạn chế trong quy trình thẩm định tín dụng. Việc thiếu thông tin chính thức và minh bạch về vốn góp hoặc vốn chủ sở hữu khiến các TCTD gặp khó khăn trong việc đánh giá mức độ minh bạch và khả năng tài chính thực tế của hộ kinh doanh. Hệ quả là, rủi ro tín dụng được nhìn nhận cao hơn, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của khu vực này.

Về phía các TCTD, thiếu cơ sơ sở dữ liệu để thẩm định hồ sơ khách hàng vay vốn. Phần lớn hộ kinh doanh hiện nay chưa có hệ thống kế toán bài bản, việc ghi chép doanh thu, chi phí, lợi nhuận chủ yếu mang tính tự phát, không được chuẩn hóa theo quy định kế toán doanh nghiệp. Hồ sơ, chứng từ tài chính thường không đầy đủ, nhiều trường hợp chỉ có hóa đơn bán lẻ, sổ tay ghi chép đơn giản hoặc thậm chí không có chứng từ xác minh dòng tiền. Sự thiếu hụt dữ liệu kế toán khiến các TCTD gặp khó khăn lớn trong quá trình thẩm định hiệu quả kinh doanh vì không có cơ sở định lượng đáng tin cậy để đánh giá các chỉ số như dòng tiền ròng hoặc tỉ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. Hệ quả là, các TCTD phải thực hiện các bước thẩm định bổ sung để ước tính khả năng trả nợ. Đồng thời, quá trình thẩm định kéo dài và phức tạp cũng làm tăng chi phí cơ hội và gián tiếp tăng chi phí vay vốn cho hộ kinh doanh.

Về phía hộ kinh doanh, các hạn chế của hộ kinh doanh chủ yếu xuất phát từ đặc điểm pháp lý và năng lực quản lý còn yếu. Hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản, không có tư cách pháp nhân… nên gặp khó khăn khi ký kết hợp đồng, huy động vốn và mở rộng quy mô. Hộ kinh doanh cũng thiếu minh bạch tài chính, sổ sách kế toán không đầy đủ khiến ngân hàng khó thẩm định hồ sơ vay vốn. Bên cạnh đó, tài sản bảo đảm chủ yếu là tài sản cá nhân, không tách bạch rõ ràng, làm thủ tục vay vốn phức tạp, kéo dài và chi phí cao. Khi rủi ro bị đánh giá lớn, TCTD áp dụng lãi suất cao và yêu cầu vốn đối ứng lớn hơn, khiến nhiều hộ kinh doanh khó tiếp cận vốn chính thức. Hệ quả là không ít hộ kinh doanh phải tìm đến nguồn vốn phi chính thức, đối mặt với rủi ro tài chính và giảm sức cạnh tranh trên thị trường.

5. Một số khuyến nghị nâng cao hiệu quả tín dụng cho hộ kinh doanh tại Việt Nam

5.1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước

Nhằm giảm thiểu gánh nặng tài chính và mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn cho khu hộ kinh doanh, Chính phủ và NHNN tiếp tục triển khai các biện pháp hỗ trợ kịp thời như chính sách hỗ trợ lãi suất để giúp hạ thấp chi phí vốn thực tế cho hộ kinh doanh, từ đó khuyến khích họ mạnh dạn đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh. Song song đó, cần khuyến khích sử nguồn lực từ quỹ bảo lãnh tín dụng để cung cấp bảo lãnh vay vốn cho các hộ kinh doanh thiếu tài sản bảo đảm nhưng có phương án kinh doanh khả thi. Một yếu tố then chốt khác trong chuỗi giải pháp là việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu về hộ kinh doanh. Việc thu thập thông tin đầy đủ và thống nhất, minh bạch về hộ kinh doanh không những là công cụ quản lý hiệu quả của Nhà nước mà còn đóng vai trò then chốt giúp các TCTD đánh giá rủi ro chính xác hơn. Cơ sở dữ liệu toàn diện này sẽ tạo điều kiện cho Nhà nước và các TCTD xây dựng, cung cấp những gói sản phẩm, dịch vụ phù hợp theo từng nhóm đối tượng hộ kinh doanh trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế.

5.2. Đối với các TCTD

Tiếp tục đổi mới quy trình thẩm định và hiện đại hóa hệ thống thông tin tín dụng, kết hợp giữa công nghệ và dữ liệu phi truyền thống để khắc phục tình trạng thiếu cơ sở dữ liệu và khó khăn trong thẩm định hồ sơ vay vốn của hộ kinh doanh. Các TCTD nên xây dựng cơ chế đánh giá tín dụng dựa trên dòng tiền và lịch sử giao dịch thực tế thay vì chỉ phụ thuộc vào hồ sơ kế toán hoặc tài sản bảo đảm. Việc khai thác dữ liệu từ tài khoản thanh toán, hóa đơn điện tử, hệ thống POS, ví điện tử, hoặc dữ liệu thuế sẽ giúp hình thành hồ sơ tín dụng thay thế (alternative credit profile), phản ánh chính xác hơn năng lực tài chính và mức độ tín nhiệm của hộ kinh doanh.

Song song đó, cần ứng dụng công nghệ phân tích dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI) và mô hình chấm điểm tín dụng vi mô để tự động hóa khâu thẩm định, rút ngắn thời gian phê duyệt và giảm thiểu rủi ro chủ quan. Bên cạnh cung cấp vốn, TCTD có thể triển khai các gói hỗ trợ chuyển đổi số cho hộ kinh doanh, bao gồm phần mềm ghi sổ kế toán điện tử, quản lý bán hàng và thanh toán trực tuyến nhằm tạo dữ liệu giao dịch minh bạch, qua đó giúp ngân hàng đánh giá khách hàng chính xác hơn trong các lần vay sau. Ngoài ra, cần tăng cường kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa TCTD với các cơ quan như cơ quan thuế, NHNN, quỹ bảo lãnh tín dụng, hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa… để tận dụng hệ sinh thái dữ liệu tín dụng hộ kinh doanh, hỗ trợ TCTD trong thẩm định và quản trị rủi ro tín dụng.

5.3. Đối với hộ kinh doanh

Để khắc phục những hạn chế xuất phát từ đặc điểm pháp lý và năng lực quản lý còn yếu, các hộ kinh doanh cần chủ động nâng cao tính minh bạch, chuyên nghiệp hóa hoạt động và tăng cường năng lực quản trị tài chính. Theo đó, hộ kinh doanh nên thiết lập hệ thống sổ sách kế toán, chứng từ thu - chi đầy đủ, chuẩn hóa theo hướng dẫn của cơ quan thuế hoặc áp dụng phần mềm kế toán điện tử đơn giản. Việc ghi chép, lưu trữ thông tin giao dịch minh bạch không chỉ giúp hộ kinh doanh quản lý tài chính hiệu quả, mà còn tạo cơ sở tin cậy để các TCTD đánh giá năng lực tài chính và phương án kinh doanh, từ đó tăng khả năng tiếp cận các khoản vay ưu đãi.

Bên cạnh đó, hộ kinh doanh cần chủ động tách bạch tài sản cá nhân và tài sản kinh doanh, từng bước hình thành cơ chế quản lý vốn rõ ràng, minh bạch. Đây là điều kiện quan trọng để giảm thiểu rủi ro pháp lý, đồng thời giúp ngân hàng xác định chính xác giá trị tài sản đảm bảo khi cấp tín dụng. Với những hộ có quy mô hoạt động ổn định, việc chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa nên được xem là bước đi chiến lược, giúp mở rộng khả năng huy động vốn, ký kết hợp đồng kinh tế lớn và được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng và đào tạo. Ngoài ra, hộ kinh doanh cần nâng cao kiến thức tài chính, kỹ năng quản trị và năng lực số, thông qua việc tham gia các chương trình tập huấn, tư vấn tài chính và đào tạo khởi sự doanh nghiệp do cơ quan quản lý, hiệp hội ngành, nghề hoặc các ngân hàng tổ chức. Việc chủ động cập nhật kiến thức về kế toán, tín dụng, thuế và chuyển đổi số sẽ giúp hộ kinh doanh vận hành hiệu quả hơn, sử dụng vốn đúng mục đích, nâng cao uy tín tín dụng và giảm phụ thuộc vào nguồn vốn phi chính thức.

6. Kết luận

Các quy định hiện hành về hộ kinh doanh đã có nhiều đổi mới, tạo điều kiện cho hộ kinh doanh phát triển về quy mô và năng lực sản xuất, cung cấp các tiền đề cần thiết giúp thu hẹp khoảng cách giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp. Tuy nhiên, hộ kinh doanh vẫn đang gặp phải một số rào cản trong việc tiếp cận nguồn vốn chính thức. Để tháo gỡ những vướng mắc này cần có sự kết hợp đồng bộ từ phía cơ quan quản lý nhà nước, TCTD và bản thân hộ kinh doanh. Việc triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp không chỉ giải quyết được bài toán vốn cho hộ kinh doanh mà còn thúc đẩy khu vực kinh tế này phát triển chuyên nghiệp và minh bạch hơn.

1 Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

Tài liệu tham khảo:

1. Báo Điện tử Chính phủ, https://baochinhphu.vn/doanh-nghiep-hop-tac-xa-ho-kinh-doanh-duoc-ho-tro-lai-suat-2-nam-102220520171854427.html

2. Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp.

3. Nghị định số 31/2022/NĐ-CP ngày 20/05/2022 của Chính phủ về hỗ trợ lãi suất từ ngân sách Nhà nước đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh.

4. Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30/06/2025 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp.

5. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

6. Nghị định số 156/2025/NĐ-CP ngày 16/6/2025 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Chính phủ.

7. Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ, https://thitruongtaichinhtiente.vn/vepr-ho-kinh-doanh-dong-gop-30-gdp-37528.html

8. Thời báo Tài chính, https://thoibaotaichinhvietnam.vn/don-gian-hoa-toi-da-che-do-ke-toan-de-ho-kinh-doanh-ke-khai-nop-thue-184300.html

9. Thời báo Tài chính, https://thoibaotaichinhvietnam.vn/78-du-no-tin-dung-di-vao-san-xuat-kinh-doanh-184417.html

Võ Hoàng Mai Trâm
Trường Đại học Kinh tế - Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh

Tin bài khác

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Bài viết phân tích những khoảng trống pháp lý trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam, trên cơ sở so sánh kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc, qua đó đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo đảm sự vận hành ổn định, minh bạch của thị trường và hạn chế rủi ro đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích khoảng trống pháp lý đối với dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam, đồng thời đề xuất khung pháp lý nhằm bảo đảm an toàn hệ thống, bảo vệ khách hàng và tạo nền tảng cho sự phát triển minh bạch của thị trường tài sản số.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Bài viết phân tích những giải pháp điều hành tín dụng chủ động, linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong năm 2025 nhằm ưu tiên nguồn vốn cho nông nghiệp, nông thôn, qua đó củng cố vai trò trụ đỡ của khu vực này đối với tăng trưởng kinh tế, xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội.
Điều hành chính sách tiền tệ tiếp tục góp phần đưa kinh tế Việt Nam trở thành điểm sáng khu vực

Điều hành chính sách tiền tệ tiếp tục góp phần đưa kinh tế Việt Nam trở thành điểm sáng khu vực

Năm 2025 là một năm đầy khó khăn, thách thức đối với điều hành kinh tế vĩ mô nói chung và công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) nói riêng. Tuy nhiên, khép lại năm 2025, bức tranh kinh tế nước ta tiếp tục là điểm sáng khi tăng trưởng GDP dẫn đầu khu vực và thuộc nhóm cao trên thế giới; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Đóng góp vào thành công đó có vai trò quan trọng của điều hành chính sách tiền tệ của NHNN.
Củng cố nền tảng tăng trưởng và sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2026

Củng cố nền tảng tăng trưởng và sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2026

Bài viết này phân tích toàn diện những chuyển động lớn của nền kinh tế Việt Nam năm 2025, chỉ ra các kết quả đạt được, những hạn chế mang tính cơ cấu và các rủi ro tiềm ẩn, qua đó gợi mở các định hướng chính sách trọng tâm nhằm nâng cao nội lực, sức chống chịu và chất lượng tăng trưởng trong năm 2026.
Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng: Khát vọng, mô hình và chiến lược thích ứng của các ngân hàng Việt Nam

Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng: Khát vọng, mô hình và chiến lược thích ứng của các ngân hàng Việt Nam

Bài viết phân tích việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng như một mô hình hệ sinh thái tài chính bậc cao, làm rõ nền tảng pháp lý đột phá, lợi thế chiến lược của Đà Nẵng và những yêu cầu thích ứng đặt ra đối với hệ thống ngân hàng trong nước trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế sâu rộng.
Xem thêm
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Bài viết phân tích những khoảng trống pháp lý trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam, trên cơ sở so sánh kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc, qua đó đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo đảm sự vận hành ổn định, minh bạch của thị trường và hạn chế rủi ro đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích khoảng trống pháp lý đối với dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam, đồng thời đề xuất khung pháp lý nhằm bảo đảm an toàn hệ thống, bảo vệ khách hàng và tạo nền tảng cho sự phát triển minh bạch của thị trường tài sản số.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Bài viết phân tích những giải pháp điều hành tín dụng chủ động, linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong năm 2025 nhằm ưu tiên nguồn vốn cho nông nghiệp, nông thôn, qua đó củng cố vai trò trụ đỡ của khu vực này đối với tăng trưởng kinh tế, xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng