Đầu tư công năm 2025: Điểm sáng và kỳ vọng cho những năm tiếp theo

Thị trường tài chính
Bài viết phân tích vai trò dẫn dắt của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế, làm rõ những điểm sáng trong giai đoạn 2021 - 2025, đặc biệt năm 2025, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả chi tiêu công phục vụ mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững.
aa

Tóm tắt: Đầu tư là một trong những động lực tăng trưởng, trong đó đầu tư công có vai trò dẫn dắt, kích hoạt đầu tư tư nhân và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và sinh kế cho người dân, qua đó nâng cao tổng vốn đầu tư toàn xã hội, thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững. Bài viết phân tích vai trò của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế qua các nghiên cứu và thực nghiệm. Nghiên cứu đã chỉ ra những điểm sáng trong đầu tư công giai đoạn 2021 - 2025, nhất là những thay đổi tích cực của đầu tư công năm 2025 như về quy mô, cơ cấu và tỉ lệ giải ngân, đồng thời đưa ra một số gợi ý chính sách nhằm cải thiện hiệu quả đầu tư công trong giai đoạn tới. Nghiên cứu này góp phần làm rõ bức tranh toàn diện về chi tiêu công ở Việt Nam, là tham khảo quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách trong việc thiết kế và điều hành chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Từ khóa: Đầu tư công, tăng trưởng kinh tế, chính sách vĩ mô, kinh tế nhà nước.

PUBLIC INVESTMENT IN 2025:
KEY HIGHLIGHTS AND PROSPECTS FOR THE COMING YEARS

Abstract: Investment is one of the key drivers of economic growth, in which public investment plays a leading role by crowding in private investment and foreign direct investment (FDI), generating strong spillover effects, stimulating production and business activities, creating jobs and livelihoods for the population, thereby increasing total social investment and promoting rapid and sustainable economic growth. This article analyzes the role of public investment in economic growth based on both theoretical studies and empirical evidence. The findings highlight notable achievements in public investment during the 2021 - 2025 period, particularly the positive developments observed in 2025 in terms of scale, structure, and disbursement rates. Thereby, the study proposes several policy recommendations aimed at improving the efficiency of public investment in the coming period. This research contributes to providing a comprehensive overview of public expenditure in Vietnam and serves as an important reference for policymakers in the design and implementation of fiscal policy to foster sustainable economic growth.

Keywords: Public investment, economic growth, macro policy, state economic.

1. Đặt vấn đề

Đầu tư công có mục đích là tạo ra các tài sản cho khu vực công, là động lực quan trọng của năng suất và phát triển (Agenor và Neanidis, 2015). Nó bao gồm các cấu phần hạ tầng như đường bộ, đường sắt, sân bay, mạng viễn thông, hệ thống năng lượng và các dịch vụ công như giáo dục, y tế, thực thi pháp luật và tiện ích công (Romp và Haan, 2007). Vì vậy, đầu tư công là một trong những chính sách phát triển kinh tế - xã hội quan trọng của bất cứ nhà nước nào, đặc biệt có ý nghĩa đối với những quốc gia đang trong giai đoạn chuyển đổi và phát triển kinh tế thị trường như Việt Nam. Tuy nhiên, việc xác định các mục tiêu và định hướng phát triển đầu tư công theo hướng nào, quy mô đến đâu là phù hợp, có đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thực tế hay không tùy thuộc rất lớn vào quyết định của các nhà hoạch định chính sách trong từng hoàn cảnh, từng thời điểm của mỗi quốc gia. Trong giai đoạn vừa qua, tái cơ cấu đầu tư công được coi là một trong ba trọng tâm, có vai trò quan trọng, là đòn bẩy và nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện cho đầu tư từ các khu vực còn lại phát huy hiệu quả cao thông qua việc xây dựng kết cấu hạ tầng, hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội. Mục tiêu của tái cơ cấu đầu tư công nhằm hoạch định chiến lược và triển khai thực hiện chiến lược đó một cách hiệu quả nhất trên cơ sở nguồn lực nhà nước bị giới hạn. Kết quả tăng trưởng cao của Việt Nam năm 2025 có phần đóng góp không nhỏ của đầu tư công.

Mục tiêu của bài viết này là phân tích vai trò đầu tư công hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Thông qua việc đánh giá thực trạng quy mô đầu tư công và phân bổ đầu tư công giai đoạn gần đây và nhất là năm 2025, bài viết chỉ ra những bài học thành công và một số vấn đề đặt ra trong việc sử dụng đầu tư công phục vụ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.

Ngoài phần dẫn nhập, bài viết sẽ bắt đầu bằng việc trình bày cơ sở lý thuyết và thực tiễn về vai trò của đầu tư công tới tăng trưởng. Phần tiếp theo sẽ phân tích thực trạng đầu tư công ở Việt Nam, sau đó là việc đánh giá kết quả thực hiện đầu tư công những năm gần đây, cuối cùng là kết luận và một số khuyến nghị chính sách.

2. Vai trò của đầu tư công tới tăng trưởng: Tổng quan lý thuyết và thực nghiệm

Mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế từ lâu đã thu hút sự quan tâm của các nhà kinh tế học, nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có sự đồng thuận, thống nhất về chiều hướng và mức độ tác động của chi tiêu công đối với tăng trưởng kinh tế. Các trường phái kinh tế khác nhau đưa ra những quan điểm và lập luận khác nhau về vấn đề này.

Theo trường phái Keynes, chi tiêu công có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Lý thuyết Keynes cho rằng, việc gia tăng chi tiêu chính phủ thông qua chính sách tài khóa mở rộng sẽ kích thích tổng cầu, thúc đẩy sản xuất, tạo việc làm và từ đó làm gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) (Romer, 1986). Ngoài ra, chi tiêu công còn có thể khuyến khích đầu tư tư nhân thông qua việc cải thiện môi trường kinh tế và cơ sở hạ tầng, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Ram, 1986; Ghali, 1998). Barro (1991) nhấn mạnh tác động đáng kể của chi tiêu công đối với tăng trưởng, chỉ rõ vai trò của nó trong việc cải thiện năng suất, nâng cao lợi suất biên của vốn và thúc đẩy các chính sách đầu tư tối đa hóa tăng trưởng. Ngược lại, các trường phái cổ điển, tân cổ điển và lý thuyết lựa chọn cho rằng, chi tiêu công có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Theo đó, chi tiêu của chính phủ làm giảm nguồn lực dành cho khu vực tư nhân, đặc biệt là đầu tư tư nhân, do hạn chế về tiết kiệm và nguồn vốn trong nền kinh tế (Lowenberg, 1990).

Bên cạnh hai quan điểm đối lập trên, một số nhà kinh tế theo hướng trung dung cho rằng mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế là phi tuyến. Theo quan điểm này, chi tiêu công chỉ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế khi nằm dưới một ngưỡng tối ưu, khi vượt quá ngưỡng này, tác động sẽ chuyển sang hướng tiêu cực (Barro, 1989). Ngoài ra, Ram (1986) còn phân biệt tác động của chi tiêu công theo loại hình chi tiêu. Theo đó, chi tiêu cho các lĩnh vực cốt lõi của chính phủ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, trong khi chi tiêu cho các lĩnh vực không cốt lõi hoặc kém hiệu quả có thể gây tác động tiêu cực.

Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế cho thấy kết quả rất đa dạng, phụ thuộc vào quốc gia nghiên cứu, giai đoạn thời gian, phương pháp ước lượng cũng như cách phân loại chi tiêu công. Nhìn chung, các nghiên cứu có thể được chia thành ba nhóm chính: (i) Chi tiêu công có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế; (ii) Chi tiêu công có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế; và (iii) Chi tiêu công không có tác động đáng kể đến tăng trưởng kinh tế.

Các nghiên cứu của Easterly và Rebelo (1993), Barro (1999) về yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia cho thấy, chi tiêu đầu tư công, đặc biệt trong các lĩnh vực giao thông, truyền thông và cơ sở hạ tầng có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Yasin (2000), Bose và cộng sự (2007), Kimaro và cộng sự (2017) cũng tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Phi cận Sahara.

Trái với các kết quả trên, nhiều nghiên cứu khác lại cho rằng chi tiêu công có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, đặc biệt khi chi tiêu vượt quá mức tối ưu hoặc phân bổ kém hiệu quả. Devarajan và cộng sự (1996) phát hiện rằng, chi tiêu công có thể gây tác động tiêu cực nếu được sử dụng quá mức, khiến các khoản chi tiêu vốn được coi là có tính sản xuất trở nên kém hiệu quả. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu đều cho rằng cơ cấu chi tiêu có vai trò quan trọng với tăng trưởng và chi thường xuyên tăng nhanh sẽ có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế như nghiên cứu cho trường hợp Thổ Nhĩ Kỳ (Taban, 2010), Nigeria (Nurudeen và Usman, 2010) và Malaysia (Hasnul, 2015). Nghiên cứu của Sáez và cộng sự (2017) cũng cho thấy, quy mô chi tiêu công cao có xu hướng làm suy giảm tăng trưởng kinh tế tại nhiều quốc gia.

Từ các bằng chứng thực nghiệm được tổng hợp, có thể nhận thấy phần lớn các nghiên cứu ủng hộ quan điểm cho rằng chi tiêu công có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, đặc biệt khi chi tiêu được phân bổ vào các lĩnh vực mang tính sản xuất như đầu tư công, cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế, giao thông và truyền thông. Những kết quả này phù hợp với lập luận của trường phái Keynes, nhấn mạnh vai trò kích thích tổng cầu và thúc đẩy sản xuất của chi tiêu chính phủ.

Tuy nhiên, tác động của chi tiêu công không mang tính đồng nhất mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm: Cơ cấu chi tiêu, mức độ hiệu quả trong quản lý ngân sách, bối cảnh thể chế, trình độ phát triển kinh tế, cũng như phương pháp và dữ liệu được sử dụng trong từng nghiên cứu. Một số nghiên cứu cho thấy chi tiêu công có thể gây tác động tiêu cực hoặc không đáng kể đến tăng trưởng kinh tế, đặc biệt trong trường hợp chi tiêu vượt quá ngưỡng tối ưu, phân bổ kém hiệu quả hoặc gây ra hiệu ứng lấn át đầu tư tư nhân.

3. Đầu tư công và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

3.1. Khái quát về tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2025

Năm 2025, kinh tế Việt Nam đạt tăng trưởng GDP ấn tượng 8,02%, thuộc nhóm cao nhất thế giới, quy mô nền kinh tế vượt 514 tỉ USD và GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Những điểm sáng bao gồm: FDI đạt kỷ lục, thương mại quốc tế tăng mạnh, thu ngân sách vượt dự toán, ổn định vĩ mô và lạm phát thấp, cùng với sự tăng trưởng vượt bậc tại nhiều địa phương đã củng cố vị thế kinh tế Việt Nam trên trường quốc tế. (Hình 1)

Hình 1: Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2010 - 2025 (Đơn vị: %)

Nguồn: Cục Thống kê (2025)
Nguồn: Cục Thống kê (2025)

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,78%, đóng góp 5,30%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,95%, khu vực dịch vụ tăng 8,62%, đóng góp lần lượt 43,62%; 51,08% vào tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Đóng góp vào tăng trưởng cao của nền kinh tế năm 2025 có vai trò quan trọng của đầu tư công.

3.2. Đầu tư công năm 2025: Những thay đổi theo hướng tích cực

Quy mô đầu tư công tăng nhanh

Trước mục tiêu tăng trưởng cao của năm 2025 trong khi giải ngân vốn đầu tư công năm 2024 chưa đạt được như kỳ vọng, yêu cầu đặt ra với đầu tư công năm 2025 là rất lớn. Trong bối cảnh đó, công tác giải ngân nguồn vốn này tiếp tục được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương chỉ đạo quyết liệt ngay từ đầu năm. Thường trực Chính phủ đã tổ chức 04 hội nghị về đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công; Chính phủ đã có 11 nghị quyết, Thường trực Chính phủ đã có 02 kết luận, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 08 chỉ thị, công điện và nhiều văn bản chỉ đạo đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công. Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, thành viên Chính phủ đã tổ chức nhiều chuyến công tác làm việc trực tiếp với địa phương để kiểm tra thực tế địa bàn; đôn đốc triển khai thực hiện các dự án, công trình.

Kết quả, năm 2025 ghi nhận mức vốn đầu tư công cao kỷ lục. Theo số liệu tổng hợp đến hết ngày 31/12/2025, đối với kế hoạch vốn đầu tư công năm 2025, tổng số vốn giải ngân đạt 755.141,6 tỉ đồng, bằng 82,7% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn 2,4% về tỉ lệ và trên 206.564 tỉ đồng về số tuyệt đối so với cùng kỳ năm 2024. Nếu không tính khoản 11.140,7 tỉ đồng vốn ngân sách Trung ương đang trình điều chỉnh giảm để bổ sung dự phòng, tỉ lệ giải ngân cả năm đạt khoảng 83,7% kế hoạch được giao. Kết quả này cho thấy nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương trong việc xử lý các dự án chuyển tiếp, đồng thời cũng phản ánh thực tế vẫn còn những dự án chậm tiến độ kéo dài nhiều năm, chưa thể giải ngân hết theo kế hoạch.

Đáng chú ý, kết quả giải ngân có sự phân hóa rõ rệt giữa các nguồn vốn. Vốn ngân sách địa phương đạt tỉ lệ giải ngân gần như tuyệt đối, lên tới 99,9%, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm 2024. Nhiều điểm sáng về giải ngân vốn đầu tư công như Hà Nội với hàng loạt dự án giao thông chậm trễ nhiều năm được giải phóng mặt bằng trong thời gian ngắn cuối năm 2025, hay các tỉnh Hà Tĩnh, Ninh Bình, Hải Phòng… với tỉ lệ giải ngân đạt hoặc vượt kế hoạch được giao. Nhưng giải ngân vốn ngân sách Trung ương chỉ đạt 63,9%, giảm 7,7% so với cùng kỳ năm trước. Đây là điểm nghẽn lớn nhất trong bức tranh giải ngân đầu tư công năm 2025, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ nhiều dự án quy mô lớn, có tính lan tỏa cao.

Tính toán cho thấy chi đầu tư công tiếp tục tăng nhanh những năm gần đây. So sánh các năm cho thấy, dự toán chi đầu tư công năm 2025 cao hơn 16,7% năm 2024 và tính đến hết tháng 12/2025 thực hiện giải ngân đầu tư công cao hơn 37,6% so với năm 2024. Đây cũng là con số tăng cao nhất trong 5 năm gần đây. Việc tăng chi đầu tư đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế năm 2025. (Hình 2)

Đầu tư công năm 2025: Điểm sáng và kỳ vọng cho những năm tiếp theo
Nguồn: Tác giả tính toán từ số liệu của Bộ Tài chính

Chuyển dịch cơ cấu ngành trong đầu tư công theo hướng tập trung hơn

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò “chủ đạo” của kinh tế nhà nước không đồng nghĩa với việc Nhà nước phải đầu tư khối lượng lớn vào cả những ngành, lĩnh vực các thành phần kinh tế khác có thể làm được mà Nhà nước chỉ tập trung đầu tư công vào một số ít ngành trọng điểm, có tính đột phá và lan tỏa mạnh, đồng thời thể hiện vai trò “bà đỡ” và can thiệp cần thiết khi có thất bại thị trường. Trong giai đoạn 2010 - 2024, đầu tư công cho lĩnh vực kinh tế luôn chiếm trên 75% vốn đầu tư của Nhà nước. Tuy nhiên, đầu tư vào các ngành thuộc lĩnh vực xã hội liên quan trực tiếp đến sự phát triển của con người (khoa học, giáo dục và đào tạo, y tế và cứu trợ xã hội, văn hóa, thể thao, phục vụ cá nhân và cộng đồng) còn rất khiêm tốn; trong đó đầu tư cho khoa học - công nghệ chỉ chiếm hơn 2%. Điểm tích cực là sự chuyển dịch đầu tư công mạnh mẽ tập trung vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng giao thông, vận tải. Điều này là phù hợp với các khuyến nghị từ nghiên cứu quốc tế của Atolia và cộng sự (2021). (Bảng 1)

Đầu tư công năm 2025: Điểm sáng và kỳ vọng cho những năm tiếp theo

Nhìn sâu hơn vào cơ cấu đầu tư công trong các ngành công nghiệp có thể thấy, đầu tư vào các ngành công nghệ cao, ngành có khả năng dẫn dắt chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa còn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, thậm chí đi ngược lại những nguyên tắc cơ bản của đầu tư công là Nhà nước chỉ tạo lập những nền tảng cho tăng trưởng và phát triển, tập trung đầu tư vào các lĩnh vực mà thị trường không hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả. Các ngành công nghiệp chế tạo máy móc, thiết bị, dụng cụ y tế, cơ khí chính xác, thiết bị quang học, hóa chất đều có tốc độ tăng thấp hơn mức bình quân toàn ngành công nghiệp thuộc khu vực nhà nước. Thậm chí, tỉ trọng trong các ngành chế tạo dụng cụ y tế, cơ khí chính xác, thiết bị quang học giảm đi và hầu như không còn trong khu vực nhà nước. Trong khi đó, công nghiệp khai thác mỏ lại tăng nhanh hơn mức bình quân chung và chiếm tỉ trọng ngày càng lớn hơn.

Như vậy, đầu tư công vẫn còn được phân bổ vào một số ngành mà khu vực tư nhân có khả năng và sẵn sàng đầu tư, trong khi đầu tư công vào nghiên cứu và phát triển (R&D) còn chưa được chú trọng và chưa tương xứng. Điều này dường như đang đi ngược lại những nguyên tắc cơ bản cho đầu tư công, theo đó, chức năng chính của Nhà nước phải là xây dựng các nền tảng phát triển và tăng trưởng, đồng thời tập trung vào các lĩnh vực mà khu vực tư nhân không thể hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả.

Để đánh giá mức độ tập trung của đầu tư công theo ngành, bài viết sử dụng sử dụng chỉ số HHI (Herfindahl - Hirschmann Index) - một thước đo thông dụng về mức độ tập trung kinh tế. Chỉ số HHI ban đầu dùng để đo lường mức độ tập trung thị trường, qua đó biết được mức độ cạnh tranh/tập trung của một thị trường hoặc một ngành nào đó, sau đó được sử dụng để đo mức độ tập trung hay phân tán của nhiều lĩnh vực.

Thông thường, HHI được phân chia làm 03 nhóm: HHI < 1.000: Không tập trung (thị trường phân tán có mức độ cạnh tranh cao); HHI [1.000 - 1.800]: Tập trung trung bình; HHI > 1.800: Tập trung cao. Kết quả tính toán chỉ số HHI được trình bày trong Hình 3.

Hình 3: Mức độ tập trung trong đầu tư vốn nhà nước (Đơn vị: %)

Đầu tư công năm 2025: Điểm sáng và kỳ vọng cho những năm tiếp theo
Nguồn: Tác giả tính toán từ số liệu của Cục Thống kê

Kết quả tính toán giai đoạn từ năm 2020 đến hết năm 2024 cho thấy, mức độ tập trung vốn đầu tư công theo ngành ngày càng tăng lên và rất tập trung từ năm 2023. Điều này khẳng định nhận định về sự thay đổi tích cực trong cơ cấu đầu tư vốn nhà nước. Trong điều kiện một quốc gia đang phát triển với nguồn lực hạn chế, điều này là phù hợp khi Việt Nam dồn lực cho các dự án cơ sở hạ tầng lớn có hiệu ứng lan tỏa cao. Năm 2025, xu hướng này tiếp tục được thực hiện và đây cũng là điểm sáng trong đầu tư công.

Cải thiện vốn đầu tư công theo phân cấp hành chính

Cùng với việc áp dụng Luật NSNN năm 2015, quá trình phân cấp trong quản lý ngân sách nói chung và phân cấp trong quản lý vốn đầu tư nói riêng đã diễn ra mạnh mẽ trong giai đoạn vừa qua. Tỉ lệ chi tiêu của ngân sách địa phương trong tổng chi NSNN đã liên tục được duy trì ở mức cao. (Hình 4)

Hình 4: Tỉ lệ vốn đầu tư công giữa ngân sách Trung ương và địa phương (Đơn vị: %)

Nguồn: Tác giả tính toán từ số liệu của Bộ Tài chính (ước tính)
Nguồn: Tác giả tính toán từ số liệu của Bộ Tài chính (ước tính)

Nếu xem xét chi tiết hơn quy mô đầu tư vốn nhà nước theo vùng có thể thấy hai vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ liên tục là những vùng chiếm tỉ lệ cao nhất trong tổng số vốn đầu tư của Nhà nước. Năm 2025 đã có sự dịch chuyển của cơ cấu chi đầu tư khi dự toán chi đầu tư của Trung ương tăng lên, bước đầu cho thấy sự chuyển dịch vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương trong chi đầu tư công. Luật NSNN năm 2025 cũng đã mở ra cơ hội mới khi cho phép các địa phương có thể tham gia vào thực hiện các khoản chi có tính liên vùng (dự án đầu tư vành đai 4 của Hà Nội và các tỉnh lân cận là ví dụ điển hình). Cơ chế này cùng với việc sắp xếp lại các đơn vị hành chính sẽ tạo điều kiện tốt cho phân bổ và giải ngân vốn đầu tư công.

4. Đánh giá đầu tư công giai đoạn 2021 - 2025

Từ những phân tích ở trên cho thấy dù đầu tư công có vai trò quan trọng với tăng trưởng kinh tế nhưng tác động tích cực của đầu tư công còn phụ thuộc vào năng lực thực thi chính sách trong thực tế.

Thứ nhất, đầu tư công là động lực quan trọng với tăng trưởng kinh tế nhưng hiệu quả với tăng trưởng kinh tế còn chưa cao

Trong bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế nhiều biến động, đầu tư công tiếp tục được xác định là một trong những động lực then chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Số liệu giai đoạn 2021 - 2025 cho thấy quy mô chi đầu tư công của Việt Nam gia tăng mạnh và đây là yếu tố quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là trong trung và dài hạn. Nghiên cứu của Vu Sy Cuong và Luu Huyen Trang (2024) ước tính số nhân chi tiêu của Việt Nam là khoảng 0,9 trong trung hạn; chỉ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) của Việt Nam là từ 6 - 6,5 cho giai đoạn vừa qua. Các kết quả trên cho thấy hiệu quả lan tỏa đến tăng trưởng kinh tế của đầu tư công là tích cực, song chưa cao như kỳ vọng.

Thứ hai, quy mô đầu tư công tăng nhanh, thể hiện vai trò dẫn dắt trong nền kinh tế, cơ cấu thay đổi theo hướng tích cực

Theo dự toán của Quốc hội, tổng chi đầu tư công tăng từ 477,3 nghìn tỉ đồng năm 2021 lên 1.120 nghìn tỉ đồng năm 2026, tương ứng mức tăng 2,35 lần trong vòng 5 năm. Xu hướng này phản ánh rõ định hướng sử dụng đầu tư công như công cụ kích thích tổng cầu, hỗ trợ tăng trưởng, bù đắp cho sự suy yếu của khu vực tư nhân và xuất khẩu trong những giai đoạn khó khăn.

Kết quả phân tích ở trên cũng cho thấy, cơ cấu đầu tư công đã có những thay đổi tích cực hơn. Tình trạng chi đầu tư dàn trải đã được cải thiện đáng kể. Trong bối cảnh có sự thay đổi lớn về mô hình tổ chức hành chính với việc sáp nhập các tỉnh có thể kỳ vọng vào việc thay đổi cơ cấu chi đầu tư ở địa phương trong giai đoạn tới.

Thứ ba, số chi đầu tư theo kế hoạch lớn nhưng thực hiện còn khoảng cách

Mặc dù kế hoạch đầu tư công do Thủ tướng Chính phủ giao hằng năm đều tăng tương đối ổn định (trên 20% trong nhiều năm), song số liệu thực hiện cho thấy tỉ lệ giải ngân thực tế thường thấp hơn đáng kể so với kế hoạch. Ví dụ năm 2023, kế hoạch đầu tư công là 708,3 nghìn tỉ đồng nhưng thực hiện 12 tháng chỉ đạt 579,8 nghìn tỉ đồng. Đến năm 2024, dù kế hoạch tiếp tục tăng hơn 6%, giá trị thực hiện lại giảm 5,39% so với năm trước. Năm 2025, dù giải ngân vốn đầu tư công có tích cực hơn nhưng tỉ lệ giải ngân hết tháng 12/2025 vẫn chỉ đạt dưới 90%. Điều này làm suy giảm tác động kích thích tăng trưởng của đầu tư công trong ngắn hạn, do vốn không được đưa kịp thời vào nền kinh tế.

Hơn nữa, tình trạng giải ngân dồn dập vào 3 tháng cuối năm và đầu năm sau khiến tác động của đầu tư công đến tăng trưởng bị trễ nhịp. Trong khi về lý thuyết, đầu tư công có tác động lan tỏa mạnh thông qua xây dựng hạ tầng, tạo việc làm và kích thích đầu tư tư nhân, thì trên thực tế, hiệu quả này chỉ phát huy đầy đủ khi vốn được giải ngân đúng tiến độ.

Nguyên nhân của những hạn chế trong đầu tư công có cả từ chủ quan và khách quan:

Về chủ quan, công tác lập và phân bổ kế hoạch vốn tại một số bộ, ngành, địa phương chưa sát thực tế, chưa phù hợp với năng lực triển khai. Tình trạng dự án thừa vốn, thiếu vốn, phải điều chỉnh nhiều lần hoặc hoàn trả kế hoạch vốn vẫn còn xảy ra, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ giải ngân và hiệu quả sử dụng vốn NSNN. Đặc biệt, công tác giải phóng mặt bằng tiếp tục là “nút thắt” lớn nhất. Dù nhiều địa phương thời gian gần đây đã có chuyển biến rõ nét, nhưng ở không ít dự án, công tác bồi thường, tái định cư vẫn chậm do vướng mắc trong xác định giá đất, nguồn gốc đất đai và sự thiếu đồng thuận của người dân. Những khó khăn này kéo dài gây hiệu ứng dây chuyền, làm chậm tiến độ thi công và giải ngân vốn. Bên cạnh đó, năng lực và trách nhiệm của một số chủ đầu tư, ban quản lý dự án và nhà thầu còn hạn chế. Việc tổ chức thi công chưa quyết liệt, thiếu nhân lực, thiết bị; sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan chưa chặt chẽ; hồ sơ thanh toán lập chậm, dồn khối lượng giải ngân vào cuối năm… là những tồn tại làm giảm hiệu quả điều hành đầu tư công.

Về khách quan, năm 2025 chứng kiến diễn biến thời tiết đặc biệt bất thường với số lượng bão, mưa lũ lớn kỷ lục, gây thiệt hại nặng nề cho nhiều công trình, nhất là các dự án giao thông trọng điểm. Tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng, giá cả biến động mạnh, cùng những vướng mắc trong điều chỉnh giá hợp đồng, thủ tục môi trường, đầu tư công nghệ thông tin và triển khai các dự án ODA tiếp tục tạo áp lực lớn cho tiến độ giải ngân.

Ngoài ra, quá trình sắp xếp, vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng phát sinh không ít khó khăn về tổ chức bộ máy, nhân sự và thủ tục, ảnh hưởng đến việc triển khai dự án và giải ngân vốn tại một số địa phương…

Khi những điểm nghẽn này chưa được tháo gỡ triệt để, gia tăng kế hoạch chi đầu tư công chưa chắc đồng nghĩa với gia tăng tương ứng của tăng trưởng. Giải ngân vốn đầu tư chậm còn ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách tiền tệ trong năm. Do vậy, cải thiện hiệu quả giải ngân vốn đầu tư công luôn được là yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay.

5. Kết luận và khuyến nghị chính sách

Từ những phân tích ở trên, có thể khẳng định chủ trương đẩy mạnh đầu tư công là phù hợp với yêu cầu của phát triển trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, trong bối cảnh Luật Đầu tư công năm 2024 và Luật số 90/2025/QH15 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Hải quan, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luật Đầu tư, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và Luật NSNN năm 2025 được áp dụng cho mô hình chính quyền hai cấp thì cần tiếp tục những biện pháp mạnh để đầu tư công trở thành động lực quan trọng cho mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững.

Thứ nhất, nguồn vốn đầu tư công cần tiếp tục được phân bổ theo nguyên tắc ưu tiên cho các ngành, lĩnh vực có ảnh hưởng lan tỏa lớn, các dự án có ý nghĩa quan trọng với an sinh xã hội như các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, hạ tầng sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; giáo dục, đào tạo; khoa học và công nghệ, bảo vệ môi trường; hệ thống kết cấu hạ tầng có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Trong giai đoạn hiện nay cần hạn chế việc phân bổ vốn đầu tư công vào những lĩnh vực chưa thật sự cần thiết và những ngành, nghề có sức lan tỏa kém trong nền kinh tế. Đối với các dự án phát triển như khu kinh tế, khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu cần phải lựa chọn thứ tự ưu tiên trên nguyên tắc hiệu quả kinh tế để đầu tư có trọng điểm, sớm đưa công trình vào sử dụng để phát huy hiệu quả cao nhất.

Thứ hai, nguồn vốn đầu tư công cần được tập trung đầu tư đúng tiến độ đối với các dự án, công trình quan trọng quốc gia, các dự án công trình cấp bách. Khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao, có giá trị xuất khẩu lớn; đầu tư kinh doanh trong các ngành, lĩnh vực góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Trong từng vùng, cần tập trung đầu tư ở các vùng kinh tế trọng điểm để nâng cao hiệu quả kinh tế đi đôi với khuyến khích đầu tư ở các vùng miền núi, các vùng có nhiều khó khăn, kết hợp với việc thực hiện đồng bộ các chính sách an sinh xã hội. Mô hình tăng trưởng trong đầu tư công là một mô hình có thể xem xét cho trung hạn giai đoạn 2026 - 2030.

Thứ ba, cần tiếp tục cải thiện công tác quản lý lập dự toán và quản lý dự án chi đầu tư công để tránh việc giải ngân dồn vào một số tháng cuối năm. Điều này cũng sẽ có tác động tích cực trong hỗ trợ việc thực thi chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và cải thiện hiệu quả phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ.

Với mục tiêu tăng trưởng hai con số cho giai đoạn 2026 - 2030, yêu cầu vừa tăng quy mô đầu tư công vừa nâng cao hiệu quả chi đầu tư công để cải thiện hệ số ICOR xuống còn 4,5 - 4,7 là rất thách thức. Điều này cần sự quyết liệt trong điều hành chính sách ở tất cả các cấp chính quyền và sự phối hợp chặt chẽ của nhiều đơn vị. Đây cũng đòi hỏi cho kỳ vọng về một giai đoạn tăng trưởng cao hơn của Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

1. Agenor, P. R., & Neanidis, K. C. (2015), Innovation, public capital, and growth. Journal of Macroeconomics, 44, 252-275. https://doi.org/10.1016/j.jmacro.2015.03.003

2. Albert. Hirschman (1964), The Paternity of an Index. The American Economic Review, Vol. 54, No. 5 (Sep., 1964).

3. Atolia, M., Li, B. G., Marto, R., & Melina, G. (2021), Investing in public infrastructure: Roads or schools? Macroeconomic Dynamics, 25(7), 1892-1921.

4. Barro, R.J. (1991), Economic Growth in a Cross Section of Countries. Quarterly Journal 106, 407-443. DOI: 10.2307/2937943.

5. Bộ Tài chính, Quyết toán NSNN (nhiều năm).

6. Devarajan, S. Swaroop, V., Zou, H. (1996), The composition of public expenditure and economic growth. Journal of Monetary Economics, 37 (2), 313-344. DOI: 10.1016/S0304-3932(96)90039-2.

7. Easterly, W., Rebelo, S. (1993), Fiscal policy and economic growth: An empirical investigation. Journal of Monetary Economics, 32 (3), 417-458. DOI: 10.1016/0304-3932(93)90025-B.

8. European Union (2004), Guidelines on the Assessment of Horizontal Mergers, Official Journal, (C31) 5.

9. Ghosh, S., Gregoriou, A. (2008), The composition of government spending and growth: is current or capital spending better? Oxford Economic Papers, 60 (3), 484-516. DOI: 10.1093/oep/gpn005.

10. Hasnul, A.G. (2015), The effects of government expenditure on economic growth: the case of Malaysia. MPRA Paper.

11. Lowenberg, A.D. (1990), Neoclassical economics as a theory of politics and institutions. Cato Journal, 9 (3), 619-639.

12. Ram, R. (1986), Government Size and Economic Growth: A New Framework and Some Evidence from Cross-Section and Time-Series Data. The American Economic Review, 76 (1), 191-203.

13. Romp, W., & Haan, J. De. (2007), Public capital and economic growth: A critical survey. Perspektiven Der Wirtschaftspolitik, 8, 6-52. https://doi.org/10.1111/1468-2516.00242.

14. Sáez, M.P., Álvarez-García, S., Rodríguez, D.C. (2017), Governmen expenditure and economic growth in the European Union countries: New evidence. Bulletin of Geography. Socioeconomic Series, 36, 127-133. DOI: 10.1515/bog-2017-0020.

15. Taban, S. (2010), An Examination of the Government Spending and Economic Growth Nexus for Turkey Using Bound Test Approach. International Research Journal of Finance and Economics, 48, 184-193.

16. Vu Sy Cuong và Luu Huyen Trang (2024), “Fiscal multiplier in Vietnam: SVAR approach” - Journal of Finance & accounting research. Tháng 10/2024.

17. Vũ Thành Tự Anh (2013), “Quản lý và phân cấp quản lý đầu tư công: Thực trạng Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế”, Chương trình giảng dạy Fulbright.

PGS., TS. Vũ Sỹ Cường
Học viện Tài chính

Tin bài khác

Phát triển sàn giao dịch các-bon: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho hệ thống ngân hàng Việt Nam

Phát triển sàn giao dịch các-bon: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho hệ thống ngân hàng Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, làm rõ cơ hội và thách thức trong quá trình hình thành, vận hành sàn giao dịch các-bon tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các hàm ý chính sách đối với hệ thống ngân hàng trong tham gia thanh toán, quản lý dòng tiền, hỗ trợ doanh nghiệp và phát triển các sản phẩm tài chính gắn với các-bon.
Phát triển thị trường công cụ phái sinh: Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và đề xuất cho Việt Nam

Phát triển thị trường công cụ phái sinh: Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và đề xuất cho Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế ngày càng sâu rộng, thị trường công cụ phái sinh đang từng bước khẳng định vai trò then chốt trong việc quản trị rủi ro, đồng thời nâng cao hiệu quả phân bổ dòng vốn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững.
Huy động nguồn lực tư nhân cho đầu tư xanh: Thực tiễn triển khai và hàm ý chính sách

Huy động nguồn lực tư nhân cho đầu tư xanh: Thực tiễn triển khai và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích khung pháp lý, thực trạng các kênh huy động vốn tư nhân cho đầu tư xanh tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khó khăn, thách thức và đề xuất một số khuyến nghị nhằm tăng cường thu hút nguồn lực tư nhân phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh.
Kinh tế tư nhân trong giai đoạn phát triển mới: Vai trò dẫn dắt của ngành Ngân hàng

Kinh tế tư nhân trong giai đoạn phát triển mới: Vai trò dẫn dắt của ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ nhu cầu vốn rất lớn của khu vực kinh tế tư nhân giai đoạn 2026 - 2030, đồng thời phân tích vai trò trung tâm của hệ thống ngân hàng, dưới sự điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong dẫn vốn, ổn định vĩ mô và đồng hành chiến lược với phát triển bền vững của kinh tế tư nhân.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Thị trường tài chính toàn cầu: Một số thách thức và triển vọng

Thị trường tài chính toàn cầu: Một số thách thức và triển vọng

Bài viết phân tích những thách thức lớn của thị trường tài chính toàn cầu năm 2025, từ gánh nặng nợ công gia tăng, khủng hoảng bất động sản tại các nền kinh tế chủ chốt đến rủi ro địa chính trị và an ninh tài chính, đồng thời đánh giá triển vọng và hàm ý chính sách trong bối cảnh mới.
Phân mảnh kinh tế toàn cầu: Hàm ý đối với Việt Nam khi hướng đến thịnh vượng và Net-Zero

Phân mảnh kinh tế toàn cầu: Hàm ý đối với Việt Nam khi hướng đến thịnh vượng và Net-Zero

Bài viết phân tích tác động của phân mảnh kinh tế toàn cầu đối với Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu nâng cấp ngoại thương theo hướng xanh và bền vững, hiện đại hóa hệ thống ngân hàng như hạ tầng chiến lược và đặt phát triển con người ở vị trí lõi để vừa củng cố năng lực cạnh tranh, vừa hiện thực hóa mục tiêu Net-Zero vào năm 2050.
Dấu ấn thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2025 và giải pháp trọng tâm năm 2026

Dấu ấn thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2025 và giải pháp trọng tâm năm 2026

Bài viết khái quát bức tranh thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2025 với dấu ấn phục hồi mạnh mẽ, cải thiện chất lượng thể chế và bước tiến nâng hạng, đồng thời phân tích bối cảnh, cơ hội, thách thức và các giải pháp trọng tâm nhằm hướng tới giai đoạn phát triển minh bạch, bền vững và hội nhập sâu hơn trong năm 2026.
Xem thêm
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng