Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Chính sách
Bài viết phân tích những giải pháp điều hành tín dụng chủ động, linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong năm 2025 nhằm ưu tiên nguồn vốn cho nông nghiệp, nông thôn, qua đó củng cố vai trò trụ đỡ của khu vực này đối với tăng trưởng kinh tế, xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội.
aa

Trong bối cảnh kinh tế - chính trị thế giới và trong nước năm 2025 biến động phức tạp, NHNN đã điều hành chính sách tín dụng một cách chủ động, linh hoạt và quyết liệt, trong đó nông nghiệp, nông thôn tiếp tục được xác định là trụ cột ưu tiên xuyên suốt. Thông qua việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, ban hành kịp thời các cơ chế, chính sách tín dụng đặc thù và chỉ đạo hệ thống tổ chức tín dụng tập trung nguồn lực cho sản xuất nông nghiệp, nguồn vốn ngân hàng đã trở thành trụ cột quan trọng hỗ trợ phục hồi sản xuất, ổn định sinh kế và thúc đẩy tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng xanh, bền vững. Những kết quả đạt được góp phần quan trọng củng cố vai trò trụ đỡ của nông nghiệp, thúc đẩy xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội.

Năm 2025 khép lại trong bối cảnh nhiều biến động lớn của tình hình kinh tế - chính trị thế giới và trong nước, đặt ngành nông nghiệp Việt Nam trước cả thời cơ lẫn thách thức đan xen. Trên bình diện quốc tế, căng thẳng thương mại gia tăng, cùng với các chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ đã tạo áp lực không nhỏ đối với hoạt động xuất khẩu nông sản. Trong nước, việc triển khai chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả trên toàn hệ thống chính trị đang đặt ra yêu cầu điều chỉnh, thích ứng trong quản lý và điều hành phát triển nông nghiệp. Bên cạnh đó, các đợt thiên tai, bão lũ liên tiếp trong năm đã gây thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp, cơ sở hạ tầng và đời sống của hàng triệu hộ dân nông thôn.

Trong bối cảnh đó, việc triển khai các giải pháp hỗ trợ phục hồi và phát triển sản xuất nông nghiệp một cách kịp thời, đồng bộ và bền vững là nhiệm vụ cấp thiết. Đặc biệt, tín dụng nông nghiệp, nông thôn đóng vai trò chủ lực trong việc cung cấp nguồn lực tài chính cho người dân và doanh nghiệp, duy trì chuỗi cung ứng nông sản, thúc đẩy tăng trưởng của ngành nông nghiệp, đồng thời góp phần thực hiện hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội.

Quán triệt chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn - được tiếp tục khẳng định tại Kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, NHNN luôn xác định nông nghiệp, nông thôn là một trong những lĩnh vực ưu tiên trong điều hành chính sách tín dụng. Trên cơ sở đó, NHNN đã ban hành và triển khai đồng bộ nhiều cơ chế, chính sách, giải pháp nhằm định hướng và khơi thông dòng vốn tín dụng vào lĩnh vực này. Những nỗ lực đó không chỉ góp phần bảo đảm nguồn lực tài chính cho phát triển sản xuất nông nghiệp mà còn khẳng định vai trò trụ đỡ của ngành nông nghiệp trong tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xây dựng nông thôn mới và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân.

1. Triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp thúc đẩy tín dụng lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Trong năm 2025, NHNN đã tích cực tham mưu, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 156/2025/NĐ-CP ngày 16/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Chính phủ). Việc sửa đổi các nghị định này nhằm bảo đảm phù hợp hơn với nhu cầu thực tiễn, xu hướng phát triển mới trong lĩnh vực nông nghiệp.

Một số điểm mới quan trọng của Nghị định số 156/2025/NĐ-CP gồm: (i) Nâng mức cho vay không có tài sản bảo đảm đối với khách hàng hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp/trên địa bàn nông thôn, theo đó cá nhân, hộ gia đình được vay tối đa 300 triệu đồng; tổ hợp tác, hộ kinh doanh tối đa 500 triệu đồng; chủ trang trại tối đa 3 tỉ đồng; hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tối đa 5 tỉ đồng; (ii) Bổ sung các chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, như được xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm đến 70% giá trị dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, được xem xét xử lý rủi ro như đối với trường hợp tổ chức đầu mối thực hiện liên kết theo chuỗi giá trị; để cùng với các chính sách thúc đẩy sản xuất theo mô hình liên kết, ứng dụng công nghệ cao góp phần thực hiện mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với phát triển xanh, bền vững, nâng cao giá trị gia tăng; (iii) Sửa đổi quy định về giữ nguyên nhóm nợ đối với khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng và trích lập dự phòng để xử lý rủi ro nhằm đồng bộ hóa với các quy định pháp luật liên quan; (iv) Sửa đổi, thay thế, bãi bỏ một số nội dung để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và tình hình thực tế phát triển nông nghiệp hiện nay.

Để triển khai đồng bộ các quy định của Chính phủ, ngày 30/9/2025, Thống đốc NHNN đã ban hành Thông tư số 29/2025/TT-NHNN hướng dẫn các tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Các văn bản này đã tạo hành lang pháp lý thông thoáng, minh bạch và ổn định hơn, qua đó thúc đẩy mạnh mẽ dòng vốn tín dụng vào khu vực nông nghiệp, nông thôn và hỗ trợ thiết thực cho người dân, doanh nghiệp trong quá trình phát triển sản xuất.

Thứ hai, thường xuyên chỉ đạo các TCTD hướng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, trong đó có nông nghiệp, nông thôn.

Theo đó, trong năm 2025, NHNN đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, đồng thời tổ chức các hội nghị, buổi làm việc với hệ thống TCTD nhằm định hướng tập trung nguồn vốn tín dụng đáp ứng kịp thời nhu cầu của doanh nghiệp, thương nhân và người sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Đặc biệt, NHNN yêu cầu các TCTD chú trọng cấp tín dụng đối với các ngành, mặt hàng nông sản chủ lực như lúa gạo, cà phê, thủy sản và một số lĩnh vực trọng điểm khác của nông nghiệp.

Cùng với việc định hướng tăng trưởng tín dụng phù hợp, NHNN chỉ đạo các TCTD triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ khách hàng vay vốn như: Điều chỉnh, tăng hạn mức tín dụng phù hợp với nhu cầu sản xuất; xem xét giảm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực ưu tiên; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng; đồng thời đơn giản hóa thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng, góp phần khơi thông dòng vốn vào khu vực nông nghiệp, nông thôn, hỗ trợ duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành nông nghiệp và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn bền vững.

Thứ ba, quyết liệt triển khai các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

Trong năm 2025, NHNN đã chỉ đạo hệ thống TCTD triển khai đồng bộ các chương trình tín dụng trọng điểm với mức lãi suất thấp hơn lãi suất cho vay thông thường nhằm hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng bền vững. Trong đó, một số chương trình có hiệu quả và được điều chỉnh tăng quy mô nhiều lần để đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Điển hình là Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản đã được nâng quy mô lên gấp 12 lần (từ 15.000 tỉ đồng ban đầu lên 185.000 tỉ đồng), đến nay đã giải ngân đạt khoảng 96% kế hoạch.

Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục thúc đẩy các chương trình tín dụng phục vụ mục tiêu chuyển đổi xanh trong nông nghiệp, tiêu biểu là Chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long theo Quyết định số 1490/QĐ-TTg ngày 27/11/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” với doanh số giải ngân lũy kế trong 6 tháng đạt trên 3.100 tỉ đồng.

Những kết quả này góp phần tạo nguồn lực tài chính quan trọng cho tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng, giảm phát thải và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thứ tư, tích cực triển khai các nhiệm vụ, giải pháp thuộc chức năng quản lý của NHNN trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

NHNN đã tích cực thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp thuộc chức năng quản lý nhà nước của ngành Ngân hàng trong khuôn khổ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, nhằm mở rộng quy mô nguồn vốn tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, bổ sung nguồn lực quan trọng trong tổng nguồn vốn thực hiện Chương trình. Đồng thời, NHNN thực hiện đôn đốc, kiểm tra tiến độ triển khai tại các địa phương được phân công theo Chương trình công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia.

Bên cạnh đó, NHNN tăng cường phối hợp với các bộ, ngành và cơ quan chủ trì các Chương trình mục tiêu quốc gia để tham gia đề xuất, xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện Chương trình, bảo đảm các cơ chế, chính sách liên quan được triển khai thống nhất, hiệu quả và khả thi trong thực tiễn.

Thứ năm, kịp thời triển khai các giải pháp hỗ trợ khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ.

Trước những diễn biến phức tạp của thiên tai, bão lũ gây thiệt hại lớn đối với sản xuất nông nghiệp, NHNN đã chủ động ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các TCTD và NHNN chi nhánh khu vực triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng bởi bão và mưa lũ sau bão. Theo đó, các biện pháp hỗ trợ trọng tâm gồm: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ; giảm lãi suất cho vay đối với dư nợ hiện hữu từ 0,5 - 2%; đồng thời tạo điều kiện cho vay mới với lãi suất ưu đãi nhằm giúp người dân, doanh nghiệp nhanh chóng khôi phục sản xuất, ổn định hoạt động kinh doanh sau thiên tai.

Kết quả triển khai đối với khách hàng trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản cho thấy sự hỗ trợ thiết thực của hệ thống ngân hàng: Các TCTD đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ với dư nợ khoảng 1.153 tỉ đồng; giảm lãi suất cho khoảng 39.900 khách hàng với dư nợ gần 31.200 tỉ đồng; cho vay mới với lãi suất ưu đãi khoảng 6.480 tỉ đồng cho khoảng 3.600 khách hàng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, lũ lụt. Riêng Ngân hàng Chính sách xã hội đã giảm lãi suất cho vay đối với khách hàng vay vốn tại 26 tỉnh bị ảnh hưởng sau bão và các đợt mưa lũ lớn trong năm 2025 với tổng số tiền lãi hỗ trợ khách hàng là 1.460 tỉ đồng cho khoảng 4 triệu khách hàng.

Những giải pháp này không chỉ giúp giảm áp lực tài chính trước mắt cho người vay mà còn góp phần bảo đảm tính liên tục của hoạt động sản xuất nông nghiệp, ổn định sinh kế người dân.

Thứ sáu, tăng cường công tác phối hợp, tuyên truyền, phổ biến chính sách, nhằm nâng cao khả năng truyền tải vốn tín dụng đến khu vực nông nghiệp, nông thôn.

Trong năm 2025, NHNN tiếp tục đẩy mạnh công tác phối hợp với các bộ, ngành và tổ chức chính trị - xã hội để triển khai hiệu quả chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Theo đó, NHNN đã ký kết và triển khai Quy chế phối hợp số 01/QCPH-NHNN-BNNPTNT ngày 05/4/2024 với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhằm tăng cường trao đổi thông tin, phối hợp xây dựng và thực thi chính sách liên quan đến tín dụng nông nghiệp, nông thôn.

Bên cạnh đó, NHNN ký kết và triển khai các chương trình phối hợp công tác với các tổ chức chính trị - xã hội, tiêu biểu là Chương trình phối hợp số 01/CTPH-NHNN-HND-HLHPN ngày 23/6/2016 giữa NHNN, Hội Nông dân và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam về thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP; cùng với Chương trình phối hợp công tác số 06/CTPH-NHNN-HLHPNVN ngày 06/3/2023 giữa NHNN và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Đồng thời, NHNN thường xuyên chỉ đạo các TCTD và NHNN chi nhánh khu vực tăng cường phối hợp với Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ từ Trung ương đến địa phương trong triển khai tín dụng chính sách và tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, qua đó tạo điều kiện đưa vốn vay ngân hàng đến đúng đối tượng thụ hưởng là các hội viên và người dân nông thôn.

Song song với công tác phối hợp, NHNN và các TCTD cũng chủ động phối hợp với các đơn vị liên quan đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về chủ trương, chính sách và các sản phẩm tín dụng đến người dân, doanh nghiệp, đặc biệt là khách hàng tại vùng sâu, vùng xa và khu vực nông thôn; tiếp tục mở rộng mạng lưới, cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh chuyển đổi số nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, doanh nghiệp thuộc khu vực nông nghiệp, nông thôn tiếp cận vốn ngân hàng một cách nhanh chóng và hiệu quả.

2. Kết quả thực hiện chính sách tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Việc triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp nêu trên đã tạo chuyển biến tích cực trong hoạt động tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và đạt được nhiều kết quả tích cực.

Tính đến cuối năm 2025, đã có trên 90 TCTD và gần 1.100 quỹ tín dụng nhân dân tham gia cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn với dư nợ đạt trên 4,2 triệu tỉ đồng, tăng khoảng 14,5% so với cuối năm 2024, chiếm gần 23% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, phục vụ trên 14,5 triệu khách hàng còn dư nợ.

Vốn tín dụng tiếp tục ưu tiên cho các ngành hàng nông sản xuất khẩu chủ lực. Trong đó, dư nợ ngành thủy sản đạt trên 285 nghìn tỉ đồng, với hai ngành hàng tôm và cá tra chiếm tỉ trọng tín dụng cao nhất (trên 40%); dư nợ ngành lúa, gạo đạt gần 232 nghìn tỉ đồng, tập trung chủ yếu vào khâu thu mua, chế biến và tiêu thụ (trên 83%); dư nợ ngành cà phê đạt gần 145 nghìn tỉ đồng.

Đối với khu vực nông thôn, dư nợ cho vay trên địa bàn các xã trong toàn quốc đạt khoảng 2,4 triệu tỉ đồng, tương đương 141% kế hoạch vốn tín dụng được giao thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025; tăng trưởng bình quân giai đoạn đạt khoảng 12%/năm, với gần 10 triệu khách hàng còn dư nợ, phần lớn là cá nhân và hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư và diêm nghiệp.

Nhờ đó, nguồn vốn tín dụng ngân hàng đã đóng góp nguồn lực quan trọng, hỗ trợ khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì ổn định và đạt mức tăng trưởng GDP năm 2025 là 3,78%, đóng góp 5,30% vào mức tăng trưởng 8,02% GDP của cả nước. Đồng thời, tín dụng ngân hàng cũng hỗ trợ ngành nông, lâm, thủy sản đạt kim ngạch xuất khẩu trên 70 tỉ USD trong năm 2025 - mức cao nhất từ trước đến nay.

3. Định hướng điều hành chính sách tín dụng nông nghiệp, nông thôn năm 2026

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều rủi ro, lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn vẫn giữ vai trò “trụ đỡ” của nền kinh tế, góp phần bảo đảm an ninh lương thực, ổn định việc làm, sinh kế và an sinh xã hội.

Năm 2026 là năm có ý nghĩa bản lề đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn khi khởi đầu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030, đồng thời là thời điểm tăng tốc hiện thực hóa các mục tiêu, nhiệm vụ theo Nghị quyết số 19-NQ/TW và Kết luận số 219-KL/TW của Bộ Chính trị. Đây cũng là năm then chốt để đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng xanh, bền vững; xây dựng nông thôn mới ngày càng văn minh, hiện đại; phát triển toàn diện, qua đó tiếp tục củng cố vai trò trụ đỡ của nông nghiệp trong ổn định an sinh xã hội và phát triển kinh tế bền vững.

Trong bối cảnh đó, NHNN sẽ tiếp tục điều hành, triển khai các giải pháp tín dụng bám sát chủ trương, định hướng của Quốc hội, Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; đồng thời linh hoạt, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, bảo đảm đáp ứng nhu cầu vốn hợp lý cho sản xuất, kinh doanh.

NHNN tiếp tục chủ động rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách tín dụng ngân hàng nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn trong cung ứng và tiếp cận vốn tín dụng; tổ chức triển khai hiệu quả Nghị định số 156/2025/NĐ-CP và các chương trình tín dụng đặc thù trong lĩnh vực nông nghiệp. Đồng thời, NHNN tiếp tục theo dõi sát tình hình thị trường và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đối với các mặt hàng nông sản chủ lực để kịp thời tham mưu, đề xuất giải pháp điều hành phù hợp.

Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục chỉ đạo TCTD hướng dòng vốn vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, trong đó có nông nghiệp, nông thôn; đẩy mạnh cải cách thủ tục, ứng dụng công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Song song với đó, NHNN tiếp tục tăng cường phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và tổ chức chính trị - xã hội nhằm nâng cao hiệu quả truyền tải vốn tín dụng đến khu vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới.

ThS. Hà Thu Giang
Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN

Tin bài khác

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Xem thêm
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng