Điều hành chính sách tiền tệ tiếp tục góp phần đưa kinh tế Việt Nam trở thành điểm sáng khu vực
Trước thềm Xuân Bính Ngọ 2026, Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà đã chia sẻ với Tạp chí Ngân hàng kết quả trong điều hành chính sách tiền tệ năm 2025 và định hướng trong năm 2026.
![]() |
| Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà |
Phóng viên: Thưa Phó Thống đốc, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu có nhiều biến động, kinh tế Việt Nam đi qua năm 2025 với những kết quả ấn tượng, GDP đạt mục tiêu Quốc hội và Chính phủ đề ra. Nhìn lại năm 2025, Phó Thống đốc có những chia sẻ và đánh giá như thế nào về công tác điều hành chính sách tiền tệ góp phần đạt các mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2025?
Phó Thống đốc:
Năm 2025 là một năm đầy khó khăn, thách thức đối với điều hành kinh tế vĩ mô nói chung và công tác điều hành chính sách tiền tệ của NHNN nói riêng khi kinh tế, tài chính toàn cầu tiếp tục biến động phức tạp, khó lường, nhiều vấn đề vượt ngoài dự báo; bất ổn địa chính trị, cộng hưởng với chính sách thuế quan từ các quốc gia lớn, càng làm gia tăng tính bất định của kinh tế toàn cầu. Cùng với các sức ép từ bên ngoài, nền kinh tế Việt Nam cũng đối mặt với nhiều thách thức nội tại.
Trong bối cảnh đó, bám sát chủ trương của Đảng, các Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN luôn kiên định, chủ động, linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ để cân bằng nhiều mục tiêu quan trọng: Kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng với chi phí phù hợp. Đồng thời, chính sách tiền tệ cũng được điều hành với sự phối hợp chặt chẽ cùng chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, phản ứng nhanh nhạy, theo sát với diễn biến kinh tế thế giới và trong nước. Song song với đó, các giải pháp điều hành tín dụng được thực hiện hiệu quả, hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.
Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục có xu hướng giảm; đến ngày 30/11/2025, lãi suất cho vay bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,96%/năm, tương đương so với cuối năm 2024; doanh nghiệp và người dân đang tiếp cận vốn vay với lãi suất thấp hơn trước đây. Thị trường ngoại tệ hoạt động thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế được đáp ứng đầy đủ, kịp thời; tỉ giá USD/VND diễn biến linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường. Đến ngày 31/12/2025, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt trên 18,58 triệu tỉ đồng, tăng 19,01% so với cuối năm 2024; cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu tín dụng của người dân, doanh nghiệp. Hoạt động thanh toán và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, gia tăng nhiều tiện ích và nâng cao trải nghiệm cho khách hàng trong sử dụng dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số.
Qua đó, ngành Ngân hàng đã đóng góp tích cực vào kết quả phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; lạm phát được kiểm soát (tính chung cả năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 3,31% so với năm trước, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra); tăng trưởng GDP quý sau cao hơn quý trước, cả năm 2025 đạt 8,02%, thuộc nhóm dẫn đầu thế giới; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm.
Với những thành quả nêu trên, có thể khẳng định rằng, công tác điều hành chính sách tiền tệ của NHNN trong năm 2025 đã phát huy tốt vai trò “trụ cột” trong việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, từ đó tạo cơ sở, nền tảng quan trọng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.
Phóng viên: Trong bối cảnh chính sách tiền tệ đã hỗ trợ mạnh nền kinh tế trong những năm qua và dư địa không còn rộng như trước, Phó Thống đốc đánh giá thế nào về vai trò điều phối giữa chính sách tiền tệ - tài khóa - thị trường vốn? Trong năm 2026, xin Phó Thống đốc cho biết chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa cần phối hợp theo hướng nào để nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định vĩ mô và hỗ trợ các động lực tăng trưởng mới?
Phó Thống đốc:
Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa là hai chính sách sách vô cùng quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô. Chính sách tiền tệ có vai trò trực tiếp và gián tiếp trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Việc điều hành lãi suất, tỉ giá, tín dụng tác động vào tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu, trực tiếp hỗ trợ tăng trưởng kinh tế; trong khi đó việc kiểm soát lạm phát tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững. Thực tế tại Việt Nam cũng như kinh nghiệm quốc tế đã cho thấy, chính sách tiền tệ cần ưu tiên mục tiêu dài hạn là kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Chính sách tài khóa với công cụ chi tiêu tài khóa, đầu tư công, và điều chỉnh các sắc thuế tác động trực tiếp vào tiêu dùng, đầu tư, thu hút FDI, xuất khẩu của quốc gia, theo đó là tổng cầu, tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, một vai trò quan trọng nữa của chi tiêu ngân sách đối với tăng trưởng là thông qua “hiệu ứng vốn mồi”: Triển khai các dự án đầu tư công sẽ kéo theo đầu tư tư nhân, tạo công ăn việc làm và kích thích tiêu dùng. Có thể nói, chính sách tài khóa có vai trò rất lớn trong thúc đẩy tổng cầu của nền kinh tế.
Song song với chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, các chính sách thúc đẩy phát triển thị trường vốn (thị trường cổ phiếu, trái phiếu) cũng đóng vai trò là “xương sống” của nền kinh tế, giúp huy động vốn trung, dài hạn hiệu quả cho doanh nghiệp, Chính phủ để đầu tư sản xuất, cơ sở hạ tầng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng; qua đó góp phần phân bổ nguồn lực hiệu quả và tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo, hướng tới một hệ thống tài chính đa dạng, minh bạch, an toàn và bền vững.
Thực tế trong những năm qua, công tác phối hợp chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác được NHNN và các bộ, ngành phối hợp triển khai chặt chẽ. NHNN thường xuyên phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan để triển khai hiệu quả các giải pháp tài khóa, tiền tệ; chủ động, tích cực phối hợp trao đổi các thông tin về thị trường tiền tệ, thị trường trái phiếu Chính phủ, việc điều hành ngân quỹ nhà nước, tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại… để tăng cường sự phối hợp giữa công tác điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa nhằm thực hiện các mục tiêu về kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, NHNN cũng tích cực phối hợp với Bộ Tài chính trong việc hoàn thiện cơ sở pháp lý về chính sách phát triển thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu Chính phủ… Những kết quả tích cực của chính sách tiền tệ trong việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao vị thế đối ngoại là căn cứ quan trọng để các tổ chức quốc tế tăng mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia cho Việt Nam; qua đó, tạo điều kiện để Bộ Tài chính phát hành thành công trái phiếu Chính phủ trên thị trường trong nước và quốc tế, đồng thời, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường.
Bước sang năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Quốc hội, Chính phủ đề ra, cần tiếp tục có sự phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ tích cực giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để phát huy hiệu quả và thực hiện mục tiêu giữ vững ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Trong đó, trọng tâm là nâng cao chất lượng phối hợp giữa các chính sách trên cơ sở bám sát diễn biến thực tiễn, chia sẻ thông tin kịp thời, đồng thời phát huy đúng vai trò của từng chính sách để hướng tới phát triển bền vững. Trong bối cảnh dư địa của chính sách tiền tệ được đánh giá là rất hạn hẹp như hiện nay, cần tập trung ưu tiên mở rộng chính sách tài khóa có trọng tâm, trọng điểm, là trụ cột để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ hiệu quả cho chính sách tiền tệ. Đồng thời, cần tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp thúc đẩy sự phát triển an toàn, bền vững của thị trường vốn trở thành kênh cung ứng vốn trung, dài hạn chủ yếu cho nền kinh tế, qua đó đảm bảo đáp ứng tốt nhu cầu vốn cho tăng trưởng cao thời gian tới.
Phóng viên: Tín dụng năm 2025 tăng trưởng tích cực, xin Phó Thống đốc cho biết thêm các giải pháp tín dụng đối với ngành, lĩnh vực được triển khai nhằm hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đồng thời tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, góp phần hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế?
Phó Thống đốc:
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, căn cứ mục tiêu tăng trưởng kinh tế, lạm phát và dự kiến tăng trưởng tín dụng năm 2025, NHNN thông báo công khai, minh bạch nguyên tắc giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng ngay từ đầu năm cho tổ chức tín dụng (TCTD) và điều chỉnh chỉ tiêu vào tháng 7/2025. Đồng thời, NHNN cũng chỉ đạo các TCTD đẩy mạnh tín dụng, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của người dân, doanh nghiệp; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ; chú trọng đầu tư tín dụng vào các dự án, công trình trọng điểm, khả thi; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tăng cường cải cách, đơn giản hóa thủ tục, áp dụng chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng, tiết giảm chi phí hoạt động để giảm mặt bằng lãi suất cho vay, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp vay vốn với chi phí phù hợp.
Nhằm nắm bắt các vướng mắc và kịp thời có giải pháp tháo gỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong quan hệ tín dụng ngân hàng, NHNN đã đẩy mạnh triển khai chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp; đồng thời tổ chức thành công 13 Hội nghị “Đẩy mạnh tín dụng ngân hàng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” tại các tỉnh để kịp thời có những định hướng chỉ đạo điều hành và triển khai các giải pháp phù hợp với nhu cầu, tình hình thực tế của ngân hàng, doanh nghiệp, nền kinh tế.
Bên cạnh đó, ngành Ngân hàng tích cực triển khai các Chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trong đó một số chương trình rất hiệu quả và nhiều lần được nâng quy mô như: Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản được mở rộng đối tượng từ Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm, thủy sản và 4 lần nâng quy mô lên gấp 12 lần (từ 15 nghìn tỉ đồng ban đầu lên 185 nghìn tỉ đồng, đến nay đã giải ngân 91%, tương ứng 168 nghìn tỉ đồng cho trên 52 nghìn khách hàng); Chương trình cho vay liên kết thực hiện Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long; Chương trình tín dụng đầu tư hạ tầng điện, giao thông và công nghệ chiến lược với quy mô 500 nghìn tỉ đồng; Chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết số 33/NQ-CP của Chính phủ.
Đặc biệt, năm 2025, trước diễn biến thiên tai phức tạp gây thiệt hại nặng nề tại nhiều địa phương, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã kịp thời chỉ đạo các TCTD triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ đồng bào bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giảm lãi suất, cho vay mới khôi phục sản xuất.
Việc triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp trên đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn tín dụng cho nền kinh tế. Theo đó, tăng trưởng tín dụng các tháng năm 2025 đều tăng cao hơn so với cùng kỳ năm 2024 và duy trì xu hướng tháng sau cao hơn tháng trước. Tính đến ngày 31/12/2025, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt trên 18,58 triệu tỉ đồng, tăng 19,01% so với cuối năm 2024; trong đó: Cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; một số lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng cao (đến cuối tháng 10/2025, tín dụng cho công nghiệp hỗ trợ tăng trên 27%, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng trên 30%) hoặc chiếm tỉ trọng lớn (nông nghiệp, nông thôn chiếm 22,42%, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 19,11%).
Phóng viên: Xin Phó Thống đốc cho biết rõ hơn ngành Ngân hàng đã triển khai những chính sách, chương trình hỗ trợ đặc biệt nào để giúp đỡ người dân và doanh nghiệp tại các khu vực bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ trong năm 2025 khôi phục sản xuất và ổn định đời sống?
Phó Thống đốc:
Thời gian qua, với tinh thần trách nhiệm, đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp, ngành Ngân hàng luôn chủ động, tích cực trong việc ủng hộ, tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh.
Năm 2025, trước những ảnh hưởng, thiệt hại do các cơn bão, mưa lũ gây ra, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, ngành Ngân hàng đã chủ động triển khai quyết liệt, kịp thời với tinh thần trách nhiệm cao nhất các giải pháp hỗ trợ người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng.
NHNN đã ban hành 5 văn bản chỉ đạo các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và NHNN Khu vực khẩn trương rà soát, đánh giá tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh, khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng bởi các đợt bão, mưa lũ lớn để kịp thời áp dụng biện pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng như: (i) Cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí cho khách hàng bị thiệt hại theo các quy định hiện hành; (ii) Xây dựng và triển khai các chương trình, gói tín dụng với lãi suất thấp hơn lãi suất cho vay thông thường để khôi phục sản xuất, kinh doanh; (iii) Giảm lãi suất cho vay từ 0,5%-2%/năm đối với dư nợ hiện hữu của khách hàng bị thiệt hại bởi bão, lũ; (iv) Thực hiện xử lý nợ đối với khách hàng bị thiệt hại về vốn vay theo quy định...
Trong năm 2025, ngành Ngân hàng đã dành hơn 2.300 tỉ đồng để thực hiện các chương trình an sinh xã hội, trong đó nổi bật là chương trình ủng hộ đồng bào và các địa phương khắc phục hậu quả bão lũ; chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát do Thủ tướng Chính phủ phát động.
Theo báo cáo của NHNN chi nhánh tại các Khu vực, đến ngày 10/12/2025, các ngân hàng thương mại đã thực hiện: (i) Cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 2.219 khách hàng với dư nợ khoảng 1.275 tỉ đồng; (ii) Các TCTD giảm lãi suất cho trên 69.000 khách hàng với dư nợ khoảng 18.685 tỉ đồng; (iii) Triển khai các chương trình cho vay khôi phục sản xuất, kinh doanh sau bão với lãi suất ưu đãi, đến nay các TCTD đã giải ngân cho vay khoảng 2.238 tỉ đồng cho khoảng 10.600 khách hàng.
Riêng đối với Ngân hàng Chính sách xã hội, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Chính sách xã hội đã trình Chính phủ ban hành các Quyết định quy định chính sách giảm lãi suất cho vay 2%/năm trong 3 tháng (từ tháng 10/2025 đến tháng 12/2025) đối với khoảng 4 triệu khách hàng bị ảnh hưởng do bão lũ tại 26 tỉnh, thành phố với số tiền lãi hỗ trợ khách hàng dự kiến khoảng 1.466 tỉ đồng.
Có thể thấy, các giải pháp hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi bão, mưa lũ sau bão của ngành Ngân hàng đã được triển khai kịp thời, đồng bộ và phát huy hiệu quả. Thông qua các biện pháp như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay, cho vay mới... ngành Ngân hàng đã góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực của thiên tai đối với đời sống Nhân dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Những hỗ trợ này không chỉ giúp người dân, doanh nghiệp ổn định tâm lý, khắc phục khó khăn trước mắt, mà còn tạo điều kiện để khôi phục sản xuất, kinh doanh, từng bước phục hồi kinh tế - xã hội tại các địa bàn bị ảnh hưởng, qua đó thể hiện vai trò đồng hành, chia sẻ của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế.
Phóng viên: Năm 2026, tình hình kinh tế thế giới tiếp tục được dự báo có nhiều khó khăn, rủi ro, bất định gia tăng, có thể tác động đến kinh tế Việt Nam. Trong bối cảnh đó, những mục tiêu, định hướng trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN năm 2026 là gì, thưa Phó Thống đốc?
Phó Thống đốc:
Năm 2026, tình hình địa kinh tế, địa chính trị thế giới được dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Tháng 10/2025, Quỹ Tiền tệ quốc tế dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2026 ở mức 3,1%, thấp xa so với mức tăng trưởng bình quân 3,7% trước đại dịch Covid-19; cảnh báo kinh tế toàn cầu đối mặt với rủi ro giảm tốc. Lạm phát trong xu thế giảm nhưng thiếu chắc chắn. Triển vọng điều hành chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương khó dự báo, tiềm ẩn tác động đến thị trường quốc tế cũng như đồng tiền của các quốc gia mới nổi và đang phát triển, thách thức đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam. Giá cả hàng hóa thế giới biến động do tác động của diễn biến địa chính trị phức tạp, xu hướng gia tăng về bảo hộ thương mại, an ninh lương thực tại các quốc gia.
Trong nước, lạm phát tiềm ẩn áp lực tăng trong bối cảnh độ mở nền kinh tế Việt Nam rất lớn. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan; nhu cầu vốn tín dụng cho sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng dự kiến gia tăng, trong khi đó huy động vốn toàn hệ thống TCTD có thể bị ảnh hưởng và cạnh tranh từ các kênh đầu tư khác (như bất động sản, thị trường chứng khoán); sức ép cung ứng vốn cho nền kinh tế của hệ thống ngân hàng vẫn lớn trong bối cảnh thị trường tài chính phát triển chưa cân xứng...
Năm 2026 là năm có ý nghĩa quan trọng, diễn ra Đại hội lần thứ XIV của Đảng, là năm đầu triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030, bước vào kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc.
Trong bối cảnh nhiều khó khăn, thách thức và thuận lợi đan xen, bám sát mục tiêu, định hướng của Đảng, Chính phủ, diễn biến tình hình kinh tế thế giới và trong nước, NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
NHNN tiếp tục theo dõi sát tình hình để điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường, kinh tế vĩ mô, lạm phát và mục tiêu chính sách tiền tệ; tiếp tục chỉ đạo các TCTD tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để giảm lãi suất cho vay; điều hành tỉ giá linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường, phối hợp đồng bộ với các công cụ chính sách tiền tệ nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.
Đồng thời, NHNN tiếp tục chỉ đạo các TCTD tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tăng cường rà soát, đơn giản hóa thủ tục cấp tín dụng, áp dụng chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, đảm bảo chặt chẽ, an toàn.
Bên cạnh đó, thể chế pháp luật ngân hàng cũng tiếp tục được hoàn thiện để đảm bảo cơ sở pháp lý đồng bộ, thuận lợi cho điều hành chính sách tiền tệ, thúc đẩy phát triển thị trường tiền tệ và hội nhập quốc tế.
Song song với đó, NHNN cũng chú trọng thực hiện các giải pháp như nâng cao năng lực thanh tra, giám sát, kiểm tra các lĩnh vực rủi ro, nợ xấu, đảm bảo an toàn và lành mạnh hệ thống TCTD, thúc đẩy chuyển đổi số, tăng cường năng lực quản trị và bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống thanh toán.
Những giải pháp này sẽ tạo nền tảng ổn định, hỗ trợ điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả, duy trì thanh khoản, ổn định tỉ giá, đồng thời đảm bảo niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn Phó Thống đốc!
Tin bài khác
Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng: Khát vọng, mô hình và chiến lược thích ứng của các ngân hàng Việt Nam
Chính sách tài khóa, tiền tệ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2025: Những điểm sáng và định hướng năm 2026
Kinh tế Việt Nam: Những thành tựu giai đoạn 2021 - 2025 và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2025 và hàm ý chính sách cho giai đoạn tới
Người dân chỉ được mua, bán vàng miếng tại các ngân hàng, doanh nghiệp được cấp phép
Ổn định các cân đối lớn của nền kinh tế và hàm ý đối với điều hành chính sách tiền tệ năm 2026
Đề xuất triển khai cơ chế hành lang lãi suất tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điều kiện và bước đi
Điều hành chính sách tiền tệ tiếp tục góp phần đưa kinh tế Việt Nam trở thành điểm sáng khu vực
Củng cố nền tảng tăng trưởng và sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2026
Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng: Khát vọng, mô hình và chiến lược thích ứng của các ngân hàng Việt Nam
Chính sách tài khóa, tiền tệ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2025: Những điểm sáng và định hướng năm 2026
Kinh tế Việt Nam: Những thành tựu giai đoạn 2021 - 2025 và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp
Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới
