Thành công trong chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025 - Nền tảng cho phát triển an toàn, bền vững hệ thống tài chính

Công nghệ & ngân hàng số
Chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu và là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đối với ngành Ngân hàng, chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu nội tại nhằm hiện đại hóa hoạt động quản lý, điều hành và kinh doanh, mà còn giữ vai trò then chốt trong việc thúc đẩy kinh tế số, tài chính toàn diện và cải cách hành chính.
aa

Năm 2025, với sự tích cực triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Đề án 06 (Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030) đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuyển đổi số của ngành Ngân hàng Việt Nam với nhiều kết quả nổi bật trên các phương diện thể chế, hạ tầng số, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và thanh toán không dùng tiền mặt. Bài viết phân tích thực trạng chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025 trên cơ sở các số liệu chính thức, đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế tồn tại, đồng thời gợi mở định hướng triển khai trong giai đoạn tới.

1. Kết quả chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025

1.1. Hoàn thiện thể chế và hành lang pháp lý cho chuyển đổi số

Năm 2025, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng; Nghị định số 368/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động, tạo tiền đề pháp lý cho việc triển khai các mô hình, sản phẩm, dịch vụ tài chính ứng dụng công nghệ mới.

Bên cạnh đó, NHNN đã ban hành 84 thông tư theo chương trình xây dựng văn bản năm 2025, trong đó nhiều thông tư trực tiếp tháo gỡ các điểm nghẽn cho phép sử dụng dữ liệu điện tử, định danh số, lý lịch tư pháp trong hoạt động ngân hàng, trực tiếp cắt giảm thời gian, chi phí và thủ tục cho người dân, doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ triển khai ngân hàng số.

Ngày 03/11/2025, Thống đốc NHNN đã ban hành hai chiến lược: Chiến lược Chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 20301 và Chiến lược Dữ liệu ngành Ngân hàng đến năm 20302 để định hướng, chỉ đạo các đơn vị trong Ngành tổ chức triển khai công tác chuyển đổi số trong giai đoạn tới.

1.2. Phát triển hạ tầng số và các nền tảng dùng chung

Trong năm 2025, hạ tầng công nghệ thông tin của NHNN tiếp tục được duy trì hoạt động ổn định, an toàn và thông suốt: Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng - hệ thống thanh toán xương sống của quốc gia đã xử lý 142,5 triệu giao dịch với tổng giá trị 389,3 triệu tỉ đồng, tăng 6,07% về số lượng và 56,55% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024. Trung bình mỗi ngày, hệ thống xử lý gần 589 nghìn giao dịch với giá trị hơn 1,61 triệu tỉ đồng.

Đối với hệ thống ngân hàng lõi, quản lý kế toán, tài chính và ngân sách: Tính đến ngày 15/12/2025, hệ thống đã xử lý 437 phiên đấu thầu trên hệ thống thị trường mở AMO/CSD với tổng giá trị đấu thầu đạt 5.305 nghìn tỉ VND, tăng 19% về số lượng và 100% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024; tổng số giao dịch phát sinh trên Hệ thống quản trị nguồn lực (ERP) cũng ghi nhận 23,6 triệu giao dịch, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2024.

Ngoài ra, các hệ thống nghiệp vụ khác của NHNN cũng ghi nhận khối lượng xử lý lớn, phản ánh mức độ số hóa ngày càng cao trong hoạt động quản lý nhà nước về tiền tệ, ngân hàng.

Về phía các tổ chức tín dụng, hầu hết dịch vụ ngân hàng cơ bản đã được thực hiện trên kênh số, nhiều ngân hàng đạt 98% giao dịch thực hiện trên kênh số. Hệ sinh thái số, thanh toán số đã được thiết lập kết nối giữa dịch vụ ngân hàng với nhiều dịch vụ khác trong nền kinh tế để cung ứng trải nghiệm liền mạch cho khách hàng. Nhiều ngân hàng đã và đang ứng dụng các công nghệ mới (như trí tuệ nhân tạo, học máy, dữ liệu lớn…) trong các hoạt động nghiệp vụ, phân tích hành vi, nhu cầu, đánh giá khách hàng, giúp tối ưu hóa, cá nhân hóa việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ cũng như tự động hóa quy trình, nâng cao hiệu quả hoạt động.

Các dịch vụ trên Cổng dịch vụ công Quốc gia, dịch vụ dân sinh3 đều đã được kết nối với ứng dụng di động của ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán. Điều này cho phép người dân, doanh nghiệp giao dịch thanh toán trực tuyến an toàn, thuận tiện, tiết kiệm thời gian, chi phí ngay trên ứng dụng, nền tảng số quen thuộc hằng ngày.

1.3. Phát triển dữ liệu và kết nối, chia sẻ thông tin

Nhằm phục vụ hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố, NHNN đã hoàn thành việc kết nối kỹ thuật và xây dựng hệ thống liên thông với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Cùng với đó, NHNN đã xây dựng ba kho dữ liệu quan trọng gồm: (1) Kho dữ liệu NHNN thu thập từ hơn 1.470 đơn vị và các hệ thống thông tin nội bộ; (2) Kho dữ liệu thông tin tín dụng lưu trữ thông tin của trên 54 triệu khách hàng vay; (3) Kho dữ liệu phục vụ phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ vũ khí hủy diệt hàng loạt. Đến cuối năm 2025, kho dữ liệu tập trung của NHNN có trên 40 tỉ dòng dữ liệu. Cơ sở dữ liệu thông tin tín dụng hiện lưu trữ dữ liệu của 55 triệu khách hàng với dung lượng khoảng 70 TB; cơ sở dữ liệu phòng, chống rửa tiền lưu trữ thông tin của 36 triệu khách hàng, 154 triệu tài khoản và 1,3 tỉ giao dịch. Đặc biệt, 4/4 cơ sở dữ liệu của NHNN được giao tại Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết số 71/NQ-CP4 đã hoàn thành đồng bộ lên Trung tâm dữ liệu quốc gia, bảo đảm yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, đồng bộ, kết nối, dùng chung”.

Về phía các tổ chức tín dụng, trung gian thanh toán, các đơn vị đã tích cực triển khai Đề án 06 của Chính phủ trong việc kết nối, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư vào các hoạt động nghiệp vụ. Tính đến ngày 14/12/2025, có 57 tổ chức tín dụng và 39 tổ chức trung gian thanh toán đã triển khai ứng dụng thẻ căn cước công dân (CCCD) gắn chíp qua ứng dụng điện thoại; 63 tổ chức tín dụng đã triển khai ứng dụng thẻ CCCD gắn chíp qua thiết bị tại quầy; 32 tổ chức tín dụng và 15 trung gian thanh toán đang triển khai ứng dụng VNeID, trong đó có 21 đơn vị đã triển khai chính thức (gồm 16 tổ chức tín dụng và 05 trung gian thanh toán); 28 ngân hàng và 04 trung gian thanh toán đã triển khai liên kết tài khoản ngân hàng, ví điện tử phục vụ cho chi trả an sinh xã hội thông qua ứng dụng VNeID. Toàn ngành Ngân hàng đã có hơn 143 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân (CIF) và hơn 1,5 triệu hồ sơ khách hàng tổ chức được đối chiếu sinh trắc học qua CCCD gắn chíp hoặc ứng dụng VNeID.

1.4. Đổi mới sáng tạo trong ngành Ngân hàng

Phong trào đổi mới sáng tạo tiếp tục được đẩy mạnh nhằm khuyến khích cán bộ chủ động đề xuất các giải pháp cải tiến quy trình, ứng dụng công nghệ số vào công việc và phát triển các sản phẩm ứng dụng số phục vụ hoạt động quản lý, điều hành và nghiệp vụ. Năm 2025, toàn ngành Ngân hàng ghi nhận 1.484 sáng kiến, trong đó 1.438 sáng kiến đến từ các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trong đó nhiều sáng kiến đã được ứng dụng vào thực tiễn. Các sáng kiến tập trung mạnh vào ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, học máy trong phân tích hành vi khách hàng, quản trị rủi ro, phát hiện gian lận và cá nhân hóa sản phẩm, dịch vụ. Một số ngân hàng thương mại lớn có số lượng sáng kiến nổi bật như Ngân hàng Thương mại cổ phần (NHTMCP) Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) với 163 sáng kiến, NHTMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) với 92 sáng kiến, NHTMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) với 80 sáng kiến, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) với 59 sáng kiến.

1.5. Thanh toán không dùng tiền mặt và ngân hàng số

Trong năm 2025, thanh toán không dùng tiền mặt và ngân hàng số có những bước tiến đáng kể. So với cùng kỳ năm 2024, giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 42,34% về số lượng và 22,59% về giá trị; qua kênh Internet tăng 52,91% về số lượng và 36,25% về giá trị; qua kênh điện thoại di động tăng 36,48% về số lượng và 20,48% về giá trị; giao dịch qua QR Code tăng 54,45% về số lượng và 141,02% về giá trị; qua hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử tăng 22,42% về số lượng và 7,14% về giá trị. Khoảng 87% người trưởng thành Việt Nam có tài khoản thanh toán.

Đến cuối tháng 11/2025, dịch vụ Tiền di động có hơn 10,89 triệu tài khoản, trong đó khoảng 70% thuộc khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện.

1.6. Về cải cách thủ tục hành chính

Trong lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính, NHNN đã đạt được những con số ấn tượng khi cắt giảm, đơn giản hóa 269/298 thủ tục (đạt 90,3%) và bãi bỏ 255 điều kiện kinh doanh. Đến ngày 15/12/2025, việc triển khai hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung đã đưa 100% thủ tục liên quan đến doanh nghiệp và đủ điều kiện lên dịch vụ công trực tuyến toàn trình, không phụ thuộc địa giới hành chính. Hiệu quả thực thi được minh chứng qua các chỉ số tính đến cuối tháng 12/2025 với tỉ lệ cấp hồ sơ kết quả điện tử đạt 86,64%, tỉ lệ số hóa hồ sơ đạt 78,38% và 90,51% tổ chức hài lòng đối với việc giải quyết thủ tục hành chính tại NHNN, qua đó phản ánh sự tin tưởng và lựa chọn thực chất của người dân, doanh nghiệp đối với giải quyết thủ tục hành chính qua phương thức số.

Nhìn chung, năm 2025, chuyển đổi số đã được triển khai đồng bộ, toàn diện trong ngành Ngân hàng, từ khâu xây dựng thể chế, đầu tư hạ tầng đến phát triển dữ liệu và cung ứng dịch vụ số. Hệ thống thanh toán quốc gia vận hành an toàn, thông suốt với quy mô và giá trị giao dịch lớn; ngân hàng số và thanh toán không dùng tiền mặt tăng trưởng mạnh; dữ liệu ngày càng trở thành tài sản chiến lược phục vụ quản lý, giám sát và điều hành.

Bên cạnh các kết quả tích cực, quá trình chuyển đổi số ngành Ngân hàng vẫn đối mặt với một số thách thức như yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh mạng ngày càng cao; sự không đồng đều về năng lực chuyển đổi số giữa các tổ chức tín dụng; áp lực hoàn thiện thể chế cho các mô hình tài chính số mới; nhu cầu lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ và dữ liệu.

2. Định hướng trong thời gian tới

Trên cơ sở đánh giá bối cảnh chuyển đổi số trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng và những yêu cầu đặt ra đối với quá trình hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, có thể xác định một số định hướng phát triển chuyển đổi số ngành Ngân hàng trong thời gian tới nhằm bảo đảm hoạt động an toàn, hiệu quả và phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế số:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật kịp thời, tạo điều kiện cho thử nghiệm và triển khai các mô hình ngân hàng số, tài chính số mới, đồng thời bảo đảm an toàn hệ thống.

Thứ hai, đẩy mạnh đầu tư chiều sâu cho hạ tầng số và hạ tầng dữ liệu ngành Ngân hàng, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia cũng như các bộ, ban, ngành, phục vụ hiệu quả công tác quản lý và cung ứng dịch vụ.

Thứ ba, tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, coi đây là yếu tố then chốt để duy trì niềm tin của người dân và doanh nghiệp đối với hệ thống ngân hàng số.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực số chất lượng cao, kết hợp đào tạo nội bộ với thu hút chuyên gia công nghệ, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số bền vững.

Năm 2025 ghi nhận những bước tiến quan trọng trong chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam, với nhiều kết quả nổi bật và có chiều sâu. Chuyển đổi số đã và đang trở thành động lực cốt lõi thúc đẩy hiện đại hóa hoạt động ngân hàng, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế số. Trong bối cảnh yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, ngành Ngân hàng cần tiếp tục kiên định mục tiêu chuyển đổi số toàn diện, lấy dữ liệu và công nghệ làm nền tảng, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

1 Quyết định số 3579/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN phê duyệt Chiến lược chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2030.

2 Quyết định số 3580/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN phê duyệt Chiến lược dữ liệu ngành Ngân hàng đến năm 2030.

3 Như dịch vụ thanh toán điện, nước, viễn thông, y tế, giáo dục, hàng hóa trên các sàn thương mại điện tử, dịch vụ gọi xe, đặt nhà hàng, tour du lịch trên các nền tảng số...

4 Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Lê Hoàng Chính Quang
Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin, NHNN

Tin bài khác

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Vai trò kiến tạo của hạ tầng thanh toán xuyên biên giới

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Vai trò kiến tạo của hạ tầng thanh toán xuyên biên giới

Bài viết nghiên cứu vai trò then chốt của hệ thống thanh toán xuyên biên giới trong lộ trình hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính, tổng hợp và phân tích dữ liệu thứ cấp kết hợp so sánh điển cứu quốc tế, nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù thị trường công nghệ tài chính (Fintech) Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, hạ tầng thanh toán vẫn còn khoảng cách về chuẩn hóa kỹ thuật (ISO 20022) và năng lực bán buôn so với chuẩn IFC toàn cầu. Kết quả nghiên cứu khẳng định việc nâng cấp hạ tầng mềm và hoàn thiện khung pháp lý thử nghiệm (Sandbox) là điều kiện tiên quyết để thu hút dòng vốn quốc tế. Từ đó, bài viết đề xuất các hàm ý chính sách trọng tâm về khung pháp lý, chuẩn hóa dữ liệu, thí điểm công nghệ chuỗi khối (Blockchain) và gia nhập các mạng lưới thanh toán đa phương nhằm tối ưu hóa năng lực cạnh tranh cho IFC tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
Ứng dụng hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và tự động hóa trong chiến lược tối ưu hóa phễu chuyển đổi khách hàng tại các ngân hàng thương mại

Ứng dụng hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và tự động hóa trong chiến lược tối ưu hóa phễu chuyển đổi khách hàng tại các ngân hàng thương mại

Trong bối cảnh chuyển đổi số, bài viết đề xuất mô hình kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa nhằm tối ưu phễu chuyển đổi khách hàng (mô hình mô phỏng hành trình của một khách hàng từ lúc lần đầu biết đến thương hiệu cho đến khi thực hiện hành động mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ) tại ngân hàng thương mại, qua đó giảm chi phí thu hút, rút ngắn thời gian ra quyết định tín dụng và cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng.
Xây dựng năng lực tự bảo vệ trước rủi ro tâm lý và công nghệ cho thế hệ Z trong bối cảnh thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam

Xây dựng năng lực tự bảo vệ trước rủi ro tâm lý và công nghệ cho thế hệ Z trong bối cảnh thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam đang được triển khai thí điểm, thế hệ Z với lợi thế về khả năng tiếp cận công nghệ lại đứng trước nhiều rủi ro đan xen, đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực tài chính số và xây dựng cơ chế bảo vệ khi tham gia thị trường.
Ứng dụng AI thúc đẩy kinh tế xanh và Net-Zero trong doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế, bài học cho Việt Nam

Ứng dụng AI thúc đẩy kinh tế xanh và Net-Zero trong doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế, bài học cho Việt Nam

Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI) trong thúc đẩy kinh tế xanh và thực hiện chiến lược Net-Zero, qua đó, đề xuất bài học và giải pháp giúp doanh nghiệp Việt Nam kết hợp chuyển đổi số với chuyển đổi xanh, hướng đến phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Hệ khuyến nghị học liên kết: Xu hướng phát triển trong kỷ nguyên dữ liệu phân tán

Hệ khuyến nghị học liên kết: Xu hướng phát triển trong kỷ nguyên dữ liệu phân tán

Trong bối cảnh dữ liệu ngày càng phân tán và yêu cầu nghiêm ngặt về bảo vệ quyền riêng tư, hệ khuyến nghị học liên kết (Federated Recommender Systems - FRS) nổi lên như một hướng tiếp cận tiềm năng, cho phép khai thác dữ liệu từ nhiều nguồn mà không cần chia sẻ dữ liệu gốc, qua đó mở rộng khả năng ứng dụng trong ngân hàng, thương mại điện tử, y tế và giáo dục.
Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngày 18 - 19/8/2026, sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 với chủ đề “Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo (AI)” đã chính thức diễn ra tại Hà Nội.
Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành. Tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là: Chuyển đổi số phải đi cùng an toàn; khai thác dữ liệu phải đi cùng bảo vệ dữ liệu; ứng dụng AI phải đi cùng quản trị rủi ro; đổi mới sáng tạo phải đi cùng tuân thủ, kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Trí tuệ nhân tạo trong bảo mật dữ liệu chuỗi cung ứng tài chính

Trí tuệ nhân tạo trong bảo mật dữ liệu chuỗi cung ứng tài chính

Bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI) trong tăng cường bảo mật dữ liệu và quản trị rủi ro an ninh mạng đối với chuỗi cung ứng tài chính (Financial Supply Chain - FSC) trong ngành Ngân hàng, qua đó làm rõ những lợi ích, thách thức và hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng AI trong bối cảnh chuyển đổi số.
Xem thêm
Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng chịu tác động bởi những rủi ro mới và yêu cầu quản trị ngày càng cao, kiểm toán nội bộ giữ vai trò quan trọng trong củng cố hệ thống kiểm soát, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh tài chính khu vực, đồng thời đòi hỏi những đột phá về thể chế, hạ tầng, địa kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 44/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2025/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí

Thông tư số 43/2026/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối