Thành công trong chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025 - Nền tảng cho phát triển an toàn, bền vững hệ thống tài chính

Công nghệ & ngân hàng số
Chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu và là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đối với ngành Ngân hàng, chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu nội tại nhằm hiện đại hóa hoạt động quản lý, điều hành và kinh doanh, mà còn giữ vai trò then chốt trong việc thúc đẩy kinh tế số, tài chính toàn diện và cải cách hành chính.
aa

Năm 2025, với sự tích cực triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Đề án 06 (Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030) đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuyển đổi số của ngành Ngân hàng Việt Nam với nhiều kết quả nổi bật trên các phương diện thể chế, hạ tầng số, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và thanh toán không dùng tiền mặt. Bài viết phân tích thực trạng chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025 trên cơ sở các số liệu chính thức, đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế tồn tại, đồng thời gợi mở định hướng triển khai trong giai đoạn tới.

1. Kết quả chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025

1.1. Hoàn thiện thể chế và hành lang pháp lý cho chuyển đổi số

Năm 2025, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng; Nghị định số 368/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động, tạo tiền đề pháp lý cho việc triển khai các mô hình, sản phẩm, dịch vụ tài chính ứng dụng công nghệ mới.

Bên cạnh đó, NHNN đã ban hành 84 thông tư theo chương trình xây dựng văn bản năm 2025, trong đó nhiều thông tư trực tiếp tháo gỡ các điểm nghẽn cho phép sử dụng dữ liệu điện tử, định danh số, lý lịch tư pháp trong hoạt động ngân hàng, trực tiếp cắt giảm thời gian, chi phí và thủ tục cho người dân, doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ triển khai ngân hàng số.

Ngày 03/11/2025, Thống đốc NHNN đã ban hành hai chiến lược: Chiến lược Chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 20301 và Chiến lược Dữ liệu ngành Ngân hàng đến năm 20302 để định hướng, chỉ đạo các đơn vị trong Ngành tổ chức triển khai công tác chuyển đổi số trong giai đoạn tới.

1.2. Phát triển hạ tầng số và các nền tảng dùng chung

Trong năm 2025, hạ tầng công nghệ thông tin của NHNN tiếp tục được duy trì hoạt động ổn định, an toàn và thông suốt: Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng - hệ thống thanh toán xương sống của quốc gia đã xử lý 142,5 triệu giao dịch với tổng giá trị 389,3 triệu tỉ đồng, tăng 6,07% về số lượng và 56,55% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024. Trung bình mỗi ngày, hệ thống xử lý gần 589 nghìn giao dịch với giá trị hơn 1,61 triệu tỉ đồng.

Đối với hệ thống ngân hàng lõi, quản lý kế toán, tài chính và ngân sách: Tính đến ngày 15/12/2025, hệ thống đã xử lý 437 phiên đấu thầu trên hệ thống thị trường mở AMO/CSD với tổng giá trị đấu thầu đạt 5.305 nghìn tỉ VND, tăng 19% về số lượng và 100% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024; tổng số giao dịch phát sinh trên Hệ thống quản trị nguồn lực (ERP) cũng ghi nhận 23,6 triệu giao dịch, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2024.

Ngoài ra, các hệ thống nghiệp vụ khác của NHNN cũng ghi nhận khối lượng xử lý lớn, phản ánh mức độ số hóa ngày càng cao trong hoạt động quản lý nhà nước về tiền tệ, ngân hàng.

Về phía các tổ chức tín dụng, hầu hết dịch vụ ngân hàng cơ bản đã được thực hiện trên kênh số, nhiều ngân hàng đạt 98% giao dịch thực hiện trên kênh số. Hệ sinh thái số, thanh toán số đã được thiết lập kết nối giữa dịch vụ ngân hàng với nhiều dịch vụ khác trong nền kinh tế để cung ứng trải nghiệm liền mạch cho khách hàng. Nhiều ngân hàng đã và đang ứng dụng các công nghệ mới (như trí tuệ nhân tạo, học máy, dữ liệu lớn…) trong các hoạt động nghiệp vụ, phân tích hành vi, nhu cầu, đánh giá khách hàng, giúp tối ưu hóa, cá nhân hóa việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ cũng như tự động hóa quy trình, nâng cao hiệu quả hoạt động.

Các dịch vụ trên Cổng dịch vụ công Quốc gia, dịch vụ dân sinh3 đều đã được kết nối với ứng dụng di động của ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán. Điều này cho phép người dân, doanh nghiệp giao dịch thanh toán trực tuyến an toàn, thuận tiện, tiết kiệm thời gian, chi phí ngay trên ứng dụng, nền tảng số quen thuộc hằng ngày.

1.3. Phát triển dữ liệu và kết nối, chia sẻ thông tin

Nhằm phục vụ hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố, NHNN đã hoàn thành việc kết nối kỹ thuật và xây dựng hệ thống liên thông với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Cùng với đó, NHNN đã xây dựng ba kho dữ liệu quan trọng gồm: (1) Kho dữ liệu NHNN thu thập từ hơn 1.470 đơn vị và các hệ thống thông tin nội bộ; (2) Kho dữ liệu thông tin tín dụng lưu trữ thông tin của trên 54 triệu khách hàng vay; (3) Kho dữ liệu phục vụ phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ vũ khí hủy diệt hàng loạt. Đến cuối năm 2025, kho dữ liệu tập trung của NHNN có trên 40 tỉ dòng dữ liệu. Cơ sở dữ liệu thông tin tín dụng hiện lưu trữ dữ liệu của 55 triệu khách hàng với dung lượng khoảng 70 TB; cơ sở dữ liệu phòng, chống rửa tiền lưu trữ thông tin của 36 triệu khách hàng, 154 triệu tài khoản và 1,3 tỉ giao dịch. Đặc biệt, 4/4 cơ sở dữ liệu của NHNN được giao tại Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết số 71/NQ-CP4 đã hoàn thành đồng bộ lên Trung tâm dữ liệu quốc gia, bảo đảm yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, đồng bộ, kết nối, dùng chung”.

Về phía các tổ chức tín dụng, trung gian thanh toán, các đơn vị đã tích cực triển khai Đề án 06 của Chính phủ trong việc kết nối, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư vào các hoạt động nghiệp vụ. Tính đến ngày 14/12/2025, có 57 tổ chức tín dụng và 39 tổ chức trung gian thanh toán đã triển khai ứng dụng thẻ căn cước công dân (CCCD) gắn chíp qua ứng dụng điện thoại; 63 tổ chức tín dụng đã triển khai ứng dụng thẻ CCCD gắn chíp qua thiết bị tại quầy; 32 tổ chức tín dụng và 15 trung gian thanh toán đang triển khai ứng dụng VNeID, trong đó có 21 đơn vị đã triển khai chính thức (gồm 16 tổ chức tín dụng và 05 trung gian thanh toán); 28 ngân hàng và 04 trung gian thanh toán đã triển khai liên kết tài khoản ngân hàng, ví điện tử phục vụ cho chi trả an sinh xã hội thông qua ứng dụng VNeID. Toàn ngành Ngân hàng đã có hơn 143 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân (CIF) và hơn 1,5 triệu hồ sơ khách hàng tổ chức được đối chiếu sinh trắc học qua CCCD gắn chíp hoặc ứng dụng VNeID.

1.4. Đổi mới sáng tạo trong ngành Ngân hàng

Phong trào đổi mới sáng tạo tiếp tục được đẩy mạnh nhằm khuyến khích cán bộ chủ động đề xuất các giải pháp cải tiến quy trình, ứng dụng công nghệ số vào công việc và phát triển các sản phẩm ứng dụng số phục vụ hoạt động quản lý, điều hành và nghiệp vụ. Năm 2025, toàn ngành Ngân hàng ghi nhận 1.484 sáng kiến, trong đó 1.438 sáng kiến đến từ các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trong đó nhiều sáng kiến đã được ứng dụng vào thực tiễn. Các sáng kiến tập trung mạnh vào ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, học máy trong phân tích hành vi khách hàng, quản trị rủi ro, phát hiện gian lận và cá nhân hóa sản phẩm, dịch vụ. Một số ngân hàng thương mại lớn có số lượng sáng kiến nổi bật như Ngân hàng Thương mại cổ phần (NHTMCP) Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) với 163 sáng kiến, NHTMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) với 92 sáng kiến, NHTMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) với 80 sáng kiến, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) với 59 sáng kiến.

1.5. Thanh toán không dùng tiền mặt và ngân hàng số

Trong năm 2025, thanh toán không dùng tiền mặt và ngân hàng số có những bước tiến đáng kể. So với cùng kỳ năm 2024, giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 42,34% về số lượng và 22,59% về giá trị; qua kênh Internet tăng 52,91% về số lượng và 36,25% về giá trị; qua kênh điện thoại di động tăng 36,48% về số lượng và 20,48% về giá trị; giao dịch qua QR Code tăng 54,45% về số lượng và 141,02% về giá trị; qua hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử tăng 22,42% về số lượng và 7,14% về giá trị. Khoảng 87% người trưởng thành Việt Nam có tài khoản thanh toán.

Đến cuối tháng 11/2025, dịch vụ Tiền di động có hơn 10,89 triệu tài khoản, trong đó khoảng 70% thuộc khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện.

1.6. Về cải cách thủ tục hành chính

Trong lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính, NHNN đã đạt được những con số ấn tượng khi cắt giảm, đơn giản hóa 269/298 thủ tục (đạt 90,3%) và bãi bỏ 255 điều kiện kinh doanh. Đến ngày 15/12/2025, việc triển khai hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung đã đưa 100% thủ tục liên quan đến doanh nghiệp và đủ điều kiện lên dịch vụ công trực tuyến toàn trình, không phụ thuộc địa giới hành chính. Hiệu quả thực thi được minh chứng qua các chỉ số tính đến cuối tháng 12/2025 với tỉ lệ cấp hồ sơ kết quả điện tử đạt 86,64%, tỉ lệ số hóa hồ sơ đạt 78,38% và 90,51% tổ chức hài lòng đối với việc giải quyết thủ tục hành chính tại NHNN, qua đó phản ánh sự tin tưởng và lựa chọn thực chất của người dân, doanh nghiệp đối với giải quyết thủ tục hành chính qua phương thức số.

Nhìn chung, năm 2025, chuyển đổi số đã được triển khai đồng bộ, toàn diện trong ngành Ngân hàng, từ khâu xây dựng thể chế, đầu tư hạ tầng đến phát triển dữ liệu và cung ứng dịch vụ số. Hệ thống thanh toán quốc gia vận hành an toàn, thông suốt với quy mô và giá trị giao dịch lớn; ngân hàng số và thanh toán không dùng tiền mặt tăng trưởng mạnh; dữ liệu ngày càng trở thành tài sản chiến lược phục vụ quản lý, giám sát và điều hành.

Bên cạnh các kết quả tích cực, quá trình chuyển đổi số ngành Ngân hàng vẫn đối mặt với một số thách thức như yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh mạng ngày càng cao; sự không đồng đều về năng lực chuyển đổi số giữa các tổ chức tín dụng; áp lực hoàn thiện thể chế cho các mô hình tài chính số mới; nhu cầu lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ và dữ liệu.

2. Định hướng trong thời gian tới

Trên cơ sở đánh giá bối cảnh chuyển đổi số trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng và những yêu cầu đặt ra đối với quá trình hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, có thể xác định một số định hướng phát triển chuyển đổi số ngành Ngân hàng trong thời gian tới nhằm bảo đảm hoạt động an toàn, hiệu quả và phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế số:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật kịp thời, tạo điều kiện cho thử nghiệm và triển khai các mô hình ngân hàng số, tài chính số mới, đồng thời bảo đảm an toàn hệ thống.

Thứ hai, đẩy mạnh đầu tư chiều sâu cho hạ tầng số và hạ tầng dữ liệu ngành Ngân hàng, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia cũng như các bộ, ban, ngành, phục vụ hiệu quả công tác quản lý và cung ứng dịch vụ.

Thứ ba, tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, coi đây là yếu tố then chốt để duy trì niềm tin của người dân và doanh nghiệp đối với hệ thống ngân hàng số.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực số chất lượng cao, kết hợp đào tạo nội bộ với thu hút chuyên gia công nghệ, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số bền vững.

Năm 2025 ghi nhận những bước tiến quan trọng trong chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam, với nhiều kết quả nổi bật và có chiều sâu. Chuyển đổi số đã và đang trở thành động lực cốt lõi thúc đẩy hiện đại hóa hoạt động ngân hàng, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế số. Trong bối cảnh yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, ngành Ngân hàng cần tiếp tục kiên định mục tiêu chuyển đổi số toàn diện, lấy dữ liệu và công nghệ làm nền tảng, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

1 Quyết định số 3579/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN phê duyệt Chiến lược chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2030.

2 Quyết định số 3580/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN phê duyệt Chiến lược dữ liệu ngành Ngân hàng đến năm 2030.

3 Như dịch vụ thanh toán điện, nước, viễn thông, y tế, giáo dục, hàng hóa trên các sàn thương mại điện tử, dịch vụ gọi xe, đặt nhà hàng, tour du lịch trên các nền tảng số...

4 Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Lê Hoàng Chính Quang
Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin, NHNN

Tin bài khác

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và khả năng tiếp cận tín dụng trong bối cảnh chuyển đổi số

Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và khả năng tiếp cận tín dụng trong bối cảnh chuyển đổi số

Bài viết tập trung làm rõ những rào cản trong tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong bối cảnh chuyển đổi số, đồng thời đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính - ngân hàng theo hướng đồng hành, hỗ trợ hiệu quả hơn cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững.
Xu hướng hình thành các quỹ thị trường tiền mã hóa

Xu hướng hình thành các quỹ thị trường tiền mã hóa

Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) vừa công bố tài liệu giới thiệu cơ bản về các quỹ thị trường tiền mã hóa (TMMF). Bài viết đánh giá tiềm năng sử dụng, giải thích mô hình hoạt động của các quỹ cơ bản, ghi chép tốc độ và cấu thành thị trường TMMF. Theo đó, bài viết cũng giải thích các nguồn và gợi ý các mối liên kết TMMF với Stablecoins (một loại tiền điện tử được gắn với một giá trị tham chiếu, phổ biến nhất là đồng USD), nhấn mạnh rủi ro hoạt động liên quan đến sai lệch thanh khoản, khả năng kết nối và vận hành.
Ứng dụng công nghệ Blockchain trong hoạt động ngân hàng: Nghiên cứu tình huống và bằng chứng thực nghiệm

Ứng dụng công nghệ Blockchain trong hoạt động ngân hàng: Nghiên cứu tình huống và bằng chứng thực nghiệm

Bài viết tổng hợp và phân tích các nghiên cứu thực nghiệm nhằm làm rõ tác động của công nghệ Blockchain đối với hiệu quả hoạt động, an ninh và tính minh bạch trong lĩnh vực ngân hàng, đồng thời chỉ ra những thách thức và hàm ý chính sách trong quá trình triển khai công nghệ này.
Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt vượt nhiều mục tiêu đề ra

Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt vượt nhiều mục tiêu đề ra

Bài viết khái quát những kết quả nổi bật của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) tại Việt Nam, qua đó cho thấy nhiều chỉ tiêu đã vượt mục tiêu đề ra, đồng thời phân tích những thách thức đặt ra và định hướng giải pháp thúc đẩy thanh toán số gắn với chuyển đổi số quốc gia trong thời gian tới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong ngành Ngân hàng và những dự báo chiến lược cho tương lai

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong ngành Ngân hàng và những dự báo chiến lược cho tương lai

Thành công của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong ngành Ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào tiến bộ công nghệ mà còn vào khả năng thiết kế lại các thể chế kinh tế, chuẩn mực xã hội và chính sách công để đảm bảo rằng những lợi ích to lớn từ AI được phân phối công bằng và phục vụ cho phúc lợi chung của xã hội.
Áp dụng mô hình tài chính nhúng tại Việt Nam trong bối cảnh công nghệ số

Áp dụng mô hình tài chính nhúng tại Việt Nam trong bối cảnh công nghệ số

Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của mô hình tài chính nhúng tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, làm rõ các động lực công nghệ, thể chế, đánh giá kết quả bước đầu, chỉ ra rủi ro tiềm ẩn và đề xuất khuyến nghị chính sách nhằm phát triển tài chính nhúng theo hướng đổi mới sáng tạo có kiểm soát, bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy tài chính toàn diện.
Ứng dụng công nghệ số và kết nối dữ liệu - Gia tăng tiện ích cho khách hàng

Ứng dụng công nghệ số và kết nối dữ liệu - Gia tăng tiện ích cho khách hàng

Nhằm phát triển và cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng theo hướng cá thể hóa, tiện ích, phù hợp với nhu cầu và hành vi của từng nhóm khách hàng; đồng thời phòng ngừa gian lận, bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật thông tin và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng, thời gian tới, ngành Ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu hiện có, đặc biệt là kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (CSDLQGvDV).
Xem thêm
Điều hành chính sách tiền tệ tiếp tục góp phần đưa kinh tế Việt Nam trở thành điểm sáng khu vực

Điều hành chính sách tiền tệ tiếp tục góp phần đưa kinh tế Việt Nam trở thành điểm sáng khu vực

Năm 2025 là một năm đầy khó khăn, thách thức đối với điều hành kinh tế vĩ mô nói chung và công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) nói riêng. Tuy nhiên, khép lại năm 2025, bức tranh kinh tế nước ta tiếp tục là điểm sáng khi tăng trưởng GDP dẫn đầu khu vực và thuộc nhóm cao trên thế giới; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Đóng góp vào thành công đó có vai trò quan trọng của điều hành chính sách tiền tệ của NHNN.
Củng cố nền tảng tăng trưởng và sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2026

Củng cố nền tảng tăng trưởng và sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2026

Bài viết này phân tích toàn diện những chuyển động lớn của nền kinh tế Việt Nam năm 2025, chỉ ra các kết quả đạt được, những hạn chế mang tính cơ cấu và các rủi ro tiềm ẩn, qua đó gợi mở các định hướng chính sách trọng tâm nhằm nâng cao nội lực, sức chống chịu và chất lượng tăng trưởng trong năm 2026.
Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng: Khát vọng, mô hình và chiến lược thích ứng của các ngân hàng Việt Nam

Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng: Khát vọng, mô hình và chiến lược thích ứng của các ngân hàng Việt Nam

Bài viết phân tích việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng như một mô hình hệ sinh thái tài chính bậc cao, làm rõ nền tảng pháp lý đột phá, lợi thế chiến lược của Đà Nẵng và những yêu cầu thích ứng đặt ra đối với hệ thống ngân hàng trong nước trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế sâu rộng.
Chính sách tài khóa, tiền tệ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2025: Những điểm sáng và định hướng năm 2026

Chính sách tài khóa, tiền tệ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2025: Những điểm sáng và định hướng năm 2026

Bài viết phân tích toàn diện những điểm sáng trong điều hành chính sách tài khóa và tiền tệ của Việt Nam năm 2025, qua đó làm rõ vai trò phối hợp chính sách vĩ mô trong thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế và đề xuất định hướng trọng tâm cho năm bản lề 2026.
Kinh tế Việt Nam: Những thành tựu giai đoạn 2021 - 2025 và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Kinh tế Việt Nam: Những thành tựu giai đoạn 2021 - 2025 và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bài viết khái quát những thành tựu nổi bật của kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 trong bối cảnh có nhiều biến động toàn cầu, đồng thời phân tích mục tiêu, định hướng và các đột phá chiến lược nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.
Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Kết quả khảo sát năm 2025 của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) cho thấy thị trường ngoại hối toàn cầu đã sôi động trở lại từ đầu quý II/2025, với quy mô giao dịch tăng mạnh dưới tác động của bất ổn kinh tế, biến động tỉ giá USD và những điều chỉnh chiến lược phòng hộ, đầu cơ của các chủ thể tham gia thị trường.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng