Thành công trong chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025 - Nền tảng cho phát triển an toàn, bền vững hệ thống tài chính
Năm 2025, với sự tích cực triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Đề án 06 (Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030) đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuyển đổi số của ngành Ngân hàng Việt Nam với nhiều kết quả nổi bật trên các phương diện thể chế, hạ tầng số, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và thanh toán không dùng tiền mặt. Bài viết phân tích thực trạng chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025 trên cơ sở các số liệu chính thức, đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế tồn tại, đồng thời gợi mở định hướng triển khai trong giai đoạn tới.
1. Kết quả chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025
1.1. Hoàn thiện thể chế và hành lang pháp lý cho chuyển đổi số
Năm 2025, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng; Nghị định số 368/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động, tạo tiền đề pháp lý cho việc triển khai các mô hình, sản phẩm, dịch vụ tài chính ứng dụng công nghệ mới.
Bên cạnh đó, NHNN đã ban hành 84 thông tư theo chương trình xây dựng văn bản năm 2025, trong đó nhiều thông tư trực tiếp tháo gỡ các điểm nghẽn cho phép sử dụng dữ liệu điện tử, định danh số, lý lịch tư pháp trong hoạt động ngân hàng, trực tiếp cắt giảm thời gian, chi phí và thủ tục cho người dân, doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ triển khai ngân hàng số.
Ngày 03/11/2025, Thống đốc NHNN đã ban hành hai chiến lược: Chiến lược Chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 20301 và Chiến lược Dữ liệu ngành Ngân hàng đến năm 20302 để định hướng, chỉ đạo các đơn vị trong Ngành tổ chức triển khai công tác chuyển đổi số trong giai đoạn tới.
1.2. Phát triển hạ tầng số và các nền tảng dùng chung
Trong năm 2025, hạ tầng công nghệ thông tin của NHNN tiếp tục được duy trì hoạt động ổn định, an toàn và thông suốt: Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng - hệ thống thanh toán xương sống của quốc gia đã xử lý 142,5 triệu giao dịch với tổng giá trị 389,3 triệu tỉ đồng, tăng 6,07% về số lượng và 56,55% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024. Trung bình mỗi ngày, hệ thống xử lý gần 589 nghìn giao dịch với giá trị hơn 1,61 triệu tỉ đồng.
Đối với hệ thống ngân hàng lõi, quản lý kế toán, tài chính và ngân sách: Tính đến ngày 15/12/2025, hệ thống đã xử lý 437 phiên đấu thầu trên hệ thống thị trường mở AMO/CSD với tổng giá trị đấu thầu đạt 5.305 nghìn tỉ VND, tăng 19% về số lượng và 100% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024; tổng số giao dịch phát sinh trên Hệ thống quản trị nguồn lực (ERP) cũng ghi nhận 23,6 triệu giao dịch, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2024.
Ngoài ra, các hệ thống nghiệp vụ khác của NHNN cũng ghi nhận khối lượng xử lý lớn, phản ánh mức độ số hóa ngày càng cao trong hoạt động quản lý nhà nước về tiền tệ, ngân hàng.
Về phía các tổ chức tín dụng, hầu hết dịch vụ ngân hàng cơ bản đã được thực hiện trên kênh số, nhiều ngân hàng đạt 98% giao dịch thực hiện trên kênh số. Hệ sinh thái số, thanh toán số đã được thiết lập kết nối giữa dịch vụ ngân hàng với nhiều dịch vụ khác trong nền kinh tế để cung ứng trải nghiệm liền mạch cho khách hàng. Nhiều ngân hàng đã và đang ứng dụng các công nghệ mới (như trí tuệ nhân tạo, học máy, dữ liệu lớn…) trong các hoạt động nghiệp vụ, phân tích hành vi, nhu cầu, đánh giá khách hàng, giúp tối ưu hóa, cá nhân hóa việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ cũng như tự động hóa quy trình, nâng cao hiệu quả hoạt động.
Các dịch vụ trên Cổng dịch vụ công Quốc gia, dịch vụ dân sinh3 đều đã được kết nối với ứng dụng di động của ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán. Điều này cho phép người dân, doanh nghiệp giao dịch thanh toán trực tuyến an toàn, thuận tiện, tiết kiệm thời gian, chi phí ngay trên ứng dụng, nền tảng số quen thuộc hằng ngày.
1.3. Phát triển dữ liệu và kết nối, chia sẻ thông tin
Nhằm phục vụ hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố, NHNN đã hoàn thành việc kết nối kỹ thuật và xây dựng hệ thống liên thông với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Cùng với đó, NHNN đã xây dựng ba kho dữ liệu quan trọng gồm: (1) Kho dữ liệu NHNN thu thập từ hơn 1.470 đơn vị và các hệ thống thông tin nội bộ; (2) Kho dữ liệu thông tin tín dụng lưu trữ thông tin của trên 54 triệu khách hàng vay; (3) Kho dữ liệu phục vụ phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ vũ khí hủy diệt hàng loạt. Đến cuối năm 2025, kho dữ liệu tập trung của NHNN có trên 40 tỉ dòng dữ liệu. Cơ sở dữ liệu thông tin tín dụng hiện lưu trữ dữ liệu của 55 triệu khách hàng với dung lượng khoảng 70 TB; cơ sở dữ liệu phòng, chống rửa tiền lưu trữ thông tin của 36 triệu khách hàng, 154 triệu tài khoản và 1,3 tỉ giao dịch. Đặc biệt, 4/4 cơ sở dữ liệu của NHNN được giao tại Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết số 71/NQ-CP4 đã hoàn thành đồng bộ lên Trung tâm dữ liệu quốc gia, bảo đảm yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, đồng bộ, kết nối, dùng chung”.
Về phía các tổ chức tín dụng, trung gian thanh toán, các đơn vị đã tích cực triển khai Đề án 06 của Chính phủ trong việc kết nối, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư vào các hoạt động nghiệp vụ. Tính đến ngày 14/12/2025, có 57 tổ chức tín dụng và 39 tổ chức trung gian thanh toán đã triển khai ứng dụng thẻ căn cước công dân (CCCD) gắn chíp qua ứng dụng điện thoại; 63 tổ chức tín dụng đã triển khai ứng dụng thẻ CCCD gắn chíp qua thiết bị tại quầy; 32 tổ chức tín dụng và 15 trung gian thanh toán đang triển khai ứng dụng VNeID, trong đó có 21 đơn vị đã triển khai chính thức (gồm 16 tổ chức tín dụng và 05 trung gian thanh toán); 28 ngân hàng và 04 trung gian thanh toán đã triển khai liên kết tài khoản ngân hàng, ví điện tử phục vụ cho chi trả an sinh xã hội thông qua ứng dụng VNeID. Toàn ngành Ngân hàng đã có hơn 143 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân (CIF) và hơn 1,5 triệu hồ sơ khách hàng tổ chức được đối chiếu sinh trắc học qua CCCD gắn chíp hoặc ứng dụng VNeID.
1.4. Đổi mới sáng tạo trong ngành Ngân hàng
Phong trào đổi mới sáng tạo tiếp tục được đẩy mạnh nhằm khuyến khích cán bộ chủ động đề xuất các giải pháp cải tiến quy trình, ứng dụng công nghệ số vào công việc và phát triển các sản phẩm ứng dụng số phục vụ hoạt động quản lý, điều hành và nghiệp vụ. Năm 2025, toàn ngành Ngân hàng ghi nhận 1.484 sáng kiến, trong đó 1.438 sáng kiến đến từ các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trong đó nhiều sáng kiến đã được ứng dụng vào thực tiễn. Các sáng kiến tập trung mạnh vào ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, học máy trong phân tích hành vi khách hàng, quản trị rủi ro, phát hiện gian lận và cá nhân hóa sản phẩm, dịch vụ. Một số ngân hàng thương mại lớn có số lượng sáng kiến nổi bật như Ngân hàng Thương mại cổ phần (NHTMCP) Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) với 163 sáng kiến, NHTMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) với 92 sáng kiến, NHTMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) với 80 sáng kiến, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) với 59 sáng kiến.
1.5. Thanh toán không dùng tiền mặt và ngân hàng số
Trong năm 2025, thanh toán không dùng tiền mặt và ngân hàng số có những bước tiến đáng kể. So với cùng kỳ năm 2024, giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 42,34% về số lượng và 22,59% về giá trị; qua kênh Internet tăng 52,91% về số lượng và 36,25% về giá trị; qua kênh điện thoại di động tăng 36,48% về số lượng và 20,48% về giá trị; giao dịch qua QR Code tăng 54,45% về số lượng và 141,02% về giá trị; qua hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử tăng 22,42% về số lượng và 7,14% về giá trị. Khoảng 87% người trưởng thành Việt Nam có tài khoản thanh toán.
Đến cuối tháng 11/2025, dịch vụ Tiền di động có hơn 10,89 triệu tài khoản, trong đó khoảng 70% thuộc khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện.
1.6. Về cải cách thủ tục hành chính
Trong lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính, NHNN đã đạt được những con số ấn tượng khi cắt giảm, đơn giản hóa 269/298 thủ tục (đạt 90,3%) và bãi bỏ 255 điều kiện kinh doanh. Đến ngày 15/12/2025, việc triển khai hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung đã đưa 100% thủ tục liên quan đến doanh nghiệp và đủ điều kiện lên dịch vụ công trực tuyến toàn trình, không phụ thuộc địa giới hành chính. Hiệu quả thực thi được minh chứng qua các chỉ số tính đến cuối tháng 12/2025 với tỉ lệ cấp hồ sơ kết quả điện tử đạt 86,64%, tỉ lệ số hóa hồ sơ đạt 78,38% và 90,51% tổ chức hài lòng đối với việc giải quyết thủ tục hành chính tại NHNN, qua đó phản ánh sự tin tưởng và lựa chọn thực chất của người dân, doanh nghiệp đối với giải quyết thủ tục hành chính qua phương thức số.
Nhìn chung, năm 2025, chuyển đổi số đã được triển khai đồng bộ, toàn diện trong ngành Ngân hàng, từ khâu xây dựng thể chế, đầu tư hạ tầng đến phát triển dữ liệu và cung ứng dịch vụ số. Hệ thống thanh toán quốc gia vận hành an toàn, thông suốt với quy mô và giá trị giao dịch lớn; ngân hàng số và thanh toán không dùng tiền mặt tăng trưởng mạnh; dữ liệu ngày càng trở thành tài sản chiến lược phục vụ quản lý, giám sát và điều hành.
Bên cạnh các kết quả tích cực, quá trình chuyển đổi số ngành Ngân hàng vẫn đối mặt với một số thách thức như yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh mạng ngày càng cao; sự không đồng đều về năng lực chuyển đổi số giữa các tổ chức tín dụng; áp lực hoàn thiện thể chế cho các mô hình tài chính số mới; nhu cầu lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ và dữ liệu.
2. Định hướng trong thời gian tới
Trên cơ sở đánh giá bối cảnh chuyển đổi số trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng và những yêu cầu đặt ra đối với quá trình hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, có thể xác định một số định hướng phát triển chuyển đổi số ngành Ngân hàng trong thời gian tới nhằm bảo đảm hoạt động an toàn, hiệu quả và phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế số:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật kịp thời, tạo điều kiện cho thử nghiệm và triển khai các mô hình ngân hàng số, tài chính số mới, đồng thời bảo đảm an toàn hệ thống.
Thứ hai, đẩy mạnh đầu tư chiều sâu cho hạ tầng số và hạ tầng dữ liệu ngành Ngân hàng, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia cũng như các bộ, ban, ngành, phục vụ hiệu quả công tác quản lý và cung ứng dịch vụ.
Thứ ba, tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, coi đây là yếu tố then chốt để duy trì niềm tin của người dân và doanh nghiệp đối với hệ thống ngân hàng số.
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực số chất lượng cao, kết hợp đào tạo nội bộ với thu hút chuyên gia công nghệ, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số bền vững.
Năm 2025 ghi nhận những bước tiến quan trọng trong chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam, với nhiều kết quả nổi bật và có chiều sâu. Chuyển đổi số đã và đang trở thành động lực cốt lõi thúc đẩy hiện đại hóa hoạt động ngân hàng, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế số. Trong bối cảnh yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, ngành Ngân hàng cần tiếp tục kiên định mục tiêu chuyển đổi số toàn diện, lấy dữ liệu và công nghệ làm nền tảng, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.
1 Quyết định số 3579/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN phê duyệt Chiến lược chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2030.
2 Quyết định số 3580/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN phê duyệt Chiến lược dữ liệu ngành Ngân hàng đến năm 2030.
3 Như dịch vụ thanh toán điện, nước, viễn thông, y tế, giáo dục, hàng hóa trên các sàn thương mại điện tử, dịch vụ gọi xe, đặt nhà hàng, tour du lịch trên các nền tảng số...
4 Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Tin bài khác
Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và khả năng tiếp cận tín dụng trong bối cảnh chuyển đổi số
Xu hướng hình thành các quỹ thị trường tiền mã hóa
Ứng dụng công nghệ Blockchain trong hoạt động ngân hàng: Nghiên cứu tình huống và bằng chứng thực nghiệm
Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt vượt nhiều mục tiêu đề ra
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong ngành Ngân hàng và những dự báo chiến lược cho tương lai
Áp dụng mô hình tài chính nhúng tại Việt Nam trong bối cảnh công nghệ số
Ứng dụng công nghệ số và kết nối dữ liệu - Gia tăng tiện ích cho khách hàng
Điều hành chính sách tiền tệ tiếp tục góp phần đưa kinh tế Việt Nam trở thành điểm sáng khu vực
Củng cố nền tảng tăng trưởng và sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2026
Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng: Khát vọng, mô hình và chiến lược thích ứng của các ngân hàng Việt Nam
Chính sách tài khóa, tiền tệ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2025: Những điểm sáng và định hướng năm 2026
Kinh tế Việt Nam: Những thành tựu giai đoạn 2021 - 2025 và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp
Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới