Thành công trong chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025 - Nền tảng cho phát triển an toàn, bền vững hệ thống tài chính

Công nghệ & ngân hàng số
Chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu và là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đối với ngành Ngân hàng, chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu nội tại nhằm hiện đại hóa hoạt động quản lý, điều hành và kinh doanh, mà còn giữ vai trò then chốt trong việc thúc đẩy kinh tế số, tài chính toàn diện và cải cách hành chính.
aa

Năm 2025, với sự tích cực triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Đề án 06 (Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030) đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuyển đổi số của ngành Ngân hàng Việt Nam với nhiều kết quả nổi bật trên các phương diện thể chế, hạ tầng số, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và thanh toán không dùng tiền mặt. Bài viết phân tích thực trạng chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025 trên cơ sở các số liệu chính thức, đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế tồn tại, đồng thời gợi mở định hướng triển khai trong giai đoạn tới.

1. Kết quả chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025

1.1. Hoàn thiện thể chế và hành lang pháp lý cho chuyển đổi số

Năm 2025, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng; Nghị định số 368/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động, tạo tiền đề pháp lý cho việc triển khai các mô hình, sản phẩm, dịch vụ tài chính ứng dụng công nghệ mới.

Bên cạnh đó, NHNN đã ban hành 84 thông tư theo chương trình xây dựng văn bản năm 2025, trong đó nhiều thông tư trực tiếp tháo gỡ các điểm nghẽn cho phép sử dụng dữ liệu điện tử, định danh số, lý lịch tư pháp trong hoạt động ngân hàng, trực tiếp cắt giảm thời gian, chi phí và thủ tục cho người dân, doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ triển khai ngân hàng số.

Ngày 03/11/2025, Thống đốc NHNN đã ban hành hai chiến lược: Chiến lược Chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 20301 và Chiến lược Dữ liệu ngành Ngân hàng đến năm 20302 để định hướng, chỉ đạo các đơn vị trong Ngành tổ chức triển khai công tác chuyển đổi số trong giai đoạn tới.

1.2. Phát triển hạ tầng số và các nền tảng dùng chung

Trong năm 2025, hạ tầng công nghệ thông tin của NHNN tiếp tục được duy trì hoạt động ổn định, an toàn và thông suốt: Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng - hệ thống thanh toán xương sống của quốc gia đã xử lý 142,5 triệu giao dịch với tổng giá trị 389,3 triệu tỉ đồng, tăng 6,07% về số lượng và 56,55% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024. Trung bình mỗi ngày, hệ thống xử lý gần 589 nghìn giao dịch với giá trị hơn 1,61 triệu tỉ đồng.

Đối với hệ thống ngân hàng lõi, quản lý kế toán, tài chính và ngân sách: Tính đến ngày 15/12/2025, hệ thống đã xử lý 437 phiên đấu thầu trên hệ thống thị trường mở AMO/CSD với tổng giá trị đấu thầu đạt 5.305 nghìn tỉ VND, tăng 19% về số lượng và 100% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024; tổng số giao dịch phát sinh trên Hệ thống quản trị nguồn lực (ERP) cũng ghi nhận 23,6 triệu giao dịch, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2024.

Ngoài ra, các hệ thống nghiệp vụ khác của NHNN cũng ghi nhận khối lượng xử lý lớn, phản ánh mức độ số hóa ngày càng cao trong hoạt động quản lý nhà nước về tiền tệ, ngân hàng.

Về phía các tổ chức tín dụng, hầu hết dịch vụ ngân hàng cơ bản đã được thực hiện trên kênh số, nhiều ngân hàng đạt 98% giao dịch thực hiện trên kênh số. Hệ sinh thái số, thanh toán số đã được thiết lập kết nối giữa dịch vụ ngân hàng với nhiều dịch vụ khác trong nền kinh tế để cung ứng trải nghiệm liền mạch cho khách hàng. Nhiều ngân hàng đã và đang ứng dụng các công nghệ mới (như trí tuệ nhân tạo, học máy, dữ liệu lớn…) trong các hoạt động nghiệp vụ, phân tích hành vi, nhu cầu, đánh giá khách hàng, giúp tối ưu hóa, cá nhân hóa việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ cũng như tự động hóa quy trình, nâng cao hiệu quả hoạt động.

Các dịch vụ trên Cổng dịch vụ công Quốc gia, dịch vụ dân sinh3 đều đã được kết nối với ứng dụng di động của ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán. Điều này cho phép người dân, doanh nghiệp giao dịch thanh toán trực tuyến an toàn, thuận tiện, tiết kiệm thời gian, chi phí ngay trên ứng dụng, nền tảng số quen thuộc hằng ngày.

1.3. Phát triển dữ liệu và kết nối, chia sẻ thông tin

Nhằm phục vụ hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố, NHNN đã hoàn thành việc kết nối kỹ thuật và xây dựng hệ thống liên thông với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Cùng với đó, NHNN đã xây dựng ba kho dữ liệu quan trọng gồm: (1) Kho dữ liệu NHNN thu thập từ hơn 1.470 đơn vị và các hệ thống thông tin nội bộ; (2) Kho dữ liệu thông tin tín dụng lưu trữ thông tin của trên 54 triệu khách hàng vay; (3) Kho dữ liệu phục vụ phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ vũ khí hủy diệt hàng loạt. Đến cuối năm 2025, kho dữ liệu tập trung của NHNN có trên 40 tỉ dòng dữ liệu. Cơ sở dữ liệu thông tin tín dụng hiện lưu trữ dữ liệu của 55 triệu khách hàng với dung lượng khoảng 70 TB; cơ sở dữ liệu phòng, chống rửa tiền lưu trữ thông tin của 36 triệu khách hàng, 154 triệu tài khoản và 1,3 tỉ giao dịch. Đặc biệt, 4/4 cơ sở dữ liệu của NHNN được giao tại Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết số 71/NQ-CP4 đã hoàn thành đồng bộ lên Trung tâm dữ liệu quốc gia, bảo đảm yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, đồng bộ, kết nối, dùng chung”.

Về phía các tổ chức tín dụng, trung gian thanh toán, các đơn vị đã tích cực triển khai Đề án 06 của Chính phủ trong việc kết nối, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư vào các hoạt động nghiệp vụ. Tính đến ngày 14/12/2025, có 57 tổ chức tín dụng và 39 tổ chức trung gian thanh toán đã triển khai ứng dụng thẻ căn cước công dân (CCCD) gắn chíp qua ứng dụng điện thoại; 63 tổ chức tín dụng đã triển khai ứng dụng thẻ CCCD gắn chíp qua thiết bị tại quầy; 32 tổ chức tín dụng và 15 trung gian thanh toán đang triển khai ứng dụng VNeID, trong đó có 21 đơn vị đã triển khai chính thức (gồm 16 tổ chức tín dụng và 05 trung gian thanh toán); 28 ngân hàng và 04 trung gian thanh toán đã triển khai liên kết tài khoản ngân hàng, ví điện tử phục vụ cho chi trả an sinh xã hội thông qua ứng dụng VNeID. Toàn ngành Ngân hàng đã có hơn 143 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân (CIF) và hơn 1,5 triệu hồ sơ khách hàng tổ chức được đối chiếu sinh trắc học qua CCCD gắn chíp hoặc ứng dụng VNeID.

1.4. Đổi mới sáng tạo trong ngành Ngân hàng

Phong trào đổi mới sáng tạo tiếp tục được đẩy mạnh nhằm khuyến khích cán bộ chủ động đề xuất các giải pháp cải tiến quy trình, ứng dụng công nghệ số vào công việc và phát triển các sản phẩm ứng dụng số phục vụ hoạt động quản lý, điều hành và nghiệp vụ. Năm 2025, toàn ngành Ngân hàng ghi nhận 1.484 sáng kiến, trong đó 1.438 sáng kiến đến từ các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trong đó nhiều sáng kiến đã được ứng dụng vào thực tiễn. Các sáng kiến tập trung mạnh vào ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, học máy trong phân tích hành vi khách hàng, quản trị rủi ro, phát hiện gian lận và cá nhân hóa sản phẩm, dịch vụ. Một số ngân hàng thương mại lớn có số lượng sáng kiến nổi bật như Ngân hàng Thương mại cổ phần (NHTMCP) Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) với 163 sáng kiến, NHTMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) với 92 sáng kiến, NHTMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) với 80 sáng kiến, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) với 59 sáng kiến.

1.5. Thanh toán không dùng tiền mặt và ngân hàng số

Trong năm 2025, thanh toán không dùng tiền mặt và ngân hàng số có những bước tiến đáng kể. So với cùng kỳ năm 2024, giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 42,34% về số lượng và 22,59% về giá trị; qua kênh Internet tăng 52,91% về số lượng và 36,25% về giá trị; qua kênh điện thoại di động tăng 36,48% về số lượng và 20,48% về giá trị; giao dịch qua QR Code tăng 54,45% về số lượng và 141,02% về giá trị; qua hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử tăng 22,42% về số lượng và 7,14% về giá trị. Khoảng 87% người trưởng thành Việt Nam có tài khoản thanh toán.

Đến cuối tháng 11/2025, dịch vụ Tiền di động có hơn 10,89 triệu tài khoản, trong đó khoảng 70% thuộc khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện.

1.6. Về cải cách thủ tục hành chính

Trong lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính, NHNN đã đạt được những con số ấn tượng khi cắt giảm, đơn giản hóa 269/298 thủ tục (đạt 90,3%) và bãi bỏ 255 điều kiện kinh doanh. Đến ngày 15/12/2025, việc triển khai hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung đã đưa 100% thủ tục liên quan đến doanh nghiệp và đủ điều kiện lên dịch vụ công trực tuyến toàn trình, không phụ thuộc địa giới hành chính. Hiệu quả thực thi được minh chứng qua các chỉ số tính đến cuối tháng 12/2025 với tỉ lệ cấp hồ sơ kết quả điện tử đạt 86,64%, tỉ lệ số hóa hồ sơ đạt 78,38% và 90,51% tổ chức hài lòng đối với việc giải quyết thủ tục hành chính tại NHNN, qua đó phản ánh sự tin tưởng và lựa chọn thực chất của người dân, doanh nghiệp đối với giải quyết thủ tục hành chính qua phương thức số.

Nhìn chung, năm 2025, chuyển đổi số đã được triển khai đồng bộ, toàn diện trong ngành Ngân hàng, từ khâu xây dựng thể chế, đầu tư hạ tầng đến phát triển dữ liệu và cung ứng dịch vụ số. Hệ thống thanh toán quốc gia vận hành an toàn, thông suốt với quy mô và giá trị giao dịch lớn; ngân hàng số và thanh toán không dùng tiền mặt tăng trưởng mạnh; dữ liệu ngày càng trở thành tài sản chiến lược phục vụ quản lý, giám sát và điều hành.

Bên cạnh các kết quả tích cực, quá trình chuyển đổi số ngành Ngân hàng vẫn đối mặt với một số thách thức như yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh mạng ngày càng cao; sự không đồng đều về năng lực chuyển đổi số giữa các tổ chức tín dụng; áp lực hoàn thiện thể chế cho các mô hình tài chính số mới; nhu cầu lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ và dữ liệu.

2. Định hướng trong thời gian tới

Trên cơ sở đánh giá bối cảnh chuyển đổi số trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng và những yêu cầu đặt ra đối với quá trình hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, có thể xác định một số định hướng phát triển chuyển đổi số ngành Ngân hàng trong thời gian tới nhằm bảo đảm hoạt động an toàn, hiệu quả và phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế số:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật kịp thời, tạo điều kiện cho thử nghiệm và triển khai các mô hình ngân hàng số, tài chính số mới, đồng thời bảo đảm an toàn hệ thống.

Thứ hai, đẩy mạnh đầu tư chiều sâu cho hạ tầng số và hạ tầng dữ liệu ngành Ngân hàng, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia cũng như các bộ, ban, ngành, phục vụ hiệu quả công tác quản lý và cung ứng dịch vụ.

Thứ ba, tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, coi đây là yếu tố then chốt để duy trì niềm tin của người dân và doanh nghiệp đối với hệ thống ngân hàng số.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực số chất lượng cao, kết hợp đào tạo nội bộ với thu hút chuyên gia công nghệ, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số bền vững.

Năm 2025 ghi nhận những bước tiến quan trọng trong chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam, với nhiều kết quả nổi bật và có chiều sâu. Chuyển đổi số đã và đang trở thành động lực cốt lõi thúc đẩy hiện đại hóa hoạt động ngân hàng, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế số. Trong bối cảnh yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, ngành Ngân hàng cần tiếp tục kiên định mục tiêu chuyển đổi số toàn diện, lấy dữ liệu và công nghệ làm nền tảng, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

1 Quyết định số 3579/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN phê duyệt Chiến lược chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2030.

2 Quyết định số 3580/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN phê duyệt Chiến lược dữ liệu ngành Ngân hàng đến năm 2030.

3 Như dịch vụ thanh toán điện, nước, viễn thông, y tế, giáo dục, hàng hóa trên các sàn thương mại điện tử, dịch vụ gọi xe, đặt nhà hàng, tour du lịch trên các nền tảng số...

4 Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Lê Hoàng Chính Quang
Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin, NHNN

Tin bài khác

Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động hai mặt của số hóa tài chính đối với sức khỏe tài chính hộ gia đình, qua đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ sinh thái tài chính số an toàn, bao trùm và bền vững trong kỷ nguyên chuyển đổi số.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết này phân tích thực trạng bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, đồng thời chỉ ra những rủi ro ngày càng gia tăng trong bối cảnh số hóa, từ đó đề xuất các giải pháp đồng bộ về pháp lý, công nghệ, nhân lực và quản lý nhằm xây dựng một hệ sinh thái ngân hàng số an toàn và bền vững.
Nâng cao hiệu quả an ninh mạng thông qua “human firewall” tại các ngân hàng Việt Nam

Nâng cao hiệu quả an ninh mạng thông qua “human firewall” tại các ngân hàng Việt Nam

Trong bối cảnh các mối đe dọa an ninh mạng ngày càng khai thác yếu tố con người, việc xây dựng “human firewall” trở thành trụ cột chiến lược giúp ngành Ngân hàng Việt Nam nâng cao năng lực phòng vệ và thích ứng với môi trường số hóa.
Đánh giá "tính tiền tệ" của Stablecoin và khuyến nghị đối với ổn định tiền tệ, tài chính

Đánh giá "tính tiền tệ" của Stablecoin và khuyến nghị đối với ổn định tiền tệ, tài chính

Bài viết phân tích “tính tiền tệ” của Stablecoin (tiền mã hóa ổn định), qua đó chỉ ra những giới hạn và hàm ý chính sách nhằm bảo đảm ổn định tiền tệ và tài chính trong kỷ nguyên số.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong dịch vụ ngân hàng số và thanh toán điện tử tại Việt Nam

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong dịch vụ ngân hàng số và thanh toán điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích những thách thức nổi bật trong bảo vệ dữ liệu cá nhân trong ngân hàng số và thanh toán điện tử tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường an toàn thông tin và củng cố niềm tin của khách hàng trong môi trường tài chính số.
Tăng cường quản trị và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng nhằm kiến tạo niềm tin số

Tăng cường quản trị và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng nhằm kiến tạo niềm tin số

Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu cá nhân ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu cao về quản trị và bảo vệ thông tin. Bài viết phân tích vai trò của dữ liệu cá nhân, các rủi ro phát sinh trong ngân hàng số và khung pháp lý hiện hành tại Việt Nam, qua đó đề xuất một số định hướng nhằm tăng cường quản trị dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư của khách hàng và củng cố niềm tin số trong hệ thống ngân hàng.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân

An ninh mạng, an ninh dữ liệu và an toàn thông tin là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời khỏi quá trình chuyển đổi số ngân hàng. Việc phát triển sản phẩm, dịch vụ số phải đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm hoạt động liên tục của các hệ thống thông tin quan trọng và quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng. Vì thế, thời gian qua, công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán và các hệ thống thông tin ứng dụng nghiệp vụ ngân hàng luôn được quan tâm chú trọng. Bên cạnh đó, ngành Ngân hàng thường xuyên phối hợp với các cơ quan chức năng nhằm tăng cường công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao.
Xem thêm
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng