Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Hoạt động ngân hàng
Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
aa

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Phạm Tiến Dũng đã chia sẻ với Tạp chí Ngân hàng về bức tranh chuyển đổi số ngân hàng, đồng thời cho biết một số giải pháp thời gian tới nhằm góp phần hiện thực hóa mục tiêu kinh tế số, xã hội số, Chính phủ số.

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng
Phó Thống đốc NHNN Phạm Tiến Dũng

Phóng viên: Thưa Phó Thống đốc, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Trên hành trình chuyển đổi số, Ngân hàng được ghi nhận là ngành tiên phong, đi đầu, góp phần hiện thực hóa mục tiêu kinh tế số, xã hội số, Chính phủ số. Xin Phó Thống đốc cho biết thêm về những thành tựu mà ngành Ngân hàng đạt được trong công cuộc chuyển đổi số?

Phó Thống đốc:

Đảng, Nhà nước xác định chuyển đổi số là xu thế tất yếu, yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược, ưu tiên hàng đầu để phát triển nhanh và bền vững. Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là kim chỉ nam cho công cuộc chuyển đổi số quốc gia, hướng tới sự phát triển trong kỷ nguyên mới.

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đã đạt được nhiều kết quả tích cực, cụ thể như:

Thứ nhất, về xây dựng, hoàn thiện thể chế, thời gian qua, NHNN, các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, tham mưu trình Quốc hội, Chính phủ ban hành và ban hành theo thẩm quyền nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế về ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) như: Luật Phòng, chống rửa tiền; Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD); Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính phủ quy định về TTKDTM; Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 của Chính phủ quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng - đây là dấu mốc quan trọng, lần đầu tiên tạo hành lang pháp lý linh hoạt cho lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech). Đồng thời, NHNN đã tham mưu trình Chính phủ ban hành Nghị định số 368/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động nhằm tăng cường việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ thanh toán, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam.

Thứ hai, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số ngành Ngân hàng luôn được chú trọng đầu tư, nâng cấp, phát triển. Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng hoạt động thông suốt, an toàn, hiệu quả. Hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử do Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia (Napas) tổ chức, vận hành tiếp tục đẩy mạnh tích hợp, kết nối sản phẩm, dịch vụ, nền tảng với các ngành, lĩnh vực khác để cung cấp dịch vụ công qua Cổng dịch vụ công Quốc gia, tập trung vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, giao thông. Mạng lưới ATM, POS phủ đến hầu hết các địa phương trên toàn quốc. Hiện nay, Việt Nam đã hoàn tất kết nối hệ thống thanh toán bán lẻ xuyên biên giới qua QR Code với Thái Lan, Campuchia, Lào, Trung Quốc và đang triển khai kết nối thanh toán QR với một số quốc gia khác.

Hạ tầng thông tin tín dụng (TTTD) quốc gia nâng cấp để gia tăng khả năng xử lý, cập nhật dữ liệu tự động, đồng thời đẩy mạnh triển khai kênh kết nối H2H (Host to Host) tới 55 TCTD nhằm hỗ trợ các TCTD tiết kiệm thời gian, nhân lực, giảm chi phí hoạt động và đảm bảo tính an toàn, minh bạch của hoạt động TTTD.

Thứ ba, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ số của ngành Ngân hàng với nhiều phương thức thanh toán hiện đại, tiện lợi được kết nối liên thông, tích hợp liền mạch, xuyên suốt với các ngành, lĩnh vực khác. Nhiều sản phẩm, dịch vụ ngân hàng thân thiện giàu tiện ích, đem lại giá trị thiết thực đáp ứng tốt nhu cầu đa dạng của khách hàng. Nhiều nghiệp vụ cơ bản đã được số hóa 100%. Nhiều TCTD tại Việt Nam có tỉ lệ trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số. Đến nay, có hơn 87% người Việt Nam trưởng thành có tài khoản ngân hàng. Hoạt động TTKDTM tiếp tục phát triển mạnh.

Thứ tư, về kết nối, liên thông dữ liệu, ngành Ngân hàng tiếp tục chú trọng đầu tư và nâng cấp hạ tầng dữ liệu mới nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và phát triển sản phẩm, dịch vụ, bảo đảm cập nhật dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. Một trong những điểm nhấn mang tính bước ngoặt chính là sự phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an để "làm sạch" dữ liệu theo Đề án 06 (Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030). Tính đến hết ngày 31/12/2025, cả ngành Ngân hàng đã có hơn 143 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân; hơn 1,5 triệu hồ sơ khách hàng tổ chức có tài khoản thanh toán đã được đối chiếu thông tin sinh trắc học qua căn cước công dân (CCCD) gắn chíp hoặc ứng dụng VNeID.

NHNN là một trong những bộ, ngành hoàn thành sớm nhiệm vụ đồng bộ 100% cơ sở dữ liệu chuyên ngành được giao lên Trung tâm dữ liệu quốc gia theo Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Không chỉ dừng lại ở nội bộ, NHNN còn chủ động xây dựng các giao diện lập trình ứng dụng (API), chia sẻ dữ liệu liên thông với Văn phòng Chính phủ và Kiểm toán Nhà nước qua nền tảng NDXP (nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia), góp phần tạo nên một hệ sinh thái dữ liệu mở và hiệu quả cho cả hệ thống chính trị.

Thứ năm, công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán và các hệ thống thông tin ứng dụng nghiệp vụ ngân hàng, phòng chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng luôn được quan tâm, chú trọng. NHNN thường xuyên, chủ động theo dõi, chỉ đạo các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, dịch vụ trung gian thanh toán tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán. Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro cho khách hàng (SIMO) của NHNN đã triển khai thí điểm, đến hết ngày 31/12/2025, có hơn 2,4 triệu lượt khách hàng nhận được cảnh báo, trong đó có hơn 776 nghìn lượt khách hàng đã tạm dừng/hủy bỏ giao dịch sau khi nhận cảnh báo với tổng số tiền giao dịch tương ứng là gần 2,9 nghìn tỉ đồng. Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng trong công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao.

Thứ sáu, công tác cải cách hành chính gắn liền với số hóa toàn trình cũng được đẩy mạnh để tiết giảm chi phí cho người dân và doanh nghiệp. Nhiều năm liên tục, NHNN đứng trong top dẫn đầu các bộ, ngành về chỉ số Cải cách hành chính. Bên cạnh đó, NHNN đã quyết liệt đề xuất cắt giảm và đơn giản hóa 269 trên tổng số 298 thủ tục hành chính, đạt tỉ lệ 90,3%, đồng thời cắt giảm 255 điều kiện kinh doanh. Năm 2025, NHNN đã chính thức cung cấp thêm 32 dịch vụ công toàn trình, nâng tổng số đã cung cấp lên 57 dịch vụ, hoàn thành 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện liên quan đến doanh nghiệp được nâng cấp lên dịch vụ công toàn trình.

Ngoài ra, hưởng ứng phong trào “Bình dân học vụ số”, ngày 27/5/2025, NHNN đã tổ chức Hội nghị phát động phong trào “Cả nước thi đua đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” và “Bình dân học vụ số” ngành Ngân hàng gắn với thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Các phong trào này nhằm phổ cập tri thức và kỹ năng số, khơi dậy ý chí đổi mới trong từng cán bộ, TCTD và toàn hệ thống ngân hàng. Tinh thần chủ động cải tiến quy trình và ứng dụng công nghệ số đã lan tỏa rộng khắp, giúp toàn Ngành ghi nhận con số ấn tượng 1.484 sáng kiến, trong đó có 37 sáng kiến số được đăng ký trên Cổng Sáng kiến Khoa học và Công nghệ của Bộ Khoa học và Công nghệ.

Cuối cùng, không thể không nhắc đến những dấu ấn tiên phong trong việc đổi mới mô hình tổ chức và huy động nguồn lực chất lượng cao. NHNN đã hoàn thành việc sắp xếp hệ thống thông tin từ 63 chi nhánh về 15 khu vực chỉ trong 03 tháng và cập nhật hệ thống theo mô hình chính quyền 2 cấp trong 03 tuần, đảm bảo hoạt động an toàn, thông suốt, không gián đoạn, không ảnh hưởng đến hoạt động của các TCTD, doanh nghiệp và người dân.

Phóng viên: Thưa Phó Thống đốc, những năm gần đây TTKDTM phát triển mạnh, góp phần hình thành hệ thống thanh toán hiện đại, thông minh. Năm 2025 cũng là năm cuối triển khai Đề án phát triển TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 (Quyết định số 1813/QĐ-TTg ngày 28/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ). Đến nay, giá trị TTKDTM so với GDP ở mức nào? Phó Thống đốc có thể chia sẻ những giải pháp thúc đẩy TTKDTM của NHNN trong thời gian tới?

Phó Thống đốc:

Thực hiện chủ trương, định hướng của Đảng, Chính phủ về thúc đẩy TTKDTM, NHNN đã chủ động, tích cực phối hợp với các bộ, ngành, đơn vị liên quan triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển TTKDTM như tham mưu, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025.

Sau 5 năm triển khai Quyết định số 1813/QĐ-TTg, hoạt động TTKDTM phát triển khá mạnh. Số lượng và giá trị giao dịch TTKDTM bình quân hằng năm tăng tương ứng 58,86% và 24,36%; giá trị TTKDTM năm 2025 gấp khoảng 28 lần GDP, vượt mục tiêu đề ra tại Quyết định số 1813/QĐ-TTg. Trong 11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm 2024, hoạt động TTKDTM tiếp tục tăng trưởng khá: Giao dịch TTKDTM tăng 42,34% về số lượng và 22,59% về giá trị; qua kênh Internet tăng 52,91% về số lượng và 36,25% về giá trị; qua kênh điện thoại di động tăng 36,48% về số lượng và 20,48% về giá trị, trong đó qua phương thức QR Code tăng 54,45% về số lượng và 141,02% về giá trị. Giao dịch qua ATM giảm 17,30% về số lượng và giảm 6,21% về giá trị so với cùng kỳ 2024 - cho thấy tiền mặt đang dần được thay thế trong đời sống hằng ngày.

Như tôi đã đề cập ở trên, ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW; Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW (được sửa đổi, bổ sung, cập nhật tại Nghị quyết số 71/NQ-CP), trong đó có nhiều nội dung liên quan đến phát triển TTKDTM, chuyển đổi số. NHNN đã ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 71/NQ-CP, trong đó giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị liên quan triển khai nhiều giải pháp nhằm đạt được các mục tiêu trên nhằm thúc đẩy phát triển TTKDTM và chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng.

Theo đó, NHNN tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cơ chế, chính sách về TTKDTM, chuyển đổi số; chỉ đạo nâng cấp, phát triển hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử, hệ thống thanh toán của các ngân hàng đảm bảo hoạt động an toàn, hiệu quả và có khả năng kết nối, tích hợp với các hệ thống khác, mở rộng hệ sinh thái thanh toán số để phục vụ thanh toán trực tuyến; tiếp tục đẩy mạnh TTKDTM đối với các dịch vụ công; tăng cường đảm bảo an ninh, an toàn và bảo mật hoạt động thanh toán, ngân hàng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng; đẩy mạnh truyền thông, giáo dục tài chính nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng cho công chúng trong sử dụng sản phẩm, dịch vụ tài chính, ngân hàng.

Phóng viên: Xin Phó Thống đốc chia sẻ một số định hướng, nhiệm vụ mà ngành Ngân hàng sẽ triển khai trong năm 2026 nhằm góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của chuyển đổi số quốc gia?

Phó Thống đốc:

Năm 2026, ngành Ngân hàng tiếp tục thực hiện quyết liệt các nhiệm vụ trọng tâm theo định hướng của Đảng, các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ với phương châm “Hành động đột phá, lan tỏa kết quả”, “lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm”. Trọng tâm sẽ là việc nâng cao nhận thức, đột phá tư duy, hoàn thiện thể chế và tăng cường đầu tư nền tảng số hiện đại và hoàn thiện môi trường làm việc số hóa 100%. Những kết quả đã đạt được trong năm 2025 sẽ là tiền đề vững chắc để ngành Ngân hàng tiếp tục khẳng định vị thế dẫn đầu trong kỷ nguyên số, đóng góp tích cực vào sự phát triển bứt phá của đất nước trong giai đoạn mới.

Theo đó, thời gian tới, NHNN sẽ tập trung triển khai thực hiện một số giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế tạo thuận lợi cho hoạt động chuyển đổi số ngân hàng, ban hành các thông tư, các văn bản quy phạm pháp luật để tiếp tục thúc đẩy và tháo gỡ kịp thời các vướng mắc, điểm nghẽn trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Thứ hai, đảm bảo sự vận hành thông suốt, an toàn của các hệ thống thanh toán. Nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật trong hoạt động ngân hàng, tăng cường khả năng kết nối liên thông và tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.

Thứ ba, tiếp tục phát triển dữ liệu số: Quy hoạch xây dựng các kho dữ liệu dùng chung cho ngành Ngân hàng; đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các Cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và Cổng Dịch vụ công quốc gia; thúc đẩy thanh toán trực tuyến nhanh chóng, tiện lợi, an toàn.

Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cải cách thủ tục hành chính và dịch vụ công trực tuyến; trong đó tiếp tục xây dựng hệ thống giải quyết thủ tục hành chính tập trung, đồng bộ, số hóa toàn diện quy trình, thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu đã được công bố, tài liệu đã được số hóa, giảm thời gian xử lý, nâng cao minh bạch, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tiết giảm chi phí, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ ngân hàng, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị nội bộ.

Thứ năm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu hiện có, đặc biệt là kết nối, sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nhằm đổi mới căn bản phương thức thiết kế, phát triển và cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng theo hướng cá thể hóa, tiện ích, phù hợp với nhu cầu và hành vi của từng nhóm khách hàng; đồng thời nâng cao năng lực cảnh báo sớm, phát hiện và phòng ngừa gian lận, tăng cường bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật thông tin và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng.

Thứ sáu, tiếp tục đẩy mạnh truyền thông, thông tin đến các khách hàng dưới nhiều hình thức để hướng dẫn, nâng cao nhận thức, hiểu biết của khách hàng về ứng dụng công nghệ và những lưu ý, cảnh báo để hỗ trợ khách hàng nhận biết, phòng, tránh rủi ro khi thực hiện giao dịch trên môi trường điện tử.

Thứ bảy, tăng cường phối hợp với các bộ, ngành, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, chuẩn hóa dữ liệu trong từng ngành, lĩnh vực, tạo thuận lợi cho việc tích hợp, kết nối, chia sẻ thông tin với các ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán để mở rộng hệ sinh thái số và phát triển dịch vụ ngân hàng số, thanh toán số.

Thứ tám, xây dựng các chính sách thu hút, đãi ngộ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về công nghệ thông tin, chuyển đổi số. Tăng cường hợp tác, đẩy mạnh học hỏi, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, vận dụng hợp lý, hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn hoạt động ngân hàng tại Việt Nam.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn Phó Thống đốc!

Hà Anh

Tin bài khác

Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Ngày 03/7/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức Hội nghị Sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị nhằm sơ kết, đánh giá những kết quả trong điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời nhận diện những cơ hội, thách thức, khó khăn, đề ra giải pháp, định hướng thời gian tới. Thống đốc Phạm Đức Ấn và Ban Lãnh đạo NHNN điều hành Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có lãnh đạo các đơn vị Vụ, Cục thuộc NHNN, lãnh đạo các tổ chức, Hiệp hội trong Ngành, các tổ chức tín dụng (TCTD) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới điểm cầu NHNN chi nhánh các khu vực.
Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Những tháng đầu năm 2026, nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng, thúc đẩy tín dụng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ngành Ngân hàng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp và đạt được những kết quả tích cực. Tính đến ngày 29/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 20 triệu tỉ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025. Về cơ bản, cơ cấu tín dụng theo đúng định hướng, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong đó cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế. Vốn tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
Ngân hàng Phong cách sống: Phân tích so sánh các mô hình toàn cầu và hàm ý chiến lược cho thị trường Việt Nam

Ngân hàng Phong cách sống: Phân tích so sánh các mô hình toàn cầu và hàm ý chiến lược cho thị trường Việt Nam

Bài viết phân tích sự chuyển dịch của ngành Ngân hàng từ mô hình cung cấp sản phẩm sang xây dựng hệ sinh thái số gắn với phong cách sống, làm rõ các mô hình tiêu biểu trên thế giới và đề xuất những hàm ý chiến lược giúp ngân hàng thương mại Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.
Xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững tại Việt Nam

Xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững tại Việt Nam

Bài viết đề xuất bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững gồm 06 trụ cột và 18 chỉ tiêu thành phần, góp phần cung cấp công cụ đo lường toàn diện phục vụ chuyển đổi số ngành Ngân hàng theo hướng an toàn và bền vững.
Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giám sát ngân hàng thông qua trắc lượng thư mục bằng phần mềm VOSviewer

Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giám sát ngân hàng thông qua trắc lượng thư mục bằng phần mềm VOSviewer

Bài viết này sử dụng phương pháp trắc lượng thư mục với công cụ VOSviewer 1.6.20 để tổng quan và phân tích về hoạt động giám sát ngân hàng giai đoạn 2010 - 2025, qua đó làm rõ xu hướng phát triển, các chủ đề nghiên cứu trọng tâm và mạng lưới học thuật quốc tế trong lĩnh vực này.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ  ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích yêu cầu phát triển hệ sinh thái ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC). Dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính, bài viết lập luận rằng dịch vụ ngân hàng tại IFC cần chuyển từ tư duy sản phẩm đơn lẻ sang hệ sinh thái tích hợp xuyên suốt hành trình nhà đầu tư. Khung phân tích chỉ ra năng lực cạnh tranh của IFC là kết quả đầu ra của hệ sinh thái gồm sản phẩm, công nghệ, dữ liệu, pháp lý và quản trị rủi ro. Đánh giá bối cảnh Việt Nam cho thấy cơ hội lớn nhưng vẫn tồn tại điểm nghẽn về định danh xuyên biên giới, chuẩn hóa dữ liệu, giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) và rủi ro bên thứ ba. Từ đó, bài viết đề xuất lộ trình chính sách ba giai đoạn nhằm phát triển hạ tầng tài chính số an toàn, minh bạch, góp phần nâng cao năng lực hội nhập tài chính toàn cầu của Việt Nam.
Tăng cường vai trò của ngân hàng thương mại trong ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Tăng cường vai trò của ngân hàng thương mại trong ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Bài viết phân tích vai trò của các ngân hàng thương mại (NHTM) trong phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, trên cơ sở đánh giá thực trạng, khung pháp lý và những hạn chế hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường huy động và phân bổ vốn cho mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu và phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Xem thêm
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam