Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Hoạt động ngân hàng
Bài viết khái quát bức tranh hoạt động ngân hàng tại Khu vực 2 năm 2025 trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động, làm rõ những kết quả nổi bật về tăng trưởng tín dụng, ổn định lãi suất, cải cách hành chính và chuyển đổi số, đồng thời định hướng vai trò đồng hành của hệ thống ngân hàng với các động lực tăng trưởng mới trong giai đoạn tới.
aa

1. Hoạt động ngân hàng năm 2025: Bối cảnh mới và yêu cầu đặt ra đối với Khu vực 2

Năm 2025 được đánh giá là năm “bứt tốc, về đích” của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2021 - 2025, với nhiều điểm sáng khi GDP tăng trưởng 8,02%, trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều bất định, biến động địa chính trị và áp lực lạm phát toàn cầu. Trong điều kiện đó, ngành Ngân hàng tiếp tục khẳng định vai trò là kênh dẫn vốn chủ lực, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tín dụng năm 2025 tăng trưởng mạnh, đạt 19,01%, vượt mục tiêu 16% đề ra từ đầu năm.

Việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, tổ chức lại các Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chi nhánh và thành lập NHNN Khu vực đã tạo ra những thay đổi căn bản trong công tác quản lý của NHNN Khu vực 2. Theo đó, địa bàn Khu vực 2 tăng hơn 9 lần về diện tích và khoảng 1,9 lần về quy mô dân số so với phạm vi quản lý của NHNN Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh trước đây. Cùng với đó, quy mô mạng lưới các tổ chức thuộc diện quản lý, giám sát cũng gia tăng mạnh, với hơn 3.000 đơn vị, tăng khoảng 48% so với trước; quy mô dư nợ tín dụng chiếm khoảng 30,8% tổng dư nợ toàn quốc (so với mức khoảng 24,6% trước đây). Đặc biệt, cơ cấu các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp hơn, đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác quản lý, điều hành.

NHNN Khu vực 2 đồng thời thực hiện nhiệm vụ quản lý hệ thống các TCTD và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn hai tỉnh, thành phố lớn có quy mô GRDP thuộc nhóm 4 địa phương dẫn đầu cả nước, đóng góp hơn 28% GDP toàn quốc. Việc hình thành địa bàn Khu vực 2 mới không chỉ mở rộng về quy mô hành chính mà còn tạo ra một không gian phát triển liền mạch từ trung tâm đô thị, dịch vụ đến các thủ phủ công nghiệp như Bình Dương, Đồng Nai và cửa ngõ ra biển Bà Rịa - Vũng Tàu, qua đó hình thành hệ sinh thái kinh tế đa dạng, phong phú với những lợi thế đặc thù của từng địa phương. Năm 2025, GRDP của Thành phố Hồ Chí Minh tăng khoảng 8,03% và GRDP của tỉnh Đồng Nai tăng khoảng 9,63%. Quy mô và tốc độ phát triển này đặt ra yêu cầu rất lớn đối với hoạt động ngân hàng trong việc bảo đảm cung ứng vốn, ổn định thị trường tiền tệ và hỗ trợ các động lực tăng trưởng mới. Mục tiêu chính của NHNN Khu vực 2 trong năm 2025 là bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng tại địa bàn, đáp ứng nhu cầu vốn và thanh toán, phục vụ cho doanh nghiệp và người dân; từ đó, đóng góp vào kết quả tăng trưởng kinh tế - xã hội của từng địa phương thuộc Khu vực 2.

2. Những kết quả nổi bật

Thứ nhất, hệ thống ngân hàng trên địa bàn Khu vực 2 hoạt động an toàn, hiệu quả, ổn định và đạt mức tăng trưởng tích cực

Trong năm 2025, các nhiệm vụ trọng tâm của NHNN Khu vực 2 được quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện đồng bộ, bảo đảm hệ thống ngân hàng trên địa bàn vận hành thông suốt, không gián đoạn.

Đến cuối năm 2025, tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn Khu vực 2 đạt khoảng 5,64 triệu tỉ đồng, tăng khoảng 12% so với cuối năm 2024, trong đó, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm gần 92%, Đồng Nai chiếm hơn 8%. Dư nợ tín dụng toàn Khu vực 2 đạt khoảng 5,68 triệu tỉ đồng, tăng 13,5%, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 89,5%, Đồng Nai chiếm 10,5%. Dòng vốn tín dụng được định hướng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp - nông thôn, các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ.

NHNN Khu vực 2 đã liên tục chỉ đạo các TCTD trên địa bàn xây dựng và triển khai kế hoạch tăng trưởng tín dụng theo hướng an toàn, hiệu quả, đúng quy định, tập trung hỗ trợ các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng.

Bám sát định hướng điều hành của NHNN và các Nghị quyết của Chính phủ về hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế, hệ thống các TCTD trên địa bàn Khu vực 2 đã chủ động tiết giảm chi phí hoạt động, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, qua đó tạo dư địa giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay, nhất là đối với các lĩnh vực ưu tiên. Nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn được triển khai hiệu quả, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương.

Thứ hai, mặt bằng lãi suất được duy trì ổn định, các chính sách tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp được thực hiện nhất quán và hiệu quả

NHNN Khu vực 2 tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các sở, ban, ngành và đơn vị trên địa bàn, chỉ đạo và hỗ trợ các TCTD triển khai hiệu quả các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp; đồng thời tăng cường hoạt động đối thoại, đa dạng hóa các kênh truyền thông chính sách, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ phận tiếp nhận và xử lý kiến nghị, phản ánh.

Hoạt động kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tiếp tục được đổi mới với nhiều giải pháp và cách thức triển khai phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền hai cấp, bảo đảm bám sát đến cấp phường, xã, đồng thời thích ứng với xu hướng và diễn biến của thị trường. Trong năm 2025, có 18 thương hiệu ngân hàng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đăng ký tham gia gói tín dụng với tổng quy mô hơn 517 nghìn tỉ đồng - mức cao nhất từ trước đến nay, tăng 1,4% so với năm trước.

Đến hết năm 2025, NHNN Khu vực 2 cùng ngành Ngân hàng đã phối hợp tổ chức 39 hội nghị; tổng số tiền giải ngân đạt hơn 881 nghìn tỉ đồng cho hơn 223 nghìn lượt khách hàng vay vốn, đạt 170% kế hoạch đăng ký và tăng 27,4% so với tổng số tiền thực hiện năm 2024.

Sự phát triển của ngành Ngân hàng không chỉ đóng góp trực tiếp vào giá trị gia tăng của khu vực dịch vụ mà còn giữ vai trò then chốt trong điều tiết nguồn lực vốn, hỗ trợ tích cực cho các mục tiêu tăng trưởng kinh tế của địa phương.

Mối quan hệ này được thể hiện rõ nét qua hai khía cạnh chính: (i) Ngân hàng là kênh dẫn vốn chủ đạo cho nền kinh tế địa phương. Thông qua việc cung ứng tín dụng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh trọng điểm, ngành Ngân hàng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp duy trì và mở rộng quy mô, từ đó thúc đẩy tăng trưởng GRDP. (ii) Ngân hàng đóng góp trực tiếp vào cơ cấu kinh tế với tư cách là một ngành dịch vụ giá trị cao. Với mạng lưới rộng khắp và các giải pháp tài chính hiện đại, hoạt động kinh doanh tự thân của các TCTD đã đóng góp đáng kể vào ngân sách và sự phát triển của khu vực dịch vụ tại mỗi tỉnh, thành phố.

Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm bảo đảm các giao dịch của doanh nghiệp và ngân hàng diễn ra thông suốt, hiệu quả, không gián đoạn, đáp ứng kịp thời nhu cầu của người dân, doanh nghiệp và các TCTD

Về thủ tục hành chính, trong 6 tháng cuối năm 2025, NHNN Khu vực 2 tiếp nhận và xử lý bình quân 674 hồ sơ/tháng, tăng bình quân 84%/tháng so với 6 tháng đầu năm.

Kể từ ngày 15/12/2025, NHNN đã chính thức hoàn thiện, nâng cấp và triển khai Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung, đồng thời cung cấp thêm 32 dịch vụ công trực tuyến toàn trình cho TCTD, doanh nghiệp và cá nhân trên Cổng Dịch vụ công quốc gia tại địa chỉ https://dichvucong.gov.vn. Từ thời điểm công bố 32 dịch vụ công trực tuyến toàn trình, các TCTD, doanh nghiệp và cá nhân có thể lựa chọn hình thức nộp hồ sơ trực tuyến, trực tiếp hoặc qua đơn vị bưu chính, tùy theo nhu cầu và mức độ thuận tiện khi thực hiện thủ tục hành chính.

NHNN Khu vực 2 đã tổ chức triển khai và đẩy mạnh công tác truyền thông đối với 32 thủ tục hành chính trực tuyến toàn trình theo chức năng, nhiệm vụ của Chi nhánh trên toàn địa bàn Khu vực thông qua nền tảng dịch vụ công trực tuyến của NHNN; bước đầu nhận được sự hưởng ứng và quan tâm tích cực từ các TCTD, doanh nghiệp và người dân. Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung của NHNN được xây dựng theo hướng đồng bộ, hiện đại, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, từng bước số hóa toàn diện quy trình tiếp nhận, xử lý và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính; qua đó đáp ứng yêu cầu rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí tuân thủ cho tổ chức, cá nhân, đồng thời nâng cao tính công khai, minh bạch và hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối.

Thứ tư, công tác chuyển đổi số ngân hàng và thanh toán không dùng tiền mặt đạt nhiều kết quả rõ nét

Thực hiện các chủ trương của Chính phủ về chuyển đổi số quốc gia và Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06), hệ thống ngân hàng Khu vực 2 tiếp tục khẳng định vai trò tiên phong trong ứng dụng công nghệ số, góp phần giảm chi phí xã hội và nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ. Thanh toán không dùng tiền mặt được mở rộng sang nhiều lĩnh vực như dịch vụ công, giao thông đô thị, trong đó nổi bật là việc triển khai đa dạng các hình thức thanh toán hiện đại trên tuyến Metro số 1 (Bến Thành - Suối Tiên), tạo tiền đề quan trọng cho việc hình thành hệ sinh thái thanh toán thông minh tại đô thị lớn. Hiện nay, toàn tuyến Metro số 1 đã lắp đặt hơn 270 thiết bị đọc thẻ đạt chuẩn tại 14 nhà ga, chấp nhận thanh toán bằng thẻ ngân hàng không tiếp xúc (contactless) của nhiều thương hiệu và các ví điện tử, qua đó nâng cao trải nghiệm cho hành khách.

Bên cạnh đó, các TCTD tiếp tục quan tâm tăng cường đầu tư, hoàn thiện hạ tầng phục vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thông qua việc phát triển các dịch vụ cá nhân hóa nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng; tăng cường kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư qua ứng dụng định danh điện tử quốc gia (VNeID) để hỗ trợ xác thực khách hàng và đối chiếu thông tin tự động; mở rộng hệ thống lưu trữ, nâng cấp nền tảng tích hợp dữ liệu và áp dụng các tiêu chuẩn bảo mật quốc tế, bảo đảm hệ thống vận hành an toàn, thông suốt và sẵn sàng kết nối dữ liệu với cơ quan quản lý nhà nước theo chỉ đạo của Chính phủ.

3. Định hướng năm 2026: Đồng hành cùng các động lực tăng trưởng mới

Thứ nhất, hướng dòng vốn tín dụng vào các động lực tăng trưởng bền vững

Năm 2026 là năm đầu tiên triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026 - 2030, trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều biến động và rủi ro đan xen. Khẳng định vai trò đầu tàu kinh tế của khu vực phía Nam và cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai đều đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP ở mức hai con số. Trên cơ sở đó, hệ thống ngân hàng trên địa bàn Khu vực 2 sẽ tiếp tục triển khai hoạt động tín dụng theo hướng trọng tâm, hiệu quả, tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, các động lực tăng trưởng của địa phương và những lĩnh vực có khả năng lan tỏa cao, phù hợp với các định hướng tại Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các địa phương nhiệm kỳ 2025 - 2030.

Thứ hai, vai trò của hệ thống ngân hàng trong xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh là nhiệm vụ có tính chiến lược, lâu dài, trong đó hệ thống ngân hàng Khu vực 2 giữ vai trò nòng cốt trong xây dựng chính sách, tạo dựng nền tảng và tổ chức vận hành; đặc biệt là triển khai các cơ chế, chính sách tài chính - ngân hàng; phát triển các sản phẩm, dịch vụ theo chuẩn mực quốc tế; nâng cấp hạ tầng thanh toán; đồng thời tăng cường kết nối với các thị trường tài chính trong khu vực.

Thứ ba, chuyển đổi số và hệ sinh thái thanh toán thông minh - nền tảng của đô thị hiện đại

Chuyển đổi số tiếp tục được xác định là trụ cột xuyên suốt trong chiến lược phát triển ngành Ngân hàng. Việc ứng dụng công nghệ hiện đại giúp các ngân hàng tối ưu hóa quy trình, tiết giảm chi phí vận hành, qua đó tạo dư địa thực hiện mục tiêu cốt lõi là giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ thiết thực cho doanh nghiệp và người dân.

Để từng bước kiến tạo đô thị thông minh bền vững, ngành Ngân hàng cần đẩy mạnh phát triển thanh toán không dùng tiền mặt theo hướng phổ cập và ứng dụng sâu rộng trong các lĩnh vực công cộng thiết yếu như giao thông, y tế, giáo dục. Đồng thời, quá trình chuyển đổi số phải gắn với việc tăng cường bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống, nâng cao năng lực quản trị rủi ro công nghệ và bảo vệ dữ liệu khách hàng.

Những kết quả đạt được trong năm 2025 cho thấy hoạt động ngân hàng tại Khu vực 2 đã và đang phát huy tốt vai trò là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế, đồng thời là một trụ cột quan trọng trong ổn định kinh tế vĩ mô. Bước sang năm 2026, trước yêu cầu phát triển mới và với tầm nhìn dài hạn, hệ thống ngân hàng Khu vực 2 sẽ tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng điều hành và quản lý, sẵn sàng đồng hành cùng các động lực tăng trưởng mới, qua đó đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai và toàn vùng kinh tế phía Nam.

Võ Minh Tuấn
Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 2

Tin bài khác

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Bài viết phân tích những cơ hội và thách thức đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) trong quá trình tái cơ cấu gắn với chuyển đổi số, đồng thời đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao năng lực quản trị, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững của hệ thống trong giai đoạn tới.
Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành. Tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là: Chuyển đổi số phải đi cùng an toàn; khai thác dữ liệu phải đi cùng bảo vệ dữ liệu; ứng dụng AI phải đi cùng quản trị rủi ro; đổi mới sáng tạo phải đi cùng tuân thủ, kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Sự hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đặt ra yêu cầu thiết kế thể chế mới: Dịch vụ ngân hàng số phục vụ IFC không thể được đồng nhất với các tiện ích số bán lẻ vốn đã phát triển nhanh trong thập kỷ qua. Trên cơ sở phân tích đối chứng giữa Singapore và Hồng Kông, bài viết xây dựng khung năng lực vận hành gồm bốn lớp hạ tầng (gia nhập thị trường, giao dịch, tuân thủ, niềm tin thị trường) và chỉ ra rằng sức mạnh của một IFC phụ thuộc vào độ sâu và khả năng liên thông của các lớp dịch vụ ở cấp độ tổ chức, không phải vào quy mô dịch vụ bán lẻ. Trên nền tảng đó, nghiên cứu đề xuất lộ trình ba giai đoạn cho IFC Việt Nam: (1) Chuẩn hóa định danh điện tử (eKYC) cho khách hàng phi cư trú, tài khoản đa tiền tệ và thanh toán xuyên biên giới theo chuẩn ISO 20022 trong giai đoạn 2026 - 2027; (2) Phát triển ngoại hối tổ chức, tài trợ thương mại số và lưu ký số trong giai đoạn 2027 - 2029; (3) Hoàn thiện công nghệ giám sát (SupTech), tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) bán buôn và cơ chế tường lửa tài chính từ năm 2029.
Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính theo hướng hiện đại, an toàn, minh bạch và có khả năng kết nối quốc tế. Trong bối cảnh đó, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số giữ vai trò then chốt; không chỉ hỗ trợ thanh toán, quản lý dòng tiền, giao dịch ngoại hối, tài trợ thương mại, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường tài chính, cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế số.
Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

Bài viết phân tích thực trạng triển khai tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) tại các ngân hàng Việt Nam, làm rõ tác động của ESG đối với hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển ngân hàng bền vững và tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Xem thêm
Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng chịu tác động bởi những rủi ro mới và yêu cầu quản trị ngày càng cao, kiểm toán nội bộ giữ vai trò quan trọng trong củng cố hệ thống kiểm soát, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh tài chính khu vực, đồng thời đòi hỏi những đột phá về thể chế, hạ tầng, địa kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 44/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2025/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí

Thông tư số 43/2026/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối