Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Hoạt động ngân hàng
Bài viết phân tích yêu cầu đột phá phát triển nguồn nhân lực số của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới, làm rõ những bước đi chiến lược về thể chế, đào tạo và làm chủ công nghệ nhằm hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số toàn diện và phát triển bền vững.
aa

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, đất nước ta đang đứng trước những thời cơ lớn đan xen với không ít thách thức mới, phức tạp và chưa từng có tiền lệ. Bối cảnh chuyển đổi số toàn diện, cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt giữa các nền kinh tế lớn, cùng yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu đang đặt ra những đòi hỏi ngày càng cao đối với chất lượng nguồn nhân lực - yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh và sức bật phát triển bền vững của quốc gia trong dài hạn. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là trung tâm đột phá hàng đầu và động lực chính của mô hình tăng trưởng mới. Thể chế và nguồn nhân lực chất lượng cao là nền tảng, là then chốt quyết định sự phát triển nhanh, mạnh và bền vững. Để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực, nguồn lực, là công cụ nâng cao hiệu quả quản trị, gia tăng giá trị mới, có sản phẩm, kết quả vượt trội, ngành Ngân hàng đã và đang đổi mới đột phá về tư duy, tầm nhìn, phương pháp tổ chức triển khai thực hiện trong lãnh đạo và quản trị phát triển, đảm bảo hướng tới kết quả thực chất.

Ngành Ngân hàng đang thực hiện mục tiêu chiến lược ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo an toàn hệ thống, hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế, đồng thời triển khai các các giải pháp chiến lược thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “hai con số” gắn với mô hình tăng trưởng mới trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt mang tính chiến lược của ngành Ngân hàng trong việc hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW1 - là nền tảng pháp lý và định hướng chiến lược cho Ngành trong việc hiện thực hóa mục tiêu đưa phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để đưa ngành Ngân hàng phát triển nhanh, bền vững, an toàn, góp phần đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.

Ngành Ngân hàng đã thực hiện thắng lợi mục tiêu năm 2025, đưa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trở thành một trong những bộ, ngành tiên phong dẫn dắt chuyển đổi số quốc gia. Kết quả của các giải pháp mang tính đột phá, vượt trội gắn với chuyển đổi số năm 2025 của ngành Ngân hàng phải kể đến là:

(1) Đột phá về thể chế và cải cách hành chính: NHNN đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định2 quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng (Sandbox); cắt giảm, đơn giản hóa 90,3% thủ tục hành chính, nâng cấp 32 thủ tục thiết yếu lên dịch vụ công trực tuyến toàn trình; (2) Điểm sáng về xây dựng dữ liệu: NHNN là một trong những bộ, ngành hoàn thành sớm nhiệm vụ đồng bộ 100% cơ sở dữ liệu chuyên ngành lên Trung tâm dữ liệu quốc gia;

(3) Bứt phá tăng trưởng trong thanh toán không dùng tiền mặt và tài chính toàn diện: Hoạt động thanh toán số phát triển sâu rộng, mang lại tác động xã hội to lớn; (4) Chuyển đổi hệ thống linh hoạt, thần tốc: Hoàn thành chuyển đổi mô hình tổ chức, sắp xếp hệ thống thông tin từ 63 NHNN chi nhánh về 15 NHNN khu vực chỉ trong 03 tháng và cập nhật hệ thống theo mô hình chính quyền hai cấp chỉ trong 03 tuần, đảm bảo an toàn, không gián đoạn hoạt động. Những đột phá này không chỉ tạo hạ tầng công nghệ và dữ liệu, mà quan trọng hơn đã đặt ra yêu cầu cấp bách về một khuôn khổ thể chế hiện đại và một chiến lược phát triển nguồn nhân lực số đủ năng lực làm chủ công nghệ, qua đó dẫn dắt toàn hệ thống chuyển đổi số một cách bền vững.

Đột phá thể chế và phương thức quản trị - Nền tảng phát triển nguồn nhân lực số ngành Ngân hàng

Xuất phát từ yêu cầu đổi mới căn bản tư duy phát triển và phương thức quản trị, tổ chức thực hiện theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, ngành Ngân hàng xác định phát triển nguồn nhân lực trong thời đại số phải bắt đầu từ kiến tạo môi trường thể chế hiện đại dẫn dắt sự thay đổi toàn hệ thống. Thực tiễn cho thấy, công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi được vận hành trong khuôn khổ pháp lý phù hợp và bởi đội ngũ cán bộ đủ năng lực làm chủ; do đó, đổi mới thể chế vừa là điều kiện tiên quyết vừa là động lực trực tiếp thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực số của ngành Ngân hàng.

Trên cơ sở đó, NHNN đã chủ động xây dựng khung khổ pháp lý và chiến lược mới thúc đẩy đổi mới sáng tạo gắn với quản lý rủi ro, tiêu biểu là Sandbox đối với các mô hình và sản phẩm ngân hàng số, qua đó hình thành môi trường “thực học - thực làm” để đào tạo nhân lực công nghệ ngay trong thực tiễn, nơi đội ngũ cán bộ ngân hàng trực tiếp tham gia thiết kế, vận hành và đánh giá các giải pháp số trong điều kiện thực tiễn, qua đó rút ngắn quá trình hình thành năng lực công nghệ chuyên sâu.

Song song với đổi mới Sandbox, “Chiến lược chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2030”3 và “Chiến lược dữ liệu ngành Ngân hàng đến năm 2030”4 được triển khai đồng bộ với các chương trình phát triển nhân lực, trong đó phong trào “Bình dân học vụ số”5 và Chương trình bồi dưỡng, phổ cập kiến thức, kỹ năng số6 đã đưa năng lực số trở thành nền tảng chung của toàn hệ thống. Cách tiếp cận này bảo đảm đầu tư công nghệ luôn song hành với nâng cao chất lượng đội ngũ, hình thành lực lượng nhân lực số có chiều rộng và chiều sâu, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hoạt động ngân hàng.

Để bảo đảm năng lực số được phát triển một cách đồng bộ và bền vững, NHNN đã áp dụng Khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản và Hướng dẫn đánh giá, xác nhận theo quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ nhằm chuẩn hóa năng lực số của đội ngũ cán bộ trong toàn hệ thống. Việc thiết lập chuẩn năng lực và cơ chế đánh giá thống nhất không chỉ nâng cao chất lượng đào tạo, mà còn tạo nền tảng quản trị nguồn nhân lực số dựa trên năng lực thực chất, từng bước hình thành đội ngũ cán bộ có khả năng thích ứng cao với chuyển đổi số.

Trên cơ sở nền tảng năng lực đã được chuẩn hóa, NHNN đã chủ động xây dựng và triển khai các cơ chế, chính sách đặc biệt để thu hút và trọng dụng nhân tài. NHNN đã ban hành “Kế hoạch thực hiện Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng người có tài năng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”. Các chế độ ưu đãi cụ thể như chi khen thưởng đặc thù, các chế độ hỗ trợ cho cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin, an toàn thông tin đang được áp dụng và tiếp tục hoàn thiện. Một giải pháp đột phá trong việc bố trí nhân sự chuyên trách chuyển đổi số là cơ chế phối hợp, bổ sung nguồn nhân lực từ các ngân hàng thương mại (NHTM). NHNN đang phối hợp với 05 NHTM lớn là NHTM cổ phần Công thương Việt Nam (VietinBank), NHTM cổ phần Quân đội (MB), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank), NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), NHTM cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) để đưa nguồn nhân lực chất lượng cao về công nghệ thông tin và chuyển đổi số sang hỗ trợ công tác tại các đơn vị thuộc NHNN Trung ương. Cách làm này giúp giải quyết bài toán thiếu hụt nhân sự chuyên gia cục bộ, đồng thời tăng cường tính kết nối và chia sẻ tri thức giữa cơ quan quản lý và các tổ chức tín dụng.

Bên cạnh đó, công tác quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ được đổi mới theo hướng ưu tiên những cán bộ có chuyên môn, kinh nghiệm về khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin vào các vị trí lãnh đạo chủ chốt, bảo đảm đội ngũ quản lý đủ năng lực dẫn dắt đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số lâu dài tại các đơn vị.

Đặc biệt, cải cách thủ tục hành chính theo hướng số hóa và tối giản quy trình đã làm thay đổi căn bản phương thức vận hành của ngành Ngân hàng, chuyển trọng tâm từ xử lý thủ công sang quản trị hệ thống, phân tích dữ liệu và kiểm soát rủi ro công nghệ. Sự chuyển dịch này tạo động lực nội sinh cho tái đào tạo quy mô lớn và hình thành chuẩn năng lực mới của nhân lực ngân hàng trong kỷ nguyên số.

Đào tạo nhân lực số - Đi vào chiều sâu, lan tỏa toàn hệ thống

Trên cơ sở khung thể chế và chiến lược đã được định hình, công tác phát triển nguồn nhân lực số trong ngành Ngân hàng được triển khai đồng bộ, có trọng tâm, chiều sâu và lan tỏa trên toàn hệ thống với sự tham gia đồng bộ của NHNN, các tổ chức tín dụng và hệ thống cơ sở đào tạo, nghiên cứu.

NHNN đóng vai trò đầu tàu trong phổ cập và nâng cao năng lực số thông qua phong trào “Bình dân học vụ số” và Chương trình bồi dưỡng, phổ cập kiến thức, kỹ năng số. Trong năm 2025, NHNN đã tổ chức thành công 44 khóa bồi dưỡng chuyên sâu về công nghệ thông tin, chuyển đổi số và kỹ năng phân tích dữ liệu với sự tham gia của gần 11.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC). Nội dung đào tạo không chỉ dừng lại ở kỹ năng cơ bản mà đã mở rộng sang các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ chuỗi khối (Blockchain) và dữ liệu lớn (Big Data) thông qua sự hợp tác với các đối tác quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức các Ngân hàng Trung ương Đông Nam Á (SEACEN) và các NHTM lớn. Nền tảng học trực tuyến “Bình dân học vụ số” đã thu hút hơn 4.200 lượt học viên tham gia các khóa học về an toàn số và ứng dụng AI, đồng thời tích hợp 142 học liệu điện tử chất lượng cao từ nhiều đơn vị trong Ngành. Đặc biệt, lực lượng nòng cốt gồm 336 “Đại sứ số” và 2.296 “Hạt nhân số” được hình thành tại các đơn vị, đóng vai trò lan tỏa kỹ năng số và hỗ trợ triển khai công nghệ tại chỗ. Công tác đào tạo lãnh đạo cũng được chú trọng với 1.303 lượt cán bộ quản lý cấp phòng, cấp vụ được bồi dưỡng về quản trị số và ra quyết định dựa trên dữ liệu và công nghệ. (Hình 1)

Hình 1: Kết quả đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC và người lao động thuộc NHNN năm 2025

Năm 2025, công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ tại NHNN trở thành điểm sáng với quy mô triển khai lớn,  tập trung vào công nghệ hiện đại và vượt xa các mục tiêu kế hoạch ban đầu (Nguồn: NHNN)
Năm 2025, công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ tại NHNN trở thành điểm sáng với quy mô triển khai lớn, tập trung vào công nghệ hiện đại và vượt xa các mục tiêu kế hoạch ban đầu (Nguồn: NHNN)

Song song với vai trò dẫn dắt của NHNN, các tổ chức tín dụng đã triển khai đào tạo kỹ năng số trên quy mô toàn hệ thống, nhiều đơn vị vượt 100% chỉ tiêu đề ra. Nhiều NHTM lớn bố trí từ 8 - 10% tổng nhân sự cho lĩnh vực công nghệ thông tin và chuyển đổi số, đồng thời xây dựng chính sách đãi ngộ cạnh tranh nhằm thu hút chuyên gia AI, dữ liệu và an ninh mạng, qua đó bảo đảm nguồn lực chất lượng cao để các chương trình đào tạo chuyển hóa thành năng lực thực tiễn trong tổ chức.

Bên cạnh đó, hai cơ sở đào tạo trực thuộc NHNN là Học viện Ngân hàng và Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh cũng bảo đảm 100% sinh viên được trang bị kiến thức, kỹ năng số và an toàn số. (Hình 2)

Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số
Nguồn: NHNN

Gắn đào tạo với triển khai công nghệ chiến lược - Hình thành năng lực số trong thực tiễn vận hành

Điểm nổi bật trong phát triển nhân lực số của ngành Ngân hàng là đào tạo không tách rời ứng dụng công nghệ mà gắn chặt với các bài toán thực tế trong quản trị và kinh doanh. Trong lĩnh vực AI và tự động hóa, nhiều ngân hàng đã triển khai các mô hình AI tạo sinh (GenAI), trợ lý ảo và chatbot phục vụ chăm sóc khách hàng 24/7, đồng thời hỗ trợ nhân viên nội bộ tra cứu thông tin và xử lý nghiệp vụ. AI kết hợp với tự động hóa quy trình nghiệp vụ (RPA) và công nghệ nhận dạng ký tự quang học (OCR) được sử dụng trong trích xuất báo cáo tài chính, xử lý hồ sơ tín dụng, kiểm tra chứng từ tài trợ thương mại, giúp tăng tốc độ xử lý nhiều lần và giảm đáng kể sai sót thủ công. Các mô hình chấm điểm tín dụng số, dự báo nợ xấu và phát hiện gian lận giao dịch được áp dụng sâu rộng, đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải làm chủ phân tích dữ liệu và quản trị rủi ro công nghệ.

Trong quản trị dữ liệu và hạ tầng số, các tổ chức tín dụng tập trung xây dựng kiến trúc Data Lakehouse, triển khai các công cụ phân tích nâng cao và báo cáo tự phục vụ, thúc đẩy văn hóa ra quyết định dựa trên dữ liệu tại các đơn vị nghiệp vụ. Chiến lược Ưu tiên đám mây (Cloud First) với mô hình lai (Hybrid Multi-Cloud) được áp dụng rộng rãi, đưa nhiều hệ thống quan trọng lên nền tảng đám mây để bảo đảm khả năng mở rộng và vận hành liên tục, ngay cả khi lưu lượng giao dịch tăng đột biến.

Những ứng dụng công nghệ này không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động, mà còn trở thành môi trường “đào tạo thực chiến”, nơi đội ngũ cán bộ từng bước hình thành năng lực số thông qua vận hành hệ thống hiện đại.

Các cơ sở đào tạo trong Ngành trở thành trung tâm đào tạo và làm chủ công nghệ mới

Các cơ sở đào tạo trực thuộc ngành Ngân hàng đã chuyển mạnh từ mô hình đào tạo truyền thống sang gắn giảng dạy với nghiên cứu và ứng dụng công nghệ. Học viện Ngân hàng và Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh đã đầu tư xây dựng các phòng thí nghiệm AI, học máy (ML) và Blockchain, hợp tác với doanh nghiệp công nghệ và dữ liệu tài chính để cung cấp nền tảng nghiên cứu hiện đại. Các cơ sở này đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế với các trường đại học và định chế tài chính tại Úc, Pháp, New Zealand, triển khai các dự án nghiên cứu chung về Blockchain, công nghệ tài chính (Fintech) và tài chính xanh, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và hội nhập tri thức quốc tế, đồng thời giúp sinh viên và giảng viên tiếp cận trực tiếp các bài toán thực tiễn của Ngành.

Thông qua các sân chơi khởi nghiệp và mô hình “Make by Universities”, nhiều ý tưởng công nghệ đã được chuyển hóa thành sản phẩm, giải pháp có giá trị ứng dụng, góp phần hình thành nguồn nhân lực Fintech chất lượng cao cho ngành Ngân hàng.

Làm chủ công nghệ lõi và sở hữu trí tuệ - Bước tiến về năng lực công nghệ chiến lược

Bên cạnh ứng dụng công nghệ trong hoạt động nghiệp vụ, ngành Ngân hàng từng bước xây dựng năng lực làm chủ công nghệ lõi thông qua nghiên cứu khoa học và sở hữu trí tuệ. Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ về công nghệ, số hóa luôn là một nhóm chủ đề nghiên cứu trọng tâm được NHNN chú trọng triển khai hằng năm (năm 2024 nhiệm vụ về công nghệ, số hóa chiếm 46,7% tổng số nhiệm vụ đã giao; năm 2025 chiếm khoảng 18%; năm 2026 là 40%). Kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng trực tiếp vào hoạt động xây dựng chiến lược, kế hoạch, đề án của NHNN và tham khảo khi triển khai các quyết định của Thống đốc NHNN về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; qua đó, góp phần đổi mới toàn diện hoạt động quản lý của NHNN, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, phát triển dịch vụ ngân hàng số và cải thiện môi trường làm việc, phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh số hóa.

Trên nền tảng đó, một số kết quả nghiên cứu đã được đúc kết thành sản phẩm sở hữu trí tuệ, tiêu biểu trong lĩnh vực in ấn bảo an: Nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam đã được cấp 01 bằng độc quyền sáng chế (từ Đề tài về pigment hấp thụ hồng ngoại ứng dụng cho mực in bảo an), 01 đơn đăng ký sáng chế đang thẩm định (từ Đề tài về mực in phủ flexo khô UV) và 01 nhiệm vụ khoa học công nghệ mới được phê duyệt theo hướng đăng ký sáng chế/giải pháp hữu ích (Đề án về mực offset không màu phát quang khô UV). Những kết quả này cho thấy năng lực nghiên cứu công nghệ cao đồng thời góp phần đào tạo, phát triển đội ngũ kỹ thuật chuyên sâu của Ngành.

Định hướng nghiên cứu năm 2026, NHNN xác định các bài toán lớn liên quan đến quản lý linh hoạt ứng dụng AI, Big Data trong quản lý rủi ro thanh toán và xây dựng khung pháp lý cho tài sản mã hóa cũng như tiền mã hóa (cryptocurrency). Việc giao các nhiệm vụ này cho các tổ chức, cá nhân trong ngành Ngân hàng không chỉ nhằm giải quyết các thách thức quản lý mà còn là phương thức đào tạo qua thực tiễn (learning by doing) hiệu quả nhất, giúp đội ngũ cán bộ tiếp cận và giải quyết các vấn đề phức tạp trong kỷ nguyên số.

Hình thành văn hóa đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái công nghệ toàn Ngành

Ngành Ngân hàng từng bước hệ thống hóa hoạt động đổi mới sáng tạo thông qua xây dựng các nền tảng quản trị sáng kiến nội bộ tại các tổ chức tín dụng, kết nối với Cổng Sáng kiến Quốc gia. Năm 2025, toàn ngành Ngân hàng ghi nhận 1.486 sáng kiến, trong đó các đơn vị thuộc NHNN có 48 sáng kiến (18/42 đơn vị), các tổ chức tín dụng có 1.438 sáng kiến. 37 sáng kiến số đã được đăng ký chính thức trên Cổng Sáng kiến Khoa học và Công nghệ của Bộ Khoa học và Công nghệ, thể hiện sự chuyển biến rõ nét từ phong trào sang triển khai thực chất. Các sáng kiến tập trung vào giải quyết các bài toán cấp thiết như hỗ trợ quản trị điều hành, giám sát, phát triển sản phẩm tín dụng số và các giải pháp tài chính nông thôn đã được triển khai, trong đó nhiều sáng kiến ứng dụng AI và mô hình ngôn ngữ lớn để nâng cao hiệu quả nghiệp vụ, phục vụ tra cứu thông tin, bảo đảm tính minh bạch và chính xác của dữ liệu, cho thấy tinh thần đổi mới sáng tạo đã lan tỏa sâu rộng trong toàn Ngành.

Song song với đó, các tổ chức trong Ngành tích cực tham gia các hội chợ, triển lãm khoa học, công nghệ và chuyển đổi số quy mô lớn trong và ngoài nước, giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm đối tác và kết nối cung - cầu công nghệ. Việc phát triển mạng lưới chuyên gia trong các lĩnh vực Fintech, AI và an ninh mạng, cùng với chuẩn hóa dữ liệu và số hóa tài liệu nghiên cứu đang từng bước đặt nền móng cho thị trường công nghệ và đổi mới sáng tạo trong ngành Ngân hàng.

Khoảng trống và thách thức trong phát triển nhân lực số

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng và yêu cầu hội nhập ngày càng cao, dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, ngành Ngân hàng hiện vẫn đối mặt với khó khăn, thách thức trong phát triển nguồn nhân lực, cụ thể:

Thứ nhất, đội ngũ chuyên gia trình độ cao trong các lĩnh vực công nghệ, quản trị dữ liệu và an ninh mạng còn thiếu; tỉ lệ cán bộ lãnh đạo, quản lý có năng lực số hoặc đảm nhiệm chuyên trách về công nghệ còn thấp. Bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ chưa thực sự chủ động thích nghi, thích ứng với các yêu cầu về năng lực số trong bối cảnh chuyển đổi số.

Thứ hai, cơ chế, chính sách thu hút và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao chưa thực sự cạnh tranh, hợp tác công - tư và hoạt động nghiên cứu cũng như nguồn lực tài chính cho tổ chức triển khai còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Bên cạnh đó, hoạt động đào tạo mới ở giai đoạn bước đầu, chưa có chương trình dài hạn, đồng bộ và chưa triển khai được các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế chuyên biệt.

Thứ ba, tại một số đơn vị, người đứng đầu, thủ trưởng đơn vị chưa dành ưu tiên đúng mức cho việc nhận diện, quy hoạch và phát triển nhân lực số; đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng tư duy số và năng lực quản trị số chưa được quan tâm một cách hệ thống và đồng bộ.

Triển khai đồng bộ các giải pháp chiến lược nhằm phát triển nguồn nhân lực số ngành Ngân hàng

Đại hội XIV của Đảng xác định đột phá về nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là một trong những trọng tâm chiến lược. Đây cũng là nhân tố cốt lõi cho phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số trong giai đoạn tới. NHNN xác định cán bộ là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và là động lực của chuyển đổi số, trong đó nguồn nhân lực số chất lượng cao giữ vai trò then chốt phát triển ngành Ngân hàng. Để hiện thực hóa đột phá về nguồn nhân lực theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, ngành Ngân hàng triển khai đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, hoàn thiện cơ chế, chính sách về tuyển dụng, đãi ngộ, sử dụng, đánh giá, quy hoạch và bổ nhiệm dựa trên năng lực và yêu cầu vị trí việc làm để thu hút và trọng dụng người có tài năng trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, công nghệ thông tin và nghiệp vụ lõi của NHNN. Xây dựng và chuẩn hóa khung năng lực theo vị trí chức danh, vị trí việc làm phù hợp thông lệ quốc tế và yêu cầu hiện đại hóa ngành Ngân hàng. Chú trọng công tác đánh giá thông qua kết quả sản phẩm cụ thể, đặc biệt sản phẩm số áp dụng trong quản trị và nâng cao năng suất, hiệu quả hoạt động của từng đơn vị.

Hai là, tiếp tục đánh giá, bố trí sử dụng trên cơ sở năng lực số và có ưu tiên quy hoạch, bổ nhiệm và đào tạo, phát triển. Tăng cường đào tạo chuyên sâu đối với từng vị trí chức danh, đào tạo theo yêu cầu năng lực mới về số để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Tập trung ưu tiên cho đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, lãnh đạo quản lý và các vị trí chuyên trách, chuyên biệt lĩnh vực công nghệ thông tin.

Ba là, từng bước nâng tỉ lệ cán bộ lãnh đạo, quản lý có năng lực số và am hiểu công nghệ dữ liệu lên khoảng 10 - 15%, tiệm cận thông lệ tại nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới với tỉ lệ lãnh đạo có chuyên môn sâu về công nghệ và dữ liệu thường dao động 12 - 15%7 và lực lượng nhân sự công nghệ thông tin, dữ liệu chiếm khoảng 15 - 25% tổng biên chế; qua đó hình thành đội ngũ lãnh đạo đủ năng lực hoạch định chính sách số, dẫn dắt đổi mới sáng tạo và ra quyết định dựa trên dữ liệu trong toàn hệ thống.

Bốn là, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo theo hướng gắn chặt với yêu cầu thực tiễn, tăng cường liên kết giữa nghiên cứu và ứng dụng, gắn với phát triển sáng kiến số và triển khai chuyển đổi số. Từng bước đưa kết quả nghiên cứu vào tối ưu hóa nghiệp vụ, nâng cao năng suất lao động, cải tiến và chuẩn hóa quy trình công tác, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ tinh thông, tinh nhuệ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới.

Năm là, đề cao vai trò, trách nhiệm người đứng đầu trong việc lan tỏa văn hóa xây dựng và quyết định trên cơ sở dữ liệu, văn hóa tự học, văn hóa số góp phần xây dựng nền kinh tế số, xã hội số, chính phủ số.

Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và tổ chức triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW trong giai đoạn tới, ngành Ngân hàng tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong quá trình chuyển đổi số, trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo để hiện đại hóa, đóng góp tích cực vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững của đất nước. Ngành Ngân hàng thống nhất cao trong nhận thức và hành động về sự cần thiết, cấp bách thực hiện đồng bộ các giải pháp chiến lược, đặc biệt là giải pháp đột phá phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong đó, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có tư duy số, trình độ cao về khoa học, công nghệ, năng lực quản trị hiện đại, tinh gọn, tinh nhuệ, tinh thông, là trung tâm. Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách về tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá và đãi ngộ cán bộ theo vị trí chức danh, vị trí việc làm để thu hút, phát triển nhân lực chất lượng cao trong kỷ nguyên số, là trọng tâm. Xây dựng văn hóa học tập suốt đời, phát triển kỹ năng số, kỹ năng đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, nền tảng số và AI trong quản trị nhân lực, là nền tảng.

1 Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

2 Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 của Chính phủ quy định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng.

3 Quyết định số 3579/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN phê duyệt “Chiến lược chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2030”.

4 Quyết định số 3580/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN phê duyệt “Chiến lược dữ liệu ngành Ngân hàng đến năm 2030”.

5 Quyết định số 1938/QĐ-NHNN ngày 28/4/2025 của Thống đốc NHNN ban hành Kế hoạch của ngành Ngân hàng triển khai Kế hoạch số 01-KH/BCĐTW ngày 21/3/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - Ban Chấp hành Trung ương về việc triển khai Phong trào “Bình dân học vụ số”.

6 Quyết định số 2222/QĐ-NHNN ngày 30/5/2025 của Thống đốc NHNN ban hành Chương trình bồi dưỡng, phổ cập kiến thức, kỹ năng số.

7 Theo khảo sát Governance Benchmarks 2024 - 2025 của Central Banking Publications.

Vụ Tổ chức cán bộ, NHNN

Tin bài khác

Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Bài viết khái quát bức tranh hoạt động ngân hàng tại Khu vực 2 năm 2025 trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động, làm rõ những kết quả nổi bật về tăng trưởng tín dụng, ổn định lãi suất, cải cách hành chính và chuyển đổi số, đồng thời định hướng vai trò đồng hành của hệ thống ngân hàng với các động lực tăng trưởng mới trong giai đoạn tới.
Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Những điểm nhấn năm 2025

Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Những điểm nhấn năm 2025

Năm 2025, trong bối cảnh toàn ngành Ngân hàng tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam đã bám sát sự lãnh đạo của Đảng ủy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam triển khai đồng bộ, hiệu quả các mặt công tác; qua đó, tiếp tục khẳng định vai trò là chỗ dựa tin cậy của đoàn viên, người lao động, đồng thời lan tỏa mạnh mẽ trách nhiệm xã hội của Ngành.
Hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân: Cơ hội và triển vọng phát triển

Hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân: Cơ hội và triển vọng phát triển

Trong thời gian qua, hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) đã cơ bản duy trì hoạt động ổn định, an toàn, phát huy tốt vai trò là kênh cung ứng vốn hiệu quả cho khu vực kinh tế hộ gia đình, cá nhân và sản xuất - kinh doanh quy mô nhỏ tại địa phương. Thông qua việc bám sát địa bàn, phục vụ linh hoạt và lấy thành viên làm trung tâm, QTDND đã góp phần tích cực hỗ trợ phát triển kinh tế cơ sở, thúc đẩy tài chính toàn diện và ổn định an sinh xã hội địa phương.
Vai trò của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh lực lượng lao động suy giảm và dư địa tăng trưởng theo chiều rộng ngày càng thu hẹp, bài viết phân tích các điều kiện vĩ mô để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng cao giai đoạn 2026 - 2030, nhấn mạnh yêu cầu chuyển sang mô hình dựa trên tích lũy vốn và đổi mới công nghệ, với hệ thống ngân hàng tiếp tục giữ vai trò kênh dẫn vốn chủ đạo.
Tác động của cấu trúc nguồn vốn huy động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của vốn chủ sở hữu

Tác động của cấu trúc nguồn vốn huy động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của vốn chủ sở hữu

Nghiên cứu này làm rõ tác động của tiền gửi khách hàng và nguồn vốn phi tiền gửi đến khả năng sinh lời của ngân hàng, đồng thời chỉ ra vai trò điều tiết quan trọng của vốn chủ sở hữu trong mối quan hệ này. Kết quả thực nghiệm cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc tối ưu hóa cấu trúc nguồn vốn và định hướng chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Tác động của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tại các quốc gia ASEAN

Tác động của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tại các quốc gia ASEAN

Bài viết phân tích vai trò của tín dụng xanh trong bối cảnh các quốc gia ASEAN đối mặt với thách thức biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, qua đó làm rõ tác động tích cực của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần, đồng thời xem xét mức độ ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong mối quan hệ này.
Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu đề xuất hàm ý chính sách cho các nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý: Các ngân hàng cần định hình và vận dụng khẩu vị rủi ro như một chiếc la bàn xuyên suốt quá trình quản trị; đồng thời, cần chủ động trích lập dự phòng dựa trên các dự báo và kịch bản kinh tế vĩ mô, tăng cường giám sát sớm để phát hiện kịp thời các dấu hiệu suy giảm chất lượng tín dụng, xử lý nợ xấu một cách dứt khoát nhằm tránh hiệu ứng tích tụ rủi ro.
Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Nghiên cứu này tập trung đánh giá ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng trong bối cảnh ngân hàng số Việt Nam. Kết quả nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm mới cho bối cảnh Việt Nam, đồng thời củng cố các lý thuyết trước đó về niềm tin trong môi trường ngân hàng số.
Xem thêm
Củng cố nền tảng tăng trưởng và sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2026

Củng cố nền tảng tăng trưởng và sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2026

Bài viết này phân tích toàn diện những chuyển động lớn của nền kinh tế Việt Nam năm 2025, chỉ ra các kết quả đạt được, những hạn chế mang tính cơ cấu và các rủi ro tiềm ẩn, qua đó gợi mở các định hướng chính sách trọng tâm nhằm nâng cao nội lực, sức chống chịu và chất lượng tăng trưởng trong năm 2026.
Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng: Khát vọng, mô hình và chiến lược thích ứng của các ngân hàng Việt Nam

Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng: Khát vọng, mô hình và chiến lược thích ứng của các ngân hàng Việt Nam

Bài viết phân tích việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng như một mô hình hệ sinh thái tài chính bậc cao, làm rõ nền tảng pháp lý đột phá, lợi thế chiến lược của Đà Nẵng và những yêu cầu thích ứng đặt ra đối với hệ thống ngân hàng trong nước trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế sâu rộng.
Chính sách tài khóa, tiền tệ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2025: Những điểm sáng và định hướng năm 2026

Chính sách tài khóa, tiền tệ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2025: Những điểm sáng và định hướng năm 2026

Bài viết phân tích toàn diện những điểm sáng trong điều hành chính sách tài khóa và tiền tệ của Việt Nam năm 2025, qua đó làm rõ vai trò phối hợp chính sách vĩ mô trong thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế và đề xuất định hướng trọng tâm cho năm bản lề 2026.
Kinh tế Việt Nam: Những thành tựu giai đoạn 2021 - 2025 và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Kinh tế Việt Nam: Những thành tựu giai đoạn 2021 - 2025 và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bài viết khái quát những thành tựu nổi bật của kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 trong bối cảnh có nhiều biến động toàn cầu, đồng thời phân tích mục tiêu, định hướng và các đột phá chiến lược nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2025 và hàm ý chính sách cho giai đoạn tới

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2025 và hàm ý chính sách cho giai đoạn tới

Bài viết đánh giá tổng quan tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2025 với những kết quả nổi bật về cơ cấu, đầu tư và thương mại, đồng thời chỉ ra các hạn chế về chất lượng tăng trưởng và nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, từ đó đề xuất hàm ý chính sách nhằm hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.
Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Kết quả khảo sát năm 2025 của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) cho thấy thị trường ngoại hối toàn cầu đã sôi động trở lại từ đầu quý II/2025, với quy mô giao dịch tăng mạnh dưới tác động của bất ổn kinh tế, biến động tỉ giá USD và những điều chỉnh chiến lược phòng hộ, đầu cơ của các chủ thể tham gia thị trường.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng