Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và khả năng tiếp cận tín dụng trong bối cảnh chuyển đổi số

Công nghệ & ngân hàng số
Bài viết tập trung làm rõ những rào cản trong tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong bối cảnh chuyển đổi số, đồng thời đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính - ngân hàng theo hướng đồng hành, hỗ trợ hiệu quả hơn cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững.
aa

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra sâu rộng, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo ngày càng đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, đặc điểm dựa nhiều vào tài sản vô hình, mô hình kinh doanh mới và mức độ rủi ro cao khiến các doanh nghiệp này gặp không ít khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng theo phương thức truyền thống. Bài viết phân tích những rào cản căn bản đối với khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong bối cảnh chuyển đổi số. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, theo hướng đồng hành giữa doanh nghiệp, hệ thống tài chính - ngân hàng và Nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững khu vực kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới.

Từ khóa: Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo; tiếp cận tín dụng; chuyển đổi số; hệ thống ngân hàng; kinh tế số.

INNOVATIVE ENTERPRISES AND ACCESS TO CREDIT
IN THE CONTEXT OF DIGITAL TRANSFORMATION

Abstract: In the context of accelerating digital transformation, innovative enterprises are increasingly recognized as a key driver of economic growth, productivity enhancement, and national competitiveness. However, their reliance on intangible assets, novel business models, and higher levels of uncertainty poses significant challenges in accessing bank credit through traditional lending frameworks. This article analyzes the fundamental barriers faced by innovative enterprises in accessing credit within the digital transformation context. Based on these analyses, the article proposes several orientations and solutions to enhance credit accessibility for innovative enterprises, emphasizing a collaborative approach among enterprises, the banking and financial system, and the State, contributing to the sustainable development of the private sector in the new development stage.

Keywords: Innovative enterprises; credit access; digital transformation; banking system; digital economy.

1. Bối cảnh chuyển đổi số và vai trò của doanh nghiệp đổi mới sáng tạo

Luật Chuyển đổi số được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 đã tạo lập nền tảng pháp lý quan trọng, định hướng cho tiến trình chuyển đổi số quốc gia trong giai đoạn phát triển mới, khi chuyển đổi số trở thành xu hướng tất yếu, tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực của nền kinh tế cũng như đời sống xã hội.

Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo được xác định là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, trên thực tế, quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Những rào cản này không chỉ đến từ nội lực bên trong doanh nghiệp, mà còn từ môi trường khách quan bên ngoài, trong đó nổi bật là ba nhóm vấn đề chính:

Một là, hạn chế về nguồn vốn và năng lực tài chính của doanh nghiệp. Phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo có quy mô vốn điều lệ thấp, chủ yếu dựa vào vốn tự có của chủ doanh nghiệp hoặc huy động từ các mối quan hệ cá nhân. Trong khi đó, nhu cầu đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), ứng dụng công nghệ số, hoàn thiện sản phẩm, marketing số… lại đòi hỏi nguồn vốn lớn và có tính dài hạn.

Hai là, hạn chế về nguồn nhân lực và năng lực quản trị. Nhiều doanh nghiệp đổi mới sáng tạo được sáng lập bởi các cá nhân có thế mạnh về chuyên môn kỹ thuật, công nghệ hoặc ý tưởng sản phẩm, song còn thiếu kiến thức, kinh nghiệm về quản trị tài chính, quản trị dòng tiền, quản trị nhân sự, quản trị rủi ro và tuân thủ pháp lý… Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phương án kinh doanh, hồ sơ vay vốn và khả năng thuyết phục các tổ chức tài chính.

Ba là, môi trường pháp lý và thủ tục hành chính đối với các mô hình kinh doanh mới còn nhiều bất cập. Mặc dù thời gian qua, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, nhưng thực tế triển khai vẫn còn không ít vướng mắc. Các thủ tục như đăng ký kinh doanh cho mô hình mới, đăng ký và bảo hộ sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn cho sản phẩm, dịch vụ số, hay các quy định về thuế, hóa đơn điện tử, hóa đơn xuyên biên giới… vẫn là những “nút thắt” khiến doanh nghiệp gia tăng chi phí tuân thủ và làm chậm quá trình đổi mới sáng tạo.

2. Thách thức tiếp cận vốn tín dụng trong bối cảnh chuyển đổi số

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, nhu cầu vốn cho đầu tư công nghệ, đổi mới mô hình kinh doanh và mở rộng thị trường của doanh nghiệp đổi mới sáng tạo ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận vốn tín dụng của nhóm doanh nghiệp này vẫn còn gặp nhiều thách thức, không chỉ do đặc thù nội tại của doanh nghiệp, mà còn xuất phát từ yêu cầu bảo đảm an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng và sự chưa đồng bộ giữa các mô hình kinh doanh mới với khuôn khổ tín dụng hiện hành.

Về bản chất, hoạt động tín dụng ngân hàng được xây dựng trên nguyên tắc thận trọng, quản trị rủi ro và bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Các quy trình thẩm định, đánh giá tín dụng hiện nay chủ yếu dựa trên các tiêu chí truyền thống như lịch sử tài chính, dòng tiền ổn định và tài sản bảo đảm hữu hình. Đây là những tiêu chí đã được kiểm chứng hiệu quả trong việc bảo đảm an toàn hệ thống và phù hợp với phần lớn các mô hình kinh doanh truyền thống.

Trong khi đó, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo thường có chu kỳ phát triển khác biệt. Giai đoạn đầu hoạt động, doanh nghiệp có thể chưa tạo ra lợi nhuận ổn định, thậm chí chấp nhận thua lỗ có kiểm soát để đầu tư cho R&D, hoàn thiện sản phẩm và chiếm lĩnh thị trường. Dòng tiền của doanh nghiệp vì vậy mang tính biến động cao, khó dự báo theo các mô hình đánh giá thông thường. Bên cạnh đó, phần lớn giá trị của doanh nghiệp lại nằm ở tài sản vô hình như quyền sở hữu trí tuệ, dữ liệu, nền tảng công nghệ và thương hiệu số - những yếu tố hiện vẫn còn nhiều thách thức trong việc định giá, ghi nhận và sử dụng làm cơ sở bảo đảm cho các khoản vay tín dụng.

Từ góc độ tổ chức tín dụng, việc thận trọng trong cấp vốn cho các mô hình kinh doanh mới là yêu cầu khách quan nhằm bảo đảm chất lượng tín dụng và hạn chế rủi ro phát sinh. Trong bối cảnh hệ thống tài chính - ngân hàng phải đồng thời thực hiện các mục tiêu về ổn định vĩ mô, kiểm soát nợ xấu và tuân thủ các chuẩn mực an toàn, việc mở rộng tín dụng đối với các lĩnh vực có mức độ rủi ro cao cần được cân nhắc kỹ lưỡng, có lộ trình và phù hợp với năng lực quản trị rủi ro của từng tổ chức tín dụng.

Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi số của doanh nghiệp đổi mới sáng tạo tuy mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức trong việc minh bạch hóa thông tin và chuẩn hóa dữ liệu. Không ít doanh nghiệp vẫn chưa xây dựng được hệ thống kế toán - tài chính đồng bộ, dữ liệu kinh doanh còn phân tán, chưa được số hóa đầy đủ hoặc chưa đáp ứng các chuẩn mực báo cáo cần thiết. Điều này khiến việc thu thập, phân tích và đánh giá thông tin của các tổ chức tín dụng gặp khó khăn, làm gia tăng chi phí thẩm định và kéo dài thời gian xét duyệt hồ sơ vay vốn.

Ngoài ra, các yếu tố liên quan đến môi trường pháp lý và khuôn khổ thể chế cho các mô hình kinh doanh mới cũng ảnh hưởng đáng kể đến khả năng tiếp cận tín dụng. Một số lĩnh vực của kinh tế số, kinh tế nền tảng và đổi mới sáng tạo vẫn đang trong quá trình hoàn thiện hành lang pháp lý, khiến mức độ rủi ro pháp lý của doanh nghiệp cao hơn so với các lĩnh vực truyền thống. Đây là yếu tố mà các tổ chức tín dụng cần tính đến trong quá trình đánh giá tổng thể rủi ro của khoản vay.

Như vậy, thách thức tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong bối cảnh chuyển đổi số cần được nhìn nhận như một vấn đề mang tính hệ thống và giai đoạn, xuất phát từ sự khác biệt giữa đặc trưng của mô hình kinh doanh mới và các chuẩn mực tín dụng hiện hành. Việc từng bước thu hẹp khoảng cách này đòi hỏi sự đồng hành của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng và Nhà nước, trên cơ sở hài hòa giữa mục tiêu hỗ trợ đổi mới sáng tạo và yêu cầu bảo đảm an toàn, bền vững của hệ thống tài chính - ngân hàng.

3. Giải pháp cải thiện khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp đổi mới sáng tạo

Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo hiện nay chủ yếu phát triển dựa trên nền tảng số với các mô hình như kinh tế chia sẻ, thương mại điện tử xuyên biên giới, công nghệ tài chính (Fintech), logistics số, chuỗi cung ứng thông minh, kinh tế tuần hoàn…

Đặc trưng cơ bản của các doanh nghiệp này là tỉ trọng tài sản vô hình cao, mức độ rủi ro kinh doanh lớn hơn so với doanh nghiệp truyền thống, song khả năng tăng trưởng nhanh và mở rộng quy mô cũng rất đáng kể. Bên cạnh mục tiêu lợi nhuận, nhiều doanh nghiệp đổi mới sáng tạo còn hướng tới giải quyết các vấn đề xã hội như tối ưu hóa nguồn lực, giảm phát thải, nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường minh bạch thị trường và hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp.

Chính sự khác biệt này đòi hỏi cách tiếp cận phù hợp hơn trong việc đánh giá rủi ro và thiết kế các sản phẩm tài chính - tín dụng, trên cơ sở bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và khuyến khích đổi mới sáng tạo.

Để cải thiện khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, một số giải pháp được đề xuất như sau:

Một là, nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp. Để thực hiện tốt công việc này trước tiên doanh nghiệp cần tập trung xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh minh bạch, rõ ràng, khả thi; chuẩn hóa hệ thống tài chính - kế toán; đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong quản trị và vận hành. Đây là những yếu tố quan trọng, là cơ sở để các tổ chức tín dụng đánh giá rủi ro, tiềm năng phát triển, từ đó quyết định cho vay, giúp doanh nghiệp phát triển bền vững và thu hút đầu tư.

Hai là, đa dạng hóa kênh huy động vốn nhằm giảm phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng. Bên cạnh tín dụng ngân hàng, doanh nghiệp có thể tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi từ Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa... Ngoài ra, doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm các nguồn vốn từ cộng đồng, các nhà đầu tư thiên thần, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ khởi nghiệp sáng tạo... phù hợp với từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp.

Ba là, doanh nghiệp cần tận dụng hiệu quả các chính sách và chương trình hỗ trợ của Trung ương và địa phương để huy động nguồn lực, không chỉ về vốn mà còn là khoa học và công nghệ, kết nối thị trường, đào tạo, tư vấn pháp lý... để nâng cao năng lực và mở rộng sản xuất, kinh doanh, phát triển bền vững. Các nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị như Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã tạo hành lang chính sách thuận lợi cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, đặc biệt thông qua các cơ chế ưu đãi về thuế, quỹ hỗ trợ và chuyển đổi số quy trình cho vay.

4. Kết luận

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất và chuyển dịch mô hình phát triển theo hướng dựa trên tri thức và công nghệ. Tuy nhiên, đặc điểm dựa nhiều vào tài sản vô hình, mô hình kinh doanh mới và mức độ rủi ro cao đã và đang tạo ra những thách thức đáng kể đối với khả năng tiếp cận tín dụng của nhóm doanh nghiệp này theo các phương thức truyền thống.

Kết quả phân tích cho thấy, khoảng cách giữa nhu cầu vốn của doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và các chuẩn mực thẩm định tín dụng hiện hành không chỉ xuất phát từ phía hệ thống tài chính - ngân hàng, mà còn liên quan chặt chẽ đến mức độ minh bạch, năng lực quản trị và khả năng số hóa hoạt động của chính doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số nổi lên như một yếu tố then chốt, góp phần cải thiện chất lượng dữ liệu, tăng cường minh bạch tài chính và tạo tiền đề cho việc từng bước đổi mới phương thức đánh giá tín dụng theo hướng phù hợp hơn với các mô hình kinh doanh mới.

Từ góc độ hệ thống, việc hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo tiếp cận vốn cần được đặt trong tổng thể mục tiêu bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng và ổn định vĩ mô. Các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân, khoa học - công nghệ và chuyển đổi số đã tạo khuôn khổ thuận lợi cho quá trình này, song hiệu quả triển khai phụ thuộc đáng kể vào mức độ phối hợp đồng bộ giữa các chủ thể liên quan.

Trong thời gian tới, việc nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp, đa dạng hóa các kênh dẫn vốn và thúc đẩy ứng dụng chuyển đổi số trong cả hoạt động doanh nghiệp và hệ thống tài chính được kỳ vọng sẽ góp phần thu hẹp khoảng cách tiếp cận tín dụng, qua đó thúc đẩy phát triển bền vững khu vực doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, đóng góp tích cực cho tăng trưởng và chuyển đổi mô hình kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn mới.

Trần Văn Hiển
Trưởng Ban Kinh tế và Xúc tiến thương mại, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam Thành viên mạng lưới tư vấn Chuyển đổi số của Bộ Tài chính

Tin bài khác

Chuyển đổi số ngân hàng: Tiếp tục ưu tiên phát triển hạ tầng số, kết nối liên thông dữ liệu

Chuyển đổi số ngân hàng: Tiếp tục ưu tiên phát triển hạ tầng số, kết nối liên thông dữ liệu

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên số, ngành Ngân hàng đã khẳng định vị thế tiên phong thông qua việc hiện thực hóa các chủ trương của Đảng và Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo ra những nền tảng vững chắc về dữ liệu và công nghệ, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế số và xã hội số của đất nước. Thời gian tới, bên cạnh hoàn thiện hành lang pháp lý, hạ tầng công nghệ, ngành Ngân hàng tiếp tục đầu tư vào phát triển hạ tầng số, kết nối liên thông dữ liệu nhằm đảm bảo an ninh, an toàn và bảo mật hoạt động thanh toán, ngân hàng; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.
Ứng dụng phân tích dữ liệu và học máy nhằm nâng cao hiệu quả tuân thủ chống rửa tiền trong ngân hàng

Ứng dụng phân tích dữ liệu và học máy nhằm nâng cao hiệu quả tuân thủ chống rửa tiền trong ngân hàng

Bài viết phân tích vai trò của phân tích dữ liệu và học máy trong nâng cao hiệu quả tuân thủ chống rửa tiền tại ngân hàng, qua đó giúp cải thiện độ chính xác phát hiện giao dịch đáng ngờ, giảm cảnh báo giả và hỗ trợ chuyển đổi từ cách tiếp cận phản ứng sang chủ động theo các chuẩn mực quốc tế.
Thành công trong chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025 - Nền tảng cho phát triển an toàn, bền vững hệ thống tài chính

Thành công trong chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025 - Nền tảng cho phát triển an toàn, bền vững hệ thống tài chính

Chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu và là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đối với ngành Ngân hàng, chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu nội tại nhằm hiện đại hóa hoạt động quản lý, điều hành và kinh doanh, mà còn giữ vai trò then chốt trong việc thúc đẩy kinh tế số, tài chính toàn diện và cải cách hành chính.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Xu hướng hình thành các quỹ thị trường tiền mã hóa

Xu hướng hình thành các quỹ thị trường tiền mã hóa

Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) vừa công bố tài liệu giới thiệu cơ bản về các quỹ thị trường tiền mã hóa (TMMF). Bài viết đánh giá tiềm năng sử dụng, giải thích mô hình hoạt động của các quỹ cơ bản, ghi chép tốc độ và cấu thành thị trường TMMF. Theo đó, bài viết cũng giải thích các nguồn và gợi ý các mối liên kết TMMF với Stablecoins (một loại tiền điện tử được gắn với một giá trị tham chiếu, phổ biến nhất là đồng USD), nhấn mạnh rủi ro hoạt động liên quan đến sai lệch thanh khoản, khả năng kết nối và vận hành.
Ứng dụng công nghệ Blockchain trong hoạt động ngân hàng: Nghiên cứu tình huống và bằng chứng thực nghiệm

Ứng dụng công nghệ Blockchain trong hoạt động ngân hàng: Nghiên cứu tình huống và bằng chứng thực nghiệm

Bài viết tổng hợp và phân tích các nghiên cứu thực nghiệm nhằm làm rõ tác động của công nghệ Blockchain đối với hiệu quả hoạt động, an ninh và tính minh bạch trong lĩnh vực ngân hàng, đồng thời chỉ ra những thách thức và hàm ý chính sách trong quá trình triển khai công nghệ này.
Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt vượt nhiều mục tiêu đề ra

Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt vượt nhiều mục tiêu đề ra

Bài viết khái quát những kết quả nổi bật của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) tại Việt Nam, qua đó cho thấy nhiều chỉ tiêu đã vượt mục tiêu đề ra, đồng thời phân tích những thách thức đặt ra và định hướng giải pháp thúc đẩy thanh toán số gắn với chuyển đổi số quốc gia trong thời gian tới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong ngành Ngân hàng và những dự báo chiến lược cho tương lai

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong ngành Ngân hàng và những dự báo chiến lược cho tương lai

Thành công của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong ngành Ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào tiến bộ công nghệ mà còn vào khả năng thiết kế lại các thể chế kinh tế, chuẩn mực xã hội và chính sách công để đảm bảo rằng những lợi ích to lớn từ AI được phân phối công bằng và phục vụ cho phúc lợi chung của xã hội.
Xem thêm
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Bài viết phân tích những khoảng trống pháp lý trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam, trên cơ sở so sánh kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc, qua đó đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo đảm sự vận hành ổn định, minh bạch của thị trường và hạn chế rủi ro đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích khoảng trống pháp lý đối với dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam, đồng thời đề xuất khung pháp lý nhằm bảo đảm an toàn hệ thống, bảo vệ khách hàng và tạo nền tảng cho sự phát triển minh bạch của thị trường tài sản số.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành