Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt vượt nhiều mục tiêu đề ra
Thời gian qua, hoạt động TTKDTM ở Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ với nhiều sản phẩm, dịch vụ tiện ích mới, hiện đại, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy kinh tế số, xã hội số. Sau thời gian triển khai Quyết định số 1813/QĐ-TTg ngày 28/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án phát triển TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025, nhiều kết quả trong hoạt động TTKDTM đã vượt các mục tiêu đề ra.
![]() |
| Ảnh minh họa (Nguồn: Internet) |
Hoàn thiện hành lanh pháp lý, hạ tầng đến những con số biết nói
Thực hiện chủ trương, định hướng của Đảng, Chính phủ về thúc đẩy TTKDTM, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã chủ động, tích cực phối hợp với các bộ, ngành, đơn vị liên quan triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển TTKDTM như tham mưu, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 (Quyết định số 1813/QĐ-TTg).
Hành lang pháp lý về lĩnh vực thanh toán tiếp tục được hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và sử dụng các phương tiện và dịch vụ thanh toán mới. Thời gian qua, NHNN, các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, tham mưu trình Quốc hội, Chính phủ ban hành và ban hành theo thẩm quyền nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực thanh toán như: Luật Phòng, chống rửa tiền; Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD); Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính phủ quy định về TTKDTM; Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng - đây là dấu mốc quan trọng, lần đầu tiên tạo hành lang pháp lý linh hoạt cho lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech). Đồng thời, NHNN đã tham mưu trình Chính phủ ban hành Nghị định số 368/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động nhằm tăng cường việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ thanh toán, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam.
Bên cạnh đó, NHNN đã: (i) Ban hành Tiêu chuẩn cơ sở Đặc tả kỹ thuật QR Code hiển thị từ phía khách hàng tại Việt Nam để khuyến khích các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (TCCUDVTT), tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán (TGTT) triển khai theo một tiêu chuẩn chung, thống nhất, tạo thuận lợi cho việc kết nối liên thông thanh toán bằng QR Code; (ii) Ban hành các thông tư về sửa đổi, bổ sung về hoạt động đại lý thanh toán; mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại TCCUDVTT; cung ứng dịch vụ TTKDTM; hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT; hoạt động thẻ ngân hàng; (iii) Ban hành nhiều thông tư hướng dẫn, các văn bản yêu cầu về đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động ngân hàng; (iv) Ban hành nhiều Kế hoạch, Chỉ thị nhằm thúc đẩy TTKDTM và chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng; (v) Xây dựng, triển khai các giải pháp tài chính nhằm hỗ trợ, thúc đẩy TTKDTM…
Đồng thời, NHNN thường xuyên, chủ động theo dõi, chỉ đạo các TCCUDVTT, dịch vụ TGTT tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán. Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng trong công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao.
Hạ tầng phục vụ TTKDTM luôn được chú trọng đầu tư, nâng cấp, phát triển. Hệ thống Thanh toán điện tử liên ngân hàng (TTĐTLNH) hoạt động thông suốt, an toàn, hiệu quả. Hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử do Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia (Napas) tổ chức, vận hành tiếp tục đẩy mạnh tích hợp, kết nối sản phẩm, dịch vụ, nền tảng với các ngành, lĩnh vực khác để cung cấp dịch vụ công qua Cổng dịch vụ công Quốc gia, tập trung vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, giao thông. Mạng lưới ATM, POS bao phủ trên diện rộng, toàn thị trường có gần 21.000 ATM và 873.000 POS; mạng lưới chấp nhận thanh toán (POS/QR Code) phủ đến hầu hết các địa phương trên toàn quốc. Hiện nay, Việt Nam đã hoàn tất kết nối hệ thống thanh toán bán lẻ xuyên biên giới qua QR Code với Thái Lan, Campuchia, Lào, Trung Quốc và đang triển khai kết nối thanh toán QR Code với một số quốc gia khác.
Ngành Ngân hàng tích cực phối hợp Bộ Công an trong triển khai Đề án 06 (Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022) của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030). Theo đó, các TCTD có thể khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (CSDLQGvDC) để phục vụ cho hoạt động xác minh, xác thực khách hàng, nhằm tiết giảm chi phí, tránh được tình trạng sử dụng các thông tin không chính xác, thông tin giả mạo để đăng ký sử dụng các dịch vụ TTKDTM, qua đó góp phần tăng cường công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán. Hệ thống định danh và xác thực điện tử có thể tích hợp với hệ thống thanh toán của các ngân hàng, hệ thống ví điện tử để sử dụng thanh toán cho các dịch vụ công, dịch vụ sinh hoạt thiết yếu như điện, nước… qua đó, góp phần thúc đẩy TTKDTM trong nền kinh tế.
Nhiều sản phẩm, dịch vụ thanh toán được phát triển trên nền tảng các công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã phát triển đa dạng trên nền tảng số hóa, đảm bảo an toàn, bảo mật, mang lại sự thuận tiện cho người sử dụng. Hệ sinh thái số và thanh toán số ngày càng mở rộng, kết nối dịch vụ ngân hàng với nhiều dịch vụ khác trong nền kinh tế để tạo trải nghiệm liền mạch cho người dân, doanh nghiệp.
Sau thời gian triển khai Quyết định số 1813/QĐ-TTg, hoạt động TTKDTM phát triển khá mạnh, nhiều con số ấn tượng vượt các mục tiêu đề ra.
Theo NHNN, từ cuối năm 2024, tỉ lệ người dân từ 15 tuổi trở lên có tài khoản tại ngân hàng đạt 86,97% (đã vượt mục tiêu đặt ra tại Quyết định số 1813/QĐ-TTg). Tỉ lệ TTKDTM trong thương mại điện tử đến cuối năm 2024 đạt 66,8%; số lượng và giá trị giao dịch TTKDTM bình quân hằng năm tăng tương ứng 58,86% và 24,36%; số lượng và giá trị giao dịch qua kênh điện thoại di động bình quân hằng năm tăng tương ứng 73,32% và 52,55%; số lượng và giá trị giao dịch qua kênh Internet bình quân hằng năm tăng tương ứng 60,6% và 31,92% (đạt mục tiêu đặt ra tại Quyết định số 1813/QĐ-TTg).
Giá trị TTKDTM năm 2025 đạt gấp 28,17 lần GDP, vượt mục tiêu đề ra tại Quyết định số 1813/QĐ-TTg (mục tiêu đề ra là cuối năm 2025 giá trị TTKDTM gấp 25 lần GDP). Trong giai đoạn 2021 - 2025, bình quân hằng năm, giao dịch qua kênh Internet tăng tương ứng 60,6% về số lượng và 31,92% về giá trị; giao dịch qua kênh điện thoại di động tăng tương ứng 73,32% về số lượng và 52,55% về giá trị; giao dịch qua kênh QR Code tăng tương ứng 106,24% về số lượng và 128,15% về giá trị.
100% cơ sở giáo dục đại học (trường đại học, cao đẳng) trên địa bàn đô thị chấp nhận thanh toán học phí thông qua hệ thống ngân hàng; hầu hết cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông đã trang bị sẵn sàng phương tiện phục vụ TTKDTM, thực hiện thông báo và khuyến khích học sinh và gia đình người học nộp học phí bằng phương thức TTKDTM (đạt mục tiêu đặt ra tại Quyết định số 1813/QĐ-TTg); 82% số người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp trên địa bàn đô thị được chi trả thông qua các phương thức TTKDTM (vượt mục tiêu đặt ra tại Quyết định số 1813/QĐ-TTg).
Việc triển khai thí điểm dịch vụ Mobile-Money đã đáp ứng một phần nhu cầu của thực tiễn và đang đi vào cuộc sống. Đến cuối tháng 9/2025, tổng số tài khoản đăng ký và sử dụng dịch vụ Mobile-Money là hơn 10,89 triệu tài khoản, trong đó số lượng tài khoản của khách hàng đăng ký và sử dụng dịch vụ ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo khoảng 7,5 triệu tài khoản (chiếm khoảng 70% tổng số tài khoản đăng ký và sử dụng dịch vụ). Tổng số lượng giao dịch qua tài khoản Mobile-Money của khách hàng là hơn 290,43 triệu giao dịch với tổng giá trị giao dịch là khoảng 8.511 tỉ đồng.
Gắn phát triển thanh toán số với chuyển đổi số quốc gia, Chính phủ số, kinh tế số
Mặc dù gặt hái những kết quả nhất định, góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế số, xã hội số, nhưng việc phát triển TTKDTM tại Việt Nam đến nay vẫn còn đối mặt nhiều thách thức. TTKDTM vẫn chưa bao phủ hết các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi. Một trong những khó khăn là hạ tầng viễn thông và Internet chưa đồng đều - nhiều vùng nông thôn, ngoại tỉnh vẫn thiếu kết nối Internet ổn định, ảnh hưởng đến khả năng sử dụng thanh toán số. Các điểm chấp nhận thanh toán điện tử còn thiếu, nhiều cửa hàng nhỏ, quầy hàng tại chợ, khu vực ngoài thành phố chưa trang bị thiết bị chấp nhận QR Code hoặc POS. Nhiều nền tảng thanh toán khác nhau với tiêu chuẩn, yêu cầu kỹ thuật khác nhau, gây khó khăn trong tích hợp cho doanh nghiệp nhỏ.
Thói quen sử dụng tiền mặt còn phổ biến cùng với e ngại tiếp cận dịch vụ thanh toán số đặc biệt là nhóm người lớn tuổi, khu vực nông thôn. Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ cao, thanh toán điện tử gần đây có những diễn biến phức tạp với những hành vi, thủ đoạn mới, tinh vi hơn. Một bộ phận người dân lo ngại về rủi ro an ninh mạng, nỗi sợ bị lừa đảo, mất dữ liệu cá nhân; bên cạnh đó, nhiều người vẫn chưa đủ thông tin, kỹ năng để bảo vệ tài khoản số, dễ bị kẻ gian lừa đảo trực tuyến. Với các hộ kinh doanh nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, chi phí cho trang bị máy POS, QR Code, tích hợp nhiều phương thức thanh toán khá tốn kém. Hộ kinh doanh nhỏ, thương lái chợ truyền thống chủ yếu thanh toán tiền mặt do thói quen.
Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW (được sửa đổi, bổ sung, cập nhật tại Nghị quyết số 71/NQ-CP), trong đó có nhiều nội dung liên quan đến phát triển TTKDTM, chuyển đổi số. NHNN đã ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 71/NQ-CP, trong đó giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị liên quan triển khai nhiều giải pháp nhằm đạt được các mục tiêu trên nhằm thúc đẩy phát triển TTKDTM và chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng.
Thời gian tới, để phát triển TTKDTM, góp phần thúc đẩy kinh tế số, xã hội số, Chính phủ số, ngành Ngân hàng tiếp tục triển khai các Kế hoạch trên đồng thời phối hợp các bộ, ngành liên quan triển khai đồng bộ các giải pháp sau:
Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cơ chế, chính sách về TTKDTM, chuyển đổi số. Tiếp tục phối hợp triển khai xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các mô hình, sản phẩm thanh toán mới sau khi hết thời gian thí điểm.
Về mặt hạ tầng công nghệ và bảo mật, đảm bảo sự vận hành thông suốt, an toàn của các hệ thống thanh toán; nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật trong hoạt động ngân hàng; tăng cường giám sát, phòng chống gian lận, tội phạm công nghệ cao trong hoạt động thanh toán điện tử. Ứng dụng mạnh mẽ xác thực điện tử, sinh trắc học, trí tuệ nhân tạo trong nhận diện và quản lý rủi ro với việc cảnh báo sớm, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, phòng, chống rủi ro gian lận và đảm bảo an ninh an toàn, bảo mật thông tin khách hàng; nâng cao trách nhiệm của tổ chức cung ứng dịch vụ trong bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền lợi người dùng.
Về kết nối dữ liệu, mở rộng hệ sinh thái số, ngành Ngân hàng cần tiếp tục phát triển dữ liệu số, theo đó, quy hoạch xây dựng các kho dữ liệu dùng chung cho ngành Ngân hàng; đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành và Cổng dịch vụ công quốc gia, thúc đẩy thanh toán trực tuyến nhanh chóng, tiện lợi, an toàn. tăng cường khả năng kết nối liên thông và tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Về phối hợp trong quản lý nhà nước, cần đẩy mạnh phối hợp liên ngành trong thúc đẩy TTKDTM; đầu tư, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông, đặc biệt tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa; chuẩn hóa dữ liệu trong từng ngành, lĩnh vực, tạo thuận lợi cho việc tích hợp, kết nối, chia sẻ thông tin với các ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT để mở rộng hệ sinh thái số và phát triển dịch vụ ngân hàng số, thanh toán số. Gắn phát triển TTKDTM với chuyển đổi số quốc gia, chính phủ số, kinh tế số. Theo dõi, đánh giá định kỳ hiệu quả các chương trình, đề án để kịp thời điều chỉnh chính sách.
Để thay đổi thói quen và phổ cập tài chính đến người dân vùng sâu, vùng xa, miền núi, nông thôn, các TCTD cần tiếp tục đẩy mạnh truyền thông, tuyên truyền về lợi ích của TTKDTM; triển khai các chương trình giáo dục tài chính, nâng cao kỹ năng số, các kiến thức về an toàn thông tin, đặc biệt cho người cao tuổi, người dân nông thôn, vùng sâu, vùng xa, khu vực yếu thế; khuyến khích TTKDTM trong chi trả dịch vụ công, học phí, viện phí, an sinh xã hội, qua đó giúp thay đổi thói quen trong thanh toán. Việc mở rộng mạng lưới điểm chấp nhận TTKDTM (QR Code, POS, Mobile Payment) tại chợ truyền thống, hộ kinh doanh nhỏ lẻ, dịch vụ công đi cùng với chính sách hỗ trợ chi phí đầu tư ban đầu (thiết bị, phần mềm, phí giao dịch) cho doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh cá thể. Các ngân hàng, tổ chức TGTT cần phát triển giải pháp thanh toán đơn giản, chi phí hợp lý, dễ sử dụng. Đặc biệt, cần thúc đẩy hợp tác giữa ngân hàng - Fintech - doanh nghiệp để mở rộng hệ sinh thái thanh toán số, thúc đẩy tài chính toàn diện.
Tài liệu tham khảo
1. Quyết định số 1813/QĐ-TTg ngày 28/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án phát triển TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025.
2. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (được sửa đổi, bổ sung, cập nhật tại Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025).
Tin bài khác
Áp dụng mô hình tài chính nhúng tại Việt Nam trong bối cảnh công nghệ số
Ứng dụng công nghệ số và kết nối dữ liệu - Gia tăng tiện ích cho khách hàng
Nền tảng số cho vay sinh viên: Cơ hội, thách thức và định hướng tương lai
Cơ chế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực Fintech - Trường hợp của Việt Nam
Xây dựng hệ sinh thái tài chính số an toàn, minh bạch, bảo vệ quyền lợi và tài sản của khách hàng
Hợp tác quốc tế trong phòng, chống rửa tiền: Vai trò của Việt Nam trong mạng lưới khu vực và toàn cầu
Phát triển dịch vụ Tiền di động: Góp phần phổ cập tài chính, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt
Đề xuất triển khai cơ chế hành lang lãi suất tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điều kiện và bước đi
Chuyển đổi mô hình điều hành chính sách tiền tệ: Kinh nghiệm một số quốc gia Đông Nam Á và bài học cho Việt Nam
Cơ chế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực Fintech - Trường hợp của Việt Nam
Phát triển tài chính xanh trong lĩnh vực nông nghiệp: Kết quả năm 2025 và hàm ý chính sách đối với hệ thống ngân hàng năm 2026
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp
Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát
