Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt vượt nhiều mục tiêu đề ra

Công nghệ & ngân hàng số
Bài viết khái quát những kết quả nổi bật của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) tại Việt Nam, qua đó cho thấy nhiều chỉ tiêu đã vượt mục tiêu đề ra, đồng thời phân tích những thách thức đặt ra và định hướng giải pháp thúc đẩy thanh toán số gắn với chuyển đổi số quốc gia trong thời gian tới.
aa

Thời gian qua, hoạt động TTKDTM ở Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ với nhiều sản phẩm, dịch vụ tiện ích mới, hiện đại, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy kinh tế số, xã hội số. Sau thời gian triển khai Quyết định số 1813/QĐ-TTg ngày 28/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án phát triển TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025, nhiều kết quả trong hoạt động TTKDTM đã vượt các mục tiêu đề ra.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Hoàn thiện hành lanh pháp lý, hạ tầng đến những con số biết nói

Thực hiện chủ trương, định hướng của Đảng, Chính phủ về thúc đẩy TTKDTM, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã chủ động, tích cực phối hợp với các bộ, ngành, đơn vị liên quan triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển TTKDTM như tham mưu, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 (Quyết định số 1813/QĐ-TTg).

Hành lang pháp lý về lĩnh vực thanh toán tiếp tục được hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và sử dụng các phương tiện và dịch vụ thanh toán mới. Thời gian qua, NHNN, các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, tham mưu trình Quốc hội, Chính phủ ban hành và ban hành theo thẩm quyền nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực thanh toán như: Luật Phòng, chống rửa tiền; Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD); Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính phủ quy định về TTKDTM; Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng - đây là dấu mốc quan trọng, lần đầu tiên tạo hành lang pháp lý linh hoạt cho lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech). Đồng thời, NHNN đã tham mưu trình Chính phủ ban hành Nghị định số 368/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động nhằm tăng cường việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ thanh toán, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam.

Bên cạnh đó, NHNN đã: (i) Ban hành Tiêu chuẩn cơ sở Đặc tả kỹ thuật QR Code hiển thị từ phía khách hàng tại Việt Nam để khuyến khích các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (TCCUDVTT), tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán (TGTT) triển khai theo một tiêu chuẩn chung, thống nhất, tạo thuận lợi cho việc kết nối liên thông thanh toán bằng QR Code; (ii) Ban hành các thông tư về sửa đổi, bổ sung về hoạt động đại lý thanh toán; mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại TCCUDVTT; cung ứng dịch vụ TTKDTM; hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT; hoạt động thẻ ngân hàng; (iii) Ban hành nhiều thông tư hướng dẫn, các văn bản yêu cầu về đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động ngân hàng; (iv) Ban hành nhiều Kế hoạch, Chỉ thị nhằm thúc đẩy TTKDTM và chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng; (v) Xây dựng, triển khai các giải pháp tài chính nhằm hỗ trợ, thúc đẩy TTKDTM…

Đồng thời, NHNN thường xuyên, chủ động theo dõi, chỉ đạo các TCCUDVTT, dịch vụ TGTT tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán. Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng trong công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao.

Hạ tầng phục vụ TTKDTM luôn được chú trọng đầu tư, nâng cấp, phát triển. Hệ thống Thanh toán điện tử liên ngân hàng (TTĐTLNH) hoạt động thông suốt, an toàn, hiệu quả. Hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử do Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia (Napas) tổ chức, vận hành tiếp tục đẩy mạnh tích hợp, kết nối sản phẩm, dịch vụ, nền tảng với các ngành, lĩnh vực khác để cung cấp dịch vụ công qua Cổng dịch vụ công Quốc gia, tập trung vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, giao thông. Mạng lưới ATM, POS bao phủ trên diện rộng, toàn thị trường có gần 21.000 ATM và 873.000 POS; mạng lưới chấp nhận thanh toán (POS/QR Code) phủ đến hầu hết các địa phương trên toàn quốc. Hiện nay, Việt Nam đã hoàn tất kết nối hệ thống thanh toán bán lẻ xuyên biên giới qua QR Code với Thái Lan, Campuchia, Lào, Trung Quốc và đang triển khai kết nối thanh toán QR Code với một số quốc gia khác.

Ngành Ngân hàng tích cực phối hợp Bộ Công an trong triển khai Đề án 06 (Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022) của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030). Theo đó, các TCTD có thể khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (CSDLQGvDC) để phục vụ cho hoạt động xác minh, xác thực khách hàng, nhằm tiết giảm chi phí, tránh được tình trạng sử dụng các thông tin không chính xác, thông tin giả mạo để đăng ký sử dụng các dịch vụ TTKDTM, qua đó góp phần tăng cường công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán. Hệ thống định danh và xác thực điện tử có thể tích hợp với hệ thống thanh toán của các ngân hàng, hệ thống ví điện tử để sử dụng thanh toán cho các dịch vụ công, dịch vụ sinh hoạt thiết yếu như điện, nước… qua đó, góp phần thúc đẩy TTKDTM trong nền kinh tế.

Nhiều sản phẩm, dịch vụ thanh toán được phát triển trên nền tảng các công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã phát triển đa dạng trên nền tảng số hóa, đảm bảo an toàn, bảo mật, mang lại sự thuận tiện cho người sử dụng. Hệ sinh thái số và thanh toán số ngày càng mở rộng, kết nối dịch vụ ngân hàng với nhiều dịch vụ khác trong nền kinh tế để tạo trải nghiệm liền mạch cho người dân, doanh nghiệp.

Sau thời gian triển khai Quyết định số 1813/QĐ-TTg, hoạt động TTKDTM phát triển khá mạnh, nhiều con số ấn tượng vượt các mục tiêu đề ra.

Theo NHNN, từ cuối năm 2024, tỉ lệ người dân từ 15 tuổi trở lên có tài khoản tại ngân hàng đạt 86,97% (đã vượt mục tiêu đặt ra tại Quyết định số 1813/QĐ-TTg). Tỉ lệ TTKDTM trong thương mại điện tử đến cuối năm 2024 đạt 66,8%; số lượng và giá trị giao dịch TTKDTM bình quân hằng năm tăng tương ứng 58,86% và 24,36%; số lượng và giá trị giao dịch qua kênh điện thoại di động bình quân hằng năm tăng tương ứng 73,32% và 52,55%; số lượng và giá trị giao dịch qua kênh Internet bình quân hằng năm tăng tương ứng 60,6% và 31,92% (đạt mục tiêu đặt ra tại Quyết định số 1813/QĐ-TTg).

Giá trị TTKDTM năm 2025 đạt gấp 28,17 lần GDP, vượt mục tiêu đề ra tại Quyết định số 1813/QĐ-TTg (mục tiêu đề ra là cuối năm 2025 giá trị TTKDTM gấp 25 lần GDP). Trong giai đoạn 2021 - 2025, bình quân hằng năm, giao dịch qua kênh Internet tăng tương ứng 60,6% về số lượng và 31,92% về giá trị; giao dịch qua kênh điện thoại di động tăng tương ứng 73,32% về số lượng và 52,55% về giá trị; giao dịch qua kênh QR Code tăng tương ứng 106,24% về số lượng và 128,15% về giá trị.

100% cơ sở giáo dục đại học (trường đại học, cao đẳng) trên địa bàn đô thị chấp nhận thanh toán học phí thông qua hệ thống ngân hàng; hầu hết cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông đã trang bị sẵn sàng phương tiện phục vụ TTKDTM, thực hiện thông báo và khuyến khích học sinh và gia đình người học nộp học phí bằng phương thức TTKDTM (đạt mục tiêu đặt ra tại Quyết định số 1813/QĐ-TTg); 82% số người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp trên địa bàn đô thị được chi trả thông qua các phương thức TTKDTM (vượt mục tiêu đặt ra tại Quyết định số 1813/QĐ-TTg).

Việc triển khai thí điểm dịch vụ Mobile-Money đã đáp ứng một phần nhu cầu của thực tiễn và đang đi vào cuộc sống. Đến cuối tháng 9/2025, tổng số tài khoản đăng ký và sử dụng dịch vụ Mobile-Money là hơn 10,89 triệu tài khoản, trong đó số lượng tài khoản của khách hàng đăng ký và sử dụng dịch vụ ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo khoảng 7,5 triệu tài khoản (chiếm khoảng 70% tổng số tài khoản đăng ký và sử dụng dịch vụ). Tổng số lượng giao dịch qua tài khoản Mobile-Money của khách hàng là hơn 290,43 triệu giao dịch với tổng giá trị giao dịch là khoảng 8.511 tỉ đồng.

Gắn phát triển thanh toán số với chuyển đổi số quốc gia, Chính phủ số, kinh tế số

Mặc dù gặt hái những kết quả nhất định, góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế số, xã hội số, nhưng việc phát triển TTKDTM tại Việt Nam đến nay vẫn còn đối mặt nhiều thách thức. TTKDTM vẫn chưa bao phủ hết các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi. Một trong những khó khăn là hạ tầng viễn thông và Internet chưa đồng đều - nhiều vùng nông thôn, ngoại tỉnh vẫn thiếu kết nối Internet ổn định, ảnh hưởng đến khả năng sử dụng thanh toán số. Các điểm chấp nhận thanh toán điện tử còn thiếu, nhiều cửa hàng nhỏ, quầy hàng tại chợ, khu vực ngoài thành phố chưa trang bị thiết bị chấp nhận QR Code hoặc POS. Nhiều nền tảng thanh toán khác nhau với tiêu chuẩn, yêu cầu kỹ thuật khác nhau, gây khó khăn trong tích hợp cho doanh nghiệp nhỏ.

Thói quen sử dụng tiền mặt còn phổ biến cùng với e ngại tiếp cận dịch vụ thanh toán số đặc biệt là nhóm người lớn tuổi, khu vực nông thôn. Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ cao, thanh toán điện tử gần đây có những diễn biến phức tạp với những hành vi, thủ đoạn mới, tinh vi hơn. Một bộ phận người dân lo ngại về rủi ro an ninh mạng, nỗi sợ bị lừa đảo, mất dữ liệu cá nhân; bên cạnh đó, nhiều người vẫn chưa đủ thông tin, kỹ năng để bảo vệ tài khoản số, dễ bị kẻ gian lừa đảo trực tuyến. Với các hộ kinh doanh nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, chi phí cho trang bị máy POS, QR Code, tích hợp nhiều phương thức thanh toán khá tốn kém. Hộ kinh doanh nhỏ, thương lái chợ truyền thống chủ yếu thanh toán tiền mặt do thói quen.

Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW (được sửa đổi, bổ sung, cập nhật tại Nghị quyết số 71/NQ-CP), trong đó có nhiều nội dung liên quan đến phát triển TTKDTM, chuyển đổi số. NHNN đã ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 71/NQ-CP, trong đó giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị liên quan triển khai nhiều giải pháp nhằm đạt được các mục tiêu trên nhằm thúc đẩy phát triển TTKDTM và chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng.

Thời gian tới, để phát triển TTKDTM, góp phần thúc đẩy kinh tế số, xã hội số, Chính phủ số, ngành Ngân hàng tiếp tục triển khai các Kế hoạch trên đồng thời phối hợp các bộ, ngành liên quan triển khai đồng bộ các giải pháp sau:

Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cơ chế, chính sách về TTKDTM, chuyển đổi số. Tiếp tục phối hợp triển khai xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các mô hình, sản phẩm thanh toán mới sau khi hết thời gian thí điểm.

Về mặt hạ tầng công nghệ và bảo mật, đảm bảo sự vận hành thông suốt, an toàn của các hệ thống thanh toán; nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật trong hoạt động ngân hàng; tăng cường giám sát, phòng chống gian lận, tội phạm công nghệ cao trong hoạt động thanh toán điện tử. Ứng dụng mạnh mẽ xác thực điện tử, sinh trắc học, trí tuệ nhân tạo trong nhận diện và quản lý rủi ro với việc cảnh báo sớm, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, phòng, chống rủi ro gian lận và đảm bảo an ninh an toàn, bảo mật thông tin khách hàng; nâng cao trách nhiệm của tổ chức cung ứng dịch vụ trong bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền lợi người dùng.

Về kết nối dữ liệu, mở rộng hệ sinh thái số, ngành Ngân hàng cần tiếp tục phát triển dữ liệu số, theo đó, quy hoạch xây dựng các kho dữ liệu dùng chung cho ngành Ngân hàng; đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành và Cổng dịch vụ công quốc gia, thúc đẩy thanh toán trực tuyến nhanh chóng, tiện lợi, an toàn. tăng cường khả năng kết nối liên thông và tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.

Về phối hợp trong quản lý nhà nước, cần đẩy mạnh phối hợp liên ngành trong thúc đẩy TTKDTM; đầu tư, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông, đặc biệt tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa; chuẩn hóa dữ liệu trong từng ngành, lĩnh vực, tạo thuận lợi cho việc tích hợp, kết nối, chia sẻ thông tin với các ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT để mở rộng hệ sinh thái số và phát triển dịch vụ ngân hàng số, thanh toán số. Gắn phát triển TTKDTM với chuyển đổi số quốc gia, chính phủ số, kinh tế số. Theo dõi, đánh giá định kỳ hiệu quả các chương trình, đề án để kịp thời điều chỉnh chính sách.

Để thay đổi thói quen và phổ cập tài chính đến người dân vùng sâu, vùng xa, miền núi, nông thôn, các TCTD cần tiếp tục đẩy mạnh truyền thông, tuyên truyền về lợi ích của TTKDTM; triển khai các chương trình giáo dục tài chính, nâng cao kỹ năng số, các kiến thức về an toàn thông tin, đặc biệt cho người cao tuổi, người dân nông thôn, vùng sâu, vùng xa, khu vực yếu thế; khuyến khích TTKDTM trong chi trả dịch vụ công, học phí, viện phí, an sinh xã hội, qua đó giúp thay đổi thói quen trong thanh toán. Việc mở rộng mạng lưới điểm chấp nhận TTKDTM (QR Code, POS, Mobile Payment) tại chợ truyền thống, hộ kinh doanh nhỏ lẻ, dịch vụ công đi cùng với chính sách hỗ trợ chi phí đầu tư ban đầu (thiết bị, phần mềm, phí giao dịch) cho doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh cá thể. Các ngân hàng, tổ chức TGTT cần phát triển giải pháp thanh toán đơn giản, chi phí hợp lý, dễ sử dụng. Đặc biệt, cần thúc đẩy hợp tác giữa ngân hàng - Fintech - doanh nghiệp để mở rộng hệ sinh thái thanh toán số, thúc đẩy tài chính toàn diện.

Tài liệu tham khảo

1. Quyết định số 1813/QĐ-TTg ngày 28/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án phát triển TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025.

2. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

3. Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (được sửa đổi, bổ sung, cập nhật tại Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025).

Trang Nhung (NHNN)

Tin bài khác

Phát triển sản phẩm, dịch vụ  ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích yêu cầu phát triển hệ sinh thái ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC). Dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính, bài viết lập luận rằng dịch vụ ngân hàng tại IFC cần chuyển từ tư duy sản phẩm đơn lẻ sang hệ sinh thái tích hợp xuyên suốt hành trình nhà đầu tư. Khung phân tích chỉ ra năng lực cạnh tranh của IFC là kết quả đầu ra của hệ sinh thái gồm sản phẩm, công nghệ, dữ liệu, pháp lý và quản trị rủi ro. Đánh giá bối cảnh Việt Nam cho thấy cơ hội lớn nhưng vẫn tồn tại điểm nghẽn về định danh xuyên biên giới, chuẩn hóa dữ liệu, giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) và rủi ro bên thứ ba. Từ đó, bài viết đề xuất lộ trình chính sách ba giai đoạn nhằm phát triển hạ tầng tài chính số an toàn, minh bạch, góp phần nâng cao năng lực hội nhập tài chính toàn cầu của Việt Nam.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Căng thẳng tài chính của sinh viên trong bối cảnh chuyển đổi số: Thách thức và hàm ý quản trị

Căng thẳng tài chính của sinh viên trong bối cảnh chuyển đổi số: Thách thức và hàm ý quản trị

Bài viết phân tích hiện tượng căng thẳng tài chính của sinh viên trong bối cảnh chuyển đổi số hay còn gọi là căng thẳng tài chính kỹ thuật số, làm rõ các nguyên nhân xuất phát từ công nghệ, hành vi và môi trường xã hội, đồng thời đánh giá những tác động đối với học tập, sức khỏe tinh thần cũng như đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao năng lực ứng phó và thúc đẩy hành vi tài chính lành mạnh ở giới trẻ.
Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển ngân hàng số gắn với cơ chế cảnh báo rủi ro tại các Trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới, từ đó đề xuất định hướng xây dựng hệ sinh thái ngân hàng số an toàn, minh bạch và bền vững cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành trong điều tra, xử lý tội phạm lừa đảo trực tuyến trong lĩnh vực ngân hàng

Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành trong điều tra, xử lý tội phạm lừa đảo trực tuyến trong lĩnh vực ngân hàng

Tội phạm lừa đảo trực tuyến đang trở thành một trong những thách thức lớn đối với an ninh tài chính và hoạt động ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số. Với thủ đoạn ngày càng tinh vi, có sự hỗ trợ của công nghệ cao và tính chất liên ngành, xuyên biên giới, việc xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, doanh nghiệp viễn thông và ngành Ngân hàng là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả điều tra, xử lý và phòng ngừa loại tội phạm này.
Tinh giản quy định tài chính trong kỷ nguyên số: Cân bằng giữa hiệu quả quản lý, ổn định tài chính và các rủi ro mới

Tinh giản quy định tài chính trong kỷ nguyên số: Cân bằng giữa hiệu quả quản lý, ổn định tài chính và các rủi ro mới

Bài viết phân tích những yêu cầu đặt ra đối với khuôn khổ pháp lý và hoạt động giám sát ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, từ đó làm rõ sự cần thiết của việc đổi mới phương thức quản lý nhằm vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, vừa bảo đảm an toàn hệ thống và ổn định tài chính trong kỷ nguyên số.
Quản trị dữ liệu và an toàn thông tin trong ngân hàng số: Tiếp cận tích hợp hướng tới chống chịu vận hành

Quản trị dữ liệu và an toàn thông tin trong ngân hàng số: Tiếp cận tích hợp hướng tới chống chịu vận hành

Bài viết này làm rõ xu hướng chuyển dịch sang mô hình ngân hàng dựa trên dữ liệu, phân tích các thách thức về bảo vệ dữ liệu cá nhân, quản trị rủi ro công nghệ và an toàn thông tin, từ đó đề xuất khuôn khổ quản trị tích hợp nhằm nâng cao khả năng chống chịu vận hành của các tổ chức tín dụng trong môi trường số.
Bảo đảm an ninh tài chính số: Từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin

Bảo đảm an ninh tài chính số: Từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra những cơ hội rất lớn cho ngành Ngân hàng. Nhưng mặt khác, nếu thiếu kiểm soát, AI có thể tạo ra những rủi ro mới, ảnh hưởng đến niềm tin thị trường. Các phương thức lừa đảo chiếm đoạt tài sản ngày càng tinh vi, có tổ chức và đặc biệt sự hỗ trợ của công nghệ AI đã tạo những niềm tin giả rất khó phân biệt. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thay đổi cách tiếp cận trong bảo đảm an ninh tài chính số, từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin.
Xem thêm
Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển ngân hàng số gắn với cơ chế cảnh báo rủi ro tại các Trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới, từ đó đề xuất định hướng xây dựng hệ sinh thái ngân hàng số an toàn, minh bạch và bền vững cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Bài viết cho rằng, trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, việc xây dựng mô hình kinh tế - tài chính hiện đại cùng với phát triển Trung tâm tài chính quốc tế sẽ mở ra cơ hội để Việt Nam tạo đột phá tăng trưởng và vươn lên trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.
Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Bài viết này xây dựng khung đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh Khu vực dựa trên mô hình Input - Process - Output - Effectiveness (IPOE), đồng thời đề xuất hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPI) nhằm lượng hóa hiệu quả giám sát theo vị trí việc làm.
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng