Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt vượt nhiều mục tiêu đề ra

Công nghệ & ngân hàng số
Bài viết khái quát những kết quả nổi bật của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) tại Việt Nam, qua đó cho thấy nhiều chỉ tiêu đã vượt mục tiêu đề ra, đồng thời phân tích những thách thức đặt ra và định hướng giải pháp thúc đẩy thanh toán số gắn với chuyển đổi số quốc gia trong thời gian tới.
aa

Thời gian qua, hoạt động TTKDTM ở Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ với nhiều sản phẩm, dịch vụ tiện ích mới, hiện đại, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy kinh tế số, xã hội số. Sau thời gian triển khai Quyết định số 1813/QĐ-TTg ngày 28/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án phát triển TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025, nhiều kết quả trong hoạt động TTKDTM đã vượt các mục tiêu đề ra.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Hoàn thiện hành lanh pháp lý, hạ tầng đến những con số biết nói

Thực hiện chủ trương, định hướng của Đảng, Chính phủ về thúc đẩy TTKDTM, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã chủ động, tích cực phối hợp với các bộ, ngành, đơn vị liên quan triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển TTKDTM như tham mưu, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 (Quyết định số 1813/QĐ-TTg).

Hành lang pháp lý về lĩnh vực thanh toán tiếp tục được hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và sử dụng các phương tiện và dịch vụ thanh toán mới. Thời gian qua, NHNN, các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, tham mưu trình Quốc hội, Chính phủ ban hành và ban hành theo thẩm quyền nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực thanh toán như: Luật Phòng, chống rửa tiền; Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD); Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính phủ quy định về TTKDTM; Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng - đây là dấu mốc quan trọng, lần đầu tiên tạo hành lang pháp lý linh hoạt cho lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech). Đồng thời, NHNN đã tham mưu trình Chính phủ ban hành Nghị định số 368/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động nhằm tăng cường việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ thanh toán, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam.

Bên cạnh đó, NHNN đã: (i) Ban hành Tiêu chuẩn cơ sở Đặc tả kỹ thuật QR Code hiển thị từ phía khách hàng tại Việt Nam để khuyến khích các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (TCCUDVTT), tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán (TGTT) triển khai theo một tiêu chuẩn chung, thống nhất, tạo thuận lợi cho việc kết nối liên thông thanh toán bằng QR Code; (ii) Ban hành các thông tư về sửa đổi, bổ sung về hoạt động đại lý thanh toán; mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại TCCUDVTT; cung ứng dịch vụ TTKDTM; hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT; hoạt động thẻ ngân hàng; (iii) Ban hành nhiều thông tư hướng dẫn, các văn bản yêu cầu về đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động ngân hàng; (iv) Ban hành nhiều Kế hoạch, Chỉ thị nhằm thúc đẩy TTKDTM và chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng; (v) Xây dựng, triển khai các giải pháp tài chính nhằm hỗ trợ, thúc đẩy TTKDTM…

Đồng thời, NHNN thường xuyên, chủ động theo dõi, chỉ đạo các TCCUDVTT, dịch vụ TGTT tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán. Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng trong công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao.

Hạ tầng phục vụ TTKDTM luôn được chú trọng đầu tư, nâng cấp, phát triển. Hệ thống Thanh toán điện tử liên ngân hàng (TTĐTLNH) hoạt động thông suốt, an toàn, hiệu quả. Hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử do Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia (Napas) tổ chức, vận hành tiếp tục đẩy mạnh tích hợp, kết nối sản phẩm, dịch vụ, nền tảng với các ngành, lĩnh vực khác để cung cấp dịch vụ công qua Cổng dịch vụ công Quốc gia, tập trung vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, giao thông. Mạng lưới ATM, POS bao phủ trên diện rộng, toàn thị trường có gần 21.000 ATM và 873.000 POS; mạng lưới chấp nhận thanh toán (POS/QR Code) phủ đến hầu hết các địa phương trên toàn quốc. Hiện nay, Việt Nam đã hoàn tất kết nối hệ thống thanh toán bán lẻ xuyên biên giới qua QR Code với Thái Lan, Campuchia, Lào, Trung Quốc và đang triển khai kết nối thanh toán QR Code với một số quốc gia khác.

Ngành Ngân hàng tích cực phối hợp Bộ Công an trong triển khai Đề án 06 (Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022) của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030). Theo đó, các TCTD có thể khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (CSDLQGvDC) để phục vụ cho hoạt động xác minh, xác thực khách hàng, nhằm tiết giảm chi phí, tránh được tình trạng sử dụng các thông tin không chính xác, thông tin giả mạo để đăng ký sử dụng các dịch vụ TTKDTM, qua đó góp phần tăng cường công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán. Hệ thống định danh và xác thực điện tử có thể tích hợp với hệ thống thanh toán của các ngân hàng, hệ thống ví điện tử để sử dụng thanh toán cho các dịch vụ công, dịch vụ sinh hoạt thiết yếu như điện, nước… qua đó, góp phần thúc đẩy TTKDTM trong nền kinh tế.

Nhiều sản phẩm, dịch vụ thanh toán được phát triển trên nền tảng các công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã phát triển đa dạng trên nền tảng số hóa, đảm bảo an toàn, bảo mật, mang lại sự thuận tiện cho người sử dụng. Hệ sinh thái số và thanh toán số ngày càng mở rộng, kết nối dịch vụ ngân hàng với nhiều dịch vụ khác trong nền kinh tế để tạo trải nghiệm liền mạch cho người dân, doanh nghiệp.

Sau thời gian triển khai Quyết định số 1813/QĐ-TTg, hoạt động TTKDTM phát triển khá mạnh, nhiều con số ấn tượng vượt các mục tiêu đề ra.

Theo NHNN, từ cuối năm 2024, tỉ lệ người dân từ 15 tuổi trở lên có tài khoản tại ngân hàng đạt 86,97% (đã vượt mục tiêu đặt ra tại Quyết định số 1813/QĐ-TTg). Tỉ lệ TTKDTM trong thương mại điện tử đến cuối năm 2024 đạt 66,8%; số lượng và giá trị giao dịch TTKDTM bình quân hằng năm tăng tương ứng 58,86% và 24,36%; số lượng và giá trị giao dịch qua kênh điện thoại di động bình quân hằng năm tăng tương ứng 73,32% và 52,55%; số lượng và giá trị giao dịch qua kênh Internet bình quân hằng năm tăng tương ứng 60,6% và 31,92% (đạt mục tiêu đặt ra tại Quyết định số 1813/QĐ-TTg).

Giá trị TTKDTM năm 2025 đạt gấp 28,17 lần GDP, vượt mục tiêu đề ra tại Quyết định số 1813/QĐ-TTg (mục tiêu đề ra là cuối năm 2025 giá trị TTKDTM gấp 25 lần GDP). Trong giai đoạn 2021 - 2025, bình quân hằng năm, giao dịch qua kênh Internet tăng tương ứng 60,6% về số lượng và 31,92% về giá trị; giao dịch qua kênh điện thoại di động tăng tương ứng 73,32% về số lượng và 52,55% về giá trị; giao dịch qua kênh QR Code tăng tương ứng 106,24% về số lượng và 128,15% về giá trị.

100% cơ sở giáo dục đại học (trường đại học, cao đẳng) trên địa bàn đô thị chấp nhận thanh toán học phí thông qua hệ thống ngân hàng; hầu hết cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông đã trang bị sẵn sàng phương tiện phục vụ TTKDTM, thực hiện thông báo và khuyến khích học sinh và gia đình người học nộp học phí bằng phương thức TTKDTM (đạt mục tiêu đặt ra tại Quyết định số 1813/QĐ-TTg); 82% số người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp trên địa bàn đô thị được chi trả thông qua các phương thức TTKDTM (vượt mục tiêu đặt ra tại Quyết định số 1813/QĐ-TTg).

Việc triển khai thí điểm dịch vụ Mobile-Money đã đáp ứng một phần nhu cầu của thực tiễn và đang đi vào cuộc sống. Đến cuối tháng 9/2025, tổng số tài khoản đăng ký và sử dụng dịch vụ Mobile-Money là hơn 10,89 triệu tài khoản, trong đó số lượng tài khoản của khách hàng đăng ký và sử dụng dịch vụ ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo khoảng 7,5 triệu tài khoản (chiếm khoảng 70% tổng số tài khoản đăng ký và sử dụng dịch vụ). Tổng số lượng giao dịch qua tài khoản Mobile-Money của khách hàng là hơn 290,43 triệu giao dịch với tổng giá trị giao dịch là khoảng 8.511 tỉ đồng.

Gắn phát triển thanh toán số với chuyển đổi số quốc gia, Chính phủ số, kinh tế số

Mặc dù gặt hái những kết quả nhất định, góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế số, xã hội số, nhưng việc phát triển TTKDTM tại Việt Nam đến nay vẫn còn đối mặt nhiều thách thức. TTKDTM vẫn chưa bao phủ hết các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi. Một trong những khó khăn là hạ tầng viễn thông và Internet chưa đồng đều - nhiều vùng nông thôn, ngoại tỉnh vẫn thiếu kết nối Internet ổn định, ảnh hưởng đến khả năng sử dụng thanh toán số. Các điểm chấp nhận thanh toán điện tử còn thiếu, nhiều cửa hàng nhỏ, quầy hàng tại chợ, khu vực ngoài thành phố chưa trang bị thiết bị chấp nhận QR Code hoặc POS. Nhiều nền tảng thanh toán khác nhau với tiêu chuẩn, yêu cầu kỹ thuật khác nhau, gây khó khăn trong tích hợp cho doanh nghiệp nhỏ.

Thói quen sử dụng tiền mặt còn phổ biến cùng với e ngại tiếp cận dịch vụ thanh toán số đặc biệt là nhóm người lớn tuổi, khu vực nông thôn. Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ cao, thanh toán điện tử gần đây có những diễn biến phức tạp với những hành vi, thủ đoạn mới, tinh vi hơn. Một bộ phận người dân lo ngại về rủi ro an ninh mạng, nỗi sợ bị lừa đảo, mất dữ liệu cá nhân; bên cạnh đó, nhiều người vẫn chưa đủ thông tin, kỹ năng để bảo vệ tài khoản số, dễ bị kẻ gian lừa đảo trực tuyến. Với các hộ kinh doanh nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, chi phí cho trang bị máy POS, QR Code, tích hợp nhiều phương thức thanh toán khá tốn kém. Hộ kinh doanh nhỏ, thương lái chợ truyền thống chủ yếu thanh toán tiền mặt do thói quen.

Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW (được sửa đổi, bổ sung, cập nhật tại Nghị quyết số 71/NQ-CP), trong đó có nhiều nội dung liên quan đến phát triển TTKDTM, chuyển đổi số. NHNN đã ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 71/NQ-CP, trong đó giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị liên quan triển khai nhiều giải pháp nhằm đạt được các mục tiêu trên nhằm thúc đẩy phát triển TTKDTM và chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng.

Thời gian tới, để phát triển TTKDTM, góp phần thúc đẩy kinh tế số, xã hội số, Chính phủ số, ngành Ngân hàng tiếp tục triển khai các Kế hoạch trên đồng thời phối hợp các bộ, ngành liên quan triển khai đồng bộ các giải pháp sau:

Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cơ chế, chính sách về TTKDTM, chuyển đổi số. Tiếp tục phối hợp triển khai xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các mô hình, sản phẩm thanh toán mới sau khi hết thời gian thí điểm.

Về mặt hạ tầng công nghệ và bảo mật, đảm bảo sự vận hành thông suốt, an toàn của các hệ thống thanh toán; nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật trong hoạt động ngân hàng; tăng cường giám sát, phòng chống gian lận, tội phạm công nghệ cao trong hoạt động thanh toán điện tử. Ứng dụng mạnh mẽ xác thực điện tử, sinh trắc học, trí tuệ nhân tạo trong nhận diện và quản lý rủi ro với việc cảnh báo sớm, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, phòng, chống rủi ro gian lận và đảm bảo an ninh an toàn, bảo mật thông tin khách hàng; nâng cao trách nhiệm của tổ chức cung ứng dịch vụ trong bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền lợi người dùng.

Về kết nối dữ liệu, mở rộng hệ sinh thái số, ngành Ngân hàng cần tiếp tục phát triển dữ liệu số, theo đó, quy hoạch xây dựng các kho dữ liệu dùng chung cho ngành Ngân hàng; đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành và Cổng dịch vụ công quốc gia, thúc đẩy thanh toán trực tuyến nhanh chóng, tiện lợi, an toàn. tăng cường khả năng kết nối liên thông và tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.

Về phối hợp trong quản lý nhà nước, cần đẩy mạnh phối hợp liên ngành trong thúc đẩy TTKDTM; đầu tư, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông, đặc biệt tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa; chuẩn hóa dữ liệu trong từng ngành, lĩnh vực, tạo thuận lợi cho việc tích hợp, kết nối, chia sẻ thông tin với các ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT để mở rộng hệ sinh thái số và phát triển dịch vụ ngân hàng số, thanh toán số. Gắn phát triển TTKDTM với chuyển đổi số quốc gia, chính phủ số, kinh tế số. Theo dõi, đánh giá định kỳ hiệu quả các chương trình, đề án để kịp thời điều chỉnh chính sách.

Để thay đổi thói quen và phổ cập tài chính đến người dân vùng sâu, vùng xa, miền núi, nông thôn, các TCTD cần tiếp tục đẩy mạnh truyền thông, tuyên truyền về lợi ích của TTKDTM; triển khai các chương trình giáo dục tài chính, nâng cao kỹ năng số, các kiến thức về an toàn thông tin, đặc biệt cho người cao tuổi, người dân nông thôn, vùng sâu, vùng xa, khu vực yếu thế; khuyến khích TTKDTM trong chi trả dịch vụ công, học phí, viện phí, an sinh xã hội, qua đó giúp thay đổi thói quen trong thanh toán. Việc mở rộng mạng lưới điểm chấp nhận TTKDTM (QR Code, POS, Mobile Payment) tại chợ truyền thống, hộ kinh doanh nhỏ lẻ, dịch vụ công đi cùng với chính sách hỗ trợ chi phí đầu tư ban đầu (thiết bị, phần mềm, phí giao dịch) cho doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh cá thể. Các ngân hàng, tổ chức TGTT cần phát triển giải pháp thanh toán đơn giản, chi phí hợp lý, dễ sử dụng. Đặc biệt, cần thúc đẩy hợp tác giữa ngân hàng - Fintech - doanh nghiệp để mở rộng hệ sinh thái thanh toán số, thúc đẩy tài chính toàn diện.

Tài liệu tham khảo

1. Quyết định số 1813/QĐ-TTg ngày 28/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án phát triển TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025.

2. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

3. Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (được sửa đổi, bổ sung, cập nhật tại Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025).

Trang Nhung (NHNN)

Tin bài khác

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Vai trò kiến tạo của hạ tầng thanh toán xuyên biên giới

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Vai trò kiến tạo của hạ tầng thanh toán xuyên biên giới

Bài viết nghiên cứu vai trò then chốt của hệ thống thanh toán xuyên biên giới trong lộ trình hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính, tổng hợp và phân tích dữ liệu thứ cấp kết hợp so sánh điển cứu quốc tế, nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù thị trường công nghệ tài chính (Fintech) Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, hạ tầng thanh toán vẫn còn khoảng cách về chuẩn hóa kỹ thuật (ISO 20022) và năng lực bán buôn so với chuẩn IFC toàn cầu. Kết quả nghiên cứu khẳng định việc nâng cấp hạ tầng mềm và hoàn thiện khung pháp lý thử nghiệm (Sandbox) là điều kiện tiên quyết để thu hút dòng vốn quốc tế. Từ đó, bài viết đề xuất các hàm ý chính sách trọng tâm về khung pháp lý, chuẩn hóa dữ liệu, thí điểm công nghệ chuỗi khối (Blockchain) và gia nhập các mạng lưới thanh toán đa phương nhằm tối ưu hóa năng lực cạnh tranh cho IFC tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
Ứng dụng hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và tự động hóa trong chiến lược tối ưu hóa phễu chuyển đổi khách hàng tại các ngân hàng thương mại

Ứng dụng hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và tự động hóa trong chiến lược tối ưu hóa phễu chuyển đổi khách hàng tại các ngân hàng thương mại

Trong bối cảnh chuyển đổi số, bài viết đề xuất mô hình kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa nhằm tối ưu phễu chuyển đổi khách hàng (mô hình mô phỏng hành trình của một khách hàng từ lúc lần đầu biết đến thương hiệu cho đến khi thực hiện hành động mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ) tại ngân hàng thương mại, qua đó giảm chi phí thu hút, rút ngắn thời gian ra quyết định tín dụng và cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng.
Xây dựng năng lực tự bảo vệ trước rủi ro tâm lý và công nghệ cho thế hệ Z trong bối cảnh thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam

Xây dựng năng lực tự bảo vệ trước rủi ro tâm lý và công nghệ cho thế hệ Z trong bối cảnh thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam đang được triển khai thí điểm, thế hệ Z với lợi thế về khả năng tiếp cận công nghệ lại đứng trước nhiều rủi ro đan xen, đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực tài chính số và xây dựng cơ chế bảo vệ khi tham gia thị trường.
Ứng dụng AI thúc đẩy kinh tế xanh và Net-Zero trong doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế, bài học cho Việt Nam

Ứng dụng AI thúc đẩy kinh tế xanh và Net-Zero trong doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế, bài học cho Việt Nam

Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI) trong thúc đẩy kinh tế xanh và thực hiện chiến lược Net-Zero, qua đó, đề xuất bài học và giải pháp giúp doanh nghiệp Việt Nam kết hợp chuyển đổi số với chuyển đổi xanh, hướng đến phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Hệ khuyến nghị học liên kết: Xu hướng phát triển trong kỷ nguyên dữ liệu phân tán

Hệ khuyến nghị học liên kết: Xu hướng phát triển trong kỷ nguyên dữ liệu phân tán

Trong bối cảnh dữ liệu ngày càng phân tán và yêu cầu nghiêm ngặt về bảo vệ quyền riêng tư, hệ khuyến nghị học liên kết (Federated Recommender Systems - FRS) nổi lên như một hướng tiếp cận tiềm năng, cho phép khai thác dữ liệu từ nhiều nguồn mà không cần chia sẻ dữ liệu gốc, qua đó mở rộng khả năng ứng dụng trong ngân hàng, thương mại điện tử, y tế và giáo dục.
Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngày 18 - 19/8/2026, sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 với chủ đề “Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo (AI)” đã chính thức diễn ra tại Hà Nội.
Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành. Tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là: Chuyển đổi số phải đi cùng an toàn; khai thác dữ liệu phải đi cùng bảo vệ dữ liệu; ứng dụng AI phải đi cùng quản trị rủi ro; đổi mới sáng tạo phải đi cùng tuân thủ, kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Trí tuệ nhân tạo trong bảo mật dữ liệu chuỗi cung ứng tài chính

Trí tuệ nhân tạo trong bảo mật dữ liệu chuỗi cung ứng tài chính

Bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI) trong tăng cường bảo mật dữ liệu và quản trị rủi ro an ninh mạng đối với chuỗi cung ứng tài chính (Financial Supply Chain - FSC) trong ngành Ngân hàng, qua đó làm rõ những lợi ích, thách thức và hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng AI trong bối cảnh chuyển đổi số.
Xem thêm
Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng chịu tác động bởi những rủi ro mới và yêu cầu quản trị ngày càng cao, kiểm toán nội bộ giữ vai trò quan trọng trong củng cố hệ thống kiểm soát, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh tài chính khu vực, đồng thời đòi hỏi những đột phá về thể chế, hạ tầng, địa kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 44/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2025/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí

Thông tư số 43/2026/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối