Phát triển dịch vụ Tiền di động: Góp phần phổ cập tài chính, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt

Công nghệ & ngân hàng số
Nhằm tạo hành lang pháp lý chính thức cho việc triển khai dịch vụ Tiền di động, tăng cường việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam, ngày 31/12/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 368/2025/NĐ-CP quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động.
aa

Tạo nền tảng cho Tiền di động phát triển an toàn trên thị trường Việt Nam

Nghị định số 368/2025/NĐ-CP đã tạo hành lang pháp lý chính thức cho một hình thức thanh toán mới, phù hợp với thực tiễn, tháo gỡ một số khó khăn, vướng mắc ghi nhận được trong quá trình thí điểm, góp phần phát triển hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM); giúp tăng cường việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam; đồng thời, pháp lý hóa vai trò quản lý nhà nước trong hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động của các bộ, cơ quan liên quan trong quản lý, giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động. Nghị định quy định cụ thể về trách nhiệm và nghĩa vụ các bên liên quan, làm cơ sở để cơ quan quản lý thực hiện chức năng quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động; đồng thời, thiết lập và kiến tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, bảo đảm sự cạnh tranh công bằng, bình đẳng của các chủ thể tham gia cung ứng dịch vụ.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Một số quy định cụ thể tại Nghị định số 368/2025/NĐ-CP:

Các giao dịch thực hiện qua tài khoản Tiền di động phải được thực hiện bằng Đồng Việt Nam

Theo Điều 4, tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động được thực hiện dịch vụ Tiền di động trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam và giao dịch thanh toán cho hàng hóa, dịch vụ nước ngoài.

Việc thực hiện thanh toán, quyết toán các giao dịch thanh toán cho hàng hóa, dịch vụ nước ngoài phải được thực hiện thông qua ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chấp thuận hoạt động ngoại hối trên thị trường quốc tế.

Theo Điều 5, các giao dịch thực hiện qua tài khoản Tiền di động phải được thực hiện bằng Đồng Việt Nam. Việc quy đổi từ ngoại tệ ra Đồng Việt Nam (hoặc từ Đồng Việt Nam ra ngoại tệ), tỉ giá giữa Đồng Việt Nam và ngoại tệ theo tỉ giá do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật.

Một khách hàng được mở tối đa một tài khoản Tiền di động tại một tổ chức cung ứng dịch vụ

Nghị định quy định đối tượng khách hàng sử dụng dịch vụ Tiền di động là cá nhân sử dụng số thuê bao viễn thông đang được tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động cung cấp dịch vụ viễn thông di động mặt đất theo quy định của pháp luật. Một khách hàng được mở tối đa một tài khoản Tiền di động tại một tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động (theo Điều 7).

Sử dụng tài khoản Tiền di động

Theo Điều 14, việc nạp tiền, nhận tiền vào tài khoản Tiền di động được thực hiện thông qua các hình thức sau: Nạp tiền mặt vào tài khoản Tiền di động của chính chủ tài khoản Tiền di động tại các điểm kinh doanh; nhận tiền từ tài khoản thanh toán bằng Đồng Việt Nam, thẻ ghi nợ gắn với tài khoản thanh toán bằng Đồng Việt Nam mở tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; nhận tiền từ ví điện tử; nhận tiền từ tài khoản Tiền di động khác.

Chủ tài khoản Tiền di động được sử dụng tài khoản Tiền di động để: Rút tiền mặt từ tài khoản Tiền di động của chính chủ tài khoản Tiền di động tại các điểm kinh doanh; chuyển tiền đến tài khoản Tiền di động khác; chuyển tiền đến tài khoản thanh toán bằng Đồng Việt Nam, thẻ ghi nợ gắn với tài khoản thanh toán bằng Đồng Việt Nam mở tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; chuyển tiền đến ví điện tử; thanh toán cho hàng hóa, dịch vụ; nộp phí, lệ phí cho các dịch vụ công hợp pháp; thanh toán điện tử giao thông đường bộ theo quy định của pháp luật thông qua việc kết nối với tài khoản giao thông.

Hạn mức giao dịch tối đa 100 triệu đồng/tháng

Điều 15 của Nghị định số 368/2025/NĐ-CP quy định tổng hạn mức giao dịch chuyển tiền và thanh toán qua tài khoản Tiền di động của 01 khách hàng tại 01 tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động tại Nghị định này tối đa là 100 triệu Đồng Việt Nam trong một tháng. Quy định này không áp dụng đối với tài khoản Tiền di động của khách hàng có ký hợp đồng hoặc thỏa thuận làm Đơn vị chấp nhận thanh toán với tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động.

Ngoài hạn mức quy định nêu trên, khách hàng được sử dụng thêm hạn mức đối với các giao dịch thanh toán gồm: Thanh toán trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia; điện; nước; viễn thông; các loại phí, giá, tiền dịch vụ liên quan đến hoạt động giao thông của phương tiện giao thông đường bộ; học phí; viện phí; đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; đóng phí bảo hiểm theo quy định tại Luật Kinh doanh bảo hiểm; chi trả các khoản nợ đến hạn, quá hạn, lãi và các chi phí phát sinh cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định pháp luật; nhưng phải đảm bảo tổng hạn mức cho các giao dịch thanh toán này không vượt quá 100 triệu Đồng Việt Nam trong một tháng.

Bên cạnh đó, theo Điều 6 của Nghị định, khách hàng không được sử dụng tài khoản Tiền di động để thực hiện: Tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động cấp tín dụng cho khách hàng trên tài khoản Tiền di động, trả lãi trên số dư tài khoản Tiền di động hoặc bất kỳ hành động nào có thể làm tăng giá trị tiền tệ trên tài khoản Tiền di động so với giá trị tiền được nạp vào tài khoản Tiền di động của khách hàng; cung ứng hoặc sử dụng tài khoản Tiền di động để thực hiện các giao dịch cho mục đích rửa tiền, tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; lừa đảo, gian lận; thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, trao đổi, tặng, cho hoặc mua, bán tài khoản Tiền di động, thông tin tài khoản Tiền di động; tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động sử dụng nguồn tiền từ tài khoản Tiền di động của khách hàng cho các mục đích khác của tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động; thực hiện, tổ chức thực hiện hoặc tạo điều kiện thực hiện các hành vi sử dụng, lợi dụng tài khoản Tiền di động để đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gian lận, lừa đảo, kinh doanh trái pháp luật và các hành vi vi phạm pháp luật khác.

Đạt mục tiêu thu hút khách hàng vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo

Trước đó, triển khai Quyết định số 316/QĐ-TTg ngày 09/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt triển khai thí điểm dịch vụ Mobile-Money (nay gọi là dịch vụ Tiền di động), NHNN đã có Quyết định chấp thuận triển khai thí điểm dịch vụ Mobile-Money cho 03 doanh nghiệp là Tổng Công ty Truyền thông, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT Media), Tổng Công ty Viễn thông MobiFone, Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội (Viettel).

Sau thời gian triển khai dịch vụ, các doanh nghiệp thực hiện thí điểm đã đạt được kết quả khả quan và bảo đảm an toàn, góp phần vào phát triển hoạt động TTKDTM, tăng cường việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam. Việc triển khai thí điểm dịch vụ Tiền di động đã đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn, đã và đang đi vào cuộc sống.

Theo NHNN, đến cuối tháng 9/2025, tổng số tài khoản đăng ký và sử dụng dịch vụ Tiền di động là hơn 10,89 triệu tài khoản, trong đó số lượng tài khoản của khách hàng đăng ký và sử dụng dịch vụ ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo khoảng 7,5 triệu tài khoản (chiếm khoảng 70% tổng số tài khoản đăng ký và sử dụng dịch vụ). Tổng số lượng giao dịch qua tài khoản Tiền di động của khách hàng là hơn 290,43 triệu giao dịch với tổng giá trị giao dịch là khoảng 8.511 tỉ đồng.

Hiện nay, Bộ Công an đã chủ trì làm việc cùng với các nhà mạng xây dựng quy trình, quy chế phối hợp để triển khai thực hiện kết nối để làm sạch thuê bao di động, giải quyết tình trạng sim rác trên nền tảng dữ liệu dân cư; cấp tài khoản Tiền di động, cấp sim chính chủ gắn với việc cấp tài khoản định danh điện tử cho công dân.

Mặc dù đã đạt mục tiêu bước đầu thu hút hàng triệu người dùng, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa, nhưng dịch vụ Tiền di động cũng phải cạnh tranh gay gắt với các phương tiện TTKDTM khác như ví điện tử, Internet Banking; QR Code… Bên cạnh đó, hiện nay, một bộ phận người dân vẫn chưa thay đổi được thói quen thanh toán tiền mặt.

Hơn nữa, chi phí cho việc tuyên truyền, quảng bá khá tốn kém, đặc biệt là để tiếp cận đối tượng khách hàng tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam. Việc mở rộng thị trường, điểm kinh doanh ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa cũng gặp một số khó khăn do khoảng cách địa lý. Số lượng doanh nghiệp tại các khu vực này còn hạn chế, tỉ lệ các doanh nghiệp phù hợp và đáp ứng các tiêu chí để trở thành điểm kinh doanh dịch vụ này còn thấp. Bên cạnh đó là vấn đề thiếu hụt nhân lực công nghệ và còn nhiều khó khăn trong các vấn đề bảo đảm an toàn thông tin và phòng, chống tội phạm công nghệ cao.

Thời gian tới, để việc triển khai dịch vụ Tiền di động hiệu quả, phổ cập hơn nữa tới khách hàng, đòi hỏi các doanh nghiệp cung ứng cần có chiến lược phát triển khách hàng, tăng cường truyền thông, marketing bài bản.

Do đối tượng nhắm tới của dịch vụ Tiền di động là người dân vùng sâu, vùng xa, nơi hiểu biết về công nghệ còn hạn chế, nên nguy cơ bị tội phạm công nghệ tấn công là rất lớn. Vì vậy, để dịch vụ này trở thành kênh toán toán phổ cập, giúp phủ sóng tài chính toàn diện khu vực nông thôn, các nhà mạng cũng cần tăng cường tuyên truyền cho người dân về cách thức sử dụng, kỹ năng bảo mật thông tin và tài khoản khi sử dụng dịch vụ để hạn chế rủi ro mất tiền trong tài khoản, bảo đảm quyền lợi và gia tăng niềm tin khách hàng. Đồng thời lưu ý khách hàng về những hành vi bị cấm khi sử dụng tài khoản Tiền di động.

Cùng với đó, các doanh nghiệp viễn thông phải bảo đảm được dữ liệu để định danh khách hàng sử dụng thuê bao di động là chính xác, hay nói cách khác là chuẩn hóa kho dữ liệu, cập nhật thường xuyên; phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai, thúc đẩy thanh toán dịch vụ công, các khoản trợ cấp Chính phủ qua dịch vụ Tiền di động. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp này cần đầu tư hạ tầng công nghệ, nhân lực, phát triển mạng lưới triển khai dịch vụ tại các khu vực nông thôn, miền núi, tiến tới mở rộng hệ thống các điểm kinh doanh trên toàn quốc; chú trọng xây dựng ứng dụng an toàn, thuận tiện, dễ sử dụng; có những chính sách khuyến mại hấp dẫn, phát triển hệ sinh thái số trên dịch vụ này để gia tăng tiện ích cho khách hàng.

Đối với ngành Ngân hàng, cần hoàn thiện văn bản hướng dẫn; tổ chức cấp phép, quản lý và giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động; bảo đảm an toàn hệ thống thanh toán, phòng chống rửa tiền; bảo vệ quyền lợi người sử dụng; tăng cường phối hợp liên ngành nhằm thúc đẩy TTKDTM và tài chính toàn diện.

Về phía các bộ, ngành liên quan cần nghiên cứu để có thể cho phép các doanh nghiệp viễn thông được sử dụng mạng truyền số liệu chuyên dùng kết nối trực tiếp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Việc kết nối trực tiếp giúp cho doanh nghiệp xác thực và định danh khách hàng, theo đó, những thuê bao đã được doanh nghiệp viễn thông thực hiện đối chiếu và xác thực thông tin với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư sẽ được phép đăng ký tài khoản Tiền di động, từ đó sẽ giúp đơn giản hóa thủ tục cung cấp dịch vụ cho khách hàng, góp phần thúc đẩy TTKDTM.

Tài liệu tham khảo

1. Nghị định số 368/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động.

2. Quyết định số 316/QĐ-TTg ngày 09/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt triển khai thí điểm dịch vụ Mobile-Money.

Hà An (NHNN)

Tin bài khác

Thành công trong chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025 - Nền tảng cho phát triển an toàn, bền vững hệ thống tài chính

Thành công trong chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025 - Nền tảng cho phát triển an toàn, bền vững hệ thống tài chính

Chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu và là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đối với ngành Ngân hàng, chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu nội tại nhằm hiện đại hóa hoạt động quản lý, điều hành và kinh doanh, mà còn giữ vai trò then chốt trong việc thúc đẩy kinh tế số, tài chính toàn diện và cải cách hành chính.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và khả năng tiếp cận tín dụng trong bối cảnh chuyển đổi số

Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và khả năng tiếp cận tín dụng trong bối cảnh chuyển đổi số

Bài viết tập trung làm rõ những rào cản trong tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong bối cảnh chuyển đổi số, đồng thời đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính - ngân hàng theo hướng đồng hành, hỗ trợ hiệu quả hơn cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững.
Xu hướng hình thành các quỹ thị trường tiền mã hóa

Xu hướng hình thành các quỹ thị trường tiền mã hóa

Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) vừa công bố tài liệu giới thiệu cơ bản về các quỹ thị trường tiền mã hóa (TMMF). Bài viết đánh giá tiềm năng sử dụng, giải thích mô hình hoạt động của các quỹ cơ bản, ghi chép tốc độ và cấu thành thị trường TMMF. Theo đó, bài viết cũng giải thích các nguồn và gợi ý các mối liên kết TMMF với Stablecoins (một loại tiền điện tử được gắn với một giá trị tham chiếu, phổ biến nhất là đồng USD), nhấn mạnh rủi ro hoạt động liên quan đến sai lệch thanh khoản, khả năng kết nối và vận hành.
Ứng dụng công nghệ Blockchain trong hoạt động ngân hàng: Nghiên cứu tình huống và bằng chứng thực nghiệm

Ứng dụng công nghệ Blockchain trong hoạt động ngân hàng: Nghiên cứu tình huống và bằng chứng thực nghiệm

Bài viết tổng hợp và phân tích các nghiên cứu thực nghiệm nhằm làm rõ tác động của công nghệ Blockchain đối với hiệu quả hoạt động, an ninh và tính minh bạch trong lĩnh vực ngân hàng, đồng thời chỉ ra những thách thức và hàm ý chính sách trong quá trình triển khai công nghệ này.
Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt vượt nhiều mục tiêu đề ra

Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt vượt nhiều mục tiêu đề ra

Bài viết khái quát những kết quả nổi bật của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) tại Việt Nam, qua đó cho thấy nhiều chỉ tiêu đã vượt mục tiêu đề ra, đồng thời phân tích những thách thức đặt ra và định hướng giải pháp thúc đẩy thanh toán số gắn với chuyển đổi số quốc gia trong thời gian tới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong ngành Ngân hàng và những dự báo chiến lược cho tương lai

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong ngành Ngân hàng và những dự báo chiến lược cho tương lai

Thành công của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong ngành Ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào tiến bộ công nghệ mà còn vào khả năng thiết kế lại các thể chế kinh tế, chuẩn mực xã hội và chính sách công để đảm bảo rằng những lợi ích to lớn từ AI được phân phối công bằng và phục vụ cho phúc lợi chung của xã hội.
Áp dụng mô hình tài chính nhúng tại Việt Nam trong bối cảnh công nghệ số

Áp dụng mô hình tài chính nhúng tại Việt Nam trong bối cảnh công nghệ số

Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của mô hình tài chính nhúng tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, làm rõ các động lực công nghệ, thể chế, đánh giá kết quả bước đầu, chỉ ra rủi ro tiềm ẩn và đề xuất khuyến nghị chính sách nhằm phát triển tài chính nhúng theo hướng đổi mới sáng tạo có kiểm soát, bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy tài chính toàn diện.
Xem thêm
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Bài viết phân tích những khoảng trống pháp lý trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam, trên cơ sở so sánh kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc, qua đó đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo đảm sự vận hành ổn định, minh bạch của thị trường và hạn chế rủi ro đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích khoảng trống pháp lý đối với dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam, đồng thời đề xuất khung pháp lý nhằm bảo đảm an toàn hệ thống, bảo vệ khách hàng và tạo nền tảng cho sự phát triển minh bạch của thị trường tài sản số.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng