Phát triển dịch vụ Tiền di động: Góp phần phổ cập tài chính, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt
Tạo nền tảng cho Tiền di động phát triển an toàn trên thị trường Việt Nam
Nghị định số 368/2025/NĐ-CP đã tạo hành lang pháp lý chính thức cho một hình thức thanh toán mới, phù hợp với thực tiễn, tháo gỡ một số khó khăn, vướng mắc ghi nhận được trong quá trình thí điểm, góp phần phát triển hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM); giúp tăng cường việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam; đồng thời, pháp lý hóa vai trò quản lý nhà nước trong hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động của các bộ, cơ quan liên quan trong quản lý, giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động. Nghị định quy định cụ thể về trách nhiệm và nghĩa vụ các bên liên quan, làm cơ sở để cơ quan quản lý thực hiện chức năng quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động; đồng thời, thiết lập và kiến tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, bảo đảm sự cạnh tranh công bằng, bình đẳng của các chủ thể tham gia cung ứng dịch vụ.
![]() |
| Ảnh minh họa (Nguồn: Internet) |
Một số quy định cụ thể tại Nghị định số 368/2025/NĐ-CP:
Các giao dịch thực hiện qua tài khoản Tiền di động phải được thực hiện bằng Đồng Việt Nam
Theo Điều 4, tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động được thực hiện dịch vụ Tiền di động trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam và giao dịch thanh toán cho hàng hóa, dịch vụ nước ngoài.
Việc thực hiện thanh toán, quyết toán các giao dịch thanh toán cho hàng hóa, dịch vụ nước ngoài phải được thực hiện thông qua ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chấp thuận hoạt động ngoại hối trên thị trường quốc tế.
Theo Điều 5, các giao dịch thực hiện qua tài khoản Tiền di động phải được thực hiện bằng Đồng Việt Nam. Việc quy đổi từ ngoại tệ ra Đồng Việt Nam (hoặc từ Đồng Việt Nam ra ngoại tệ), tỉ giá giữa Đồng Việt Nam và ngoại tệ theo tỉ giá do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật.
Một khách hàng được mở tối đa một tài khoản Tiền di động tại một tổ chức cung ứng dịch vụ
Nghị định quy định đối tượng khách hàng sử dụng dịch vụ Tiền di động là cá nhân sử dụng số thuê bao viễn thông đang được tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động cung cấp dịch vụ viễn thông di động mặt đất theo quy định của pháp luật. Một khách hàng được mở tối đa một tài khoản Tiền di động tại một tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động (theo Điều 7).
Sử dụng tài khoản Tiền di động
Theo Điều 14, việc nạp tiền, nhận tiền vào tài khoản Tiền di động được thực hiện thông qua các hình thức sau: Nạp tiền mặt vào tài khoản Tiền di động của chính chủ tài khoản Tiền di động tại các điểm kinh doanh; nhận tiền từ tài khoản thanh toán bằng Đồng Việt Nam, thẻ ghi nợ gắn với tài khoản thanh toán bằng Đồng Việt Nam mở tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; nhận tiền từ ví điện tử; nhận tiền từ tài khoản Tiền di động khác.
Chủ tài khoản Tiền di động được sử dụng tài khoản Tiền di động để: Rút tiền mặt từ tài khoản Tiền di động của chính chủ tài khoản Tiền di động tại các điểm kinh doanh; chuyển tiền đến tài khoản Tiền di động khác; chuyển tiền đến tài khoản thanh toán bằng Đồng Việt Nam, thẻ ghi nợ gắn với tài khoản thanh toán bằng Đồng Việt Nam mở tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; chuyển tiền đến ví điện tử; thanh toán cho hàng hóa, dịch vụ; nộp phí, lệ phí cho các dịch vụ công hợp pháp; thanh toán điện tử giao thông đường bộ theo quy định của pháp luật thông qua việc kết nối với tài khoản giao thông.
Hạn mức giao dịch tối đa 100 triệu đồng/tháng
Điều 15 của Nghị định số 368/2025/NĐ-CP quy định tổng hạn mức giao dịch chuyển tiền và thanh toán qua tài khoản Tiền di động của 01 khách hàng tại 01 tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động tại Nghị định này tối đa là 100 triệu Đồng Việt Nam trong một tháng. Quy định này không áp dụng đối với tài khoản Tiền di động của khách hàng có ký hợp đồng hoặc thỏa thuận làm Đơn vị chấp nhận thanh toán với tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động.
Ngoài hạn mức quy định nêu trên, khách hàng được sử dụng thêm hạn mức đối với các giao dịch thanh toán gồm: Thanh toán trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia; điện; nước; viễn thông; các loại phí, giá, tiền dịch vụ liên quan đến hoạt động giao thông của phương tiện giao thông đường bộ; học phí; viện phí; đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; đóng phí bảo hiểm theo quy định tại Luật Kinh doanh bảo hiểm; chi trả các khoản nợ đến hạn, quá hạn, lãi và các chi phí phát sinh cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định pháp luật; nhưng phải đảm bảo tổng hạn mức cho các giao dịch thanh toán này không vượt quá 100 triệu Đồng Việt Nam trong một tháng.
Bên cạnh đó, theo Điều 6 của Nghị định, khách hàng không được sử dụng tài khoản Tiền di động để thực hiện: Tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động cấp tín dụng cho khách hàng trên tài khoản Tiền di động, trả lãi trên số dư tài khoản Tiền di động hoặc bất kỳ hành động nào có thể làm tăng giá trị tiền tệ trên tài khoản Tiền di động so với giá trị tiền được nạp vào tài khoản Tiền di động của khách hàng; cung ứng hoặc sử dụng tài khoản Tiền di động để thực hiện các giao dịch cho mục đích rửa tiền, tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; lừa đảo, gian lận; thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, trao đổi, tặng, cho hoặc mua, bán tài khoản Tiền di động, thông tin tài khoản Tiền di động; tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động sử dụng nguồn tiền từ tài khoản Tiền di động của khách hàng cho các mục đích khác của tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động; thực hiện, tổ chức thực hiện hoặc tạo điều kiện thực hiện các hành vi sử dụng, lợi dụng tài khoản Tiền di động để đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gian lận, lừa đảo, kinh doanh trái pháp luật và các hành vi vi phạm pháp luật khác.
Đạt mục tiêu thu hút khách hàng vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo
Trước đó, triển khai Quyết định số 316/QĐ-TTg ngày 09/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt triển khai thí điểm dịch vụ Mobile-Money (nay gọi là dịch vụ Tiền di động), NHNN đã có Quyết định chấp thuận triển khai thí điểm dịch vụ Mobile-Money cho 03 doanh nghiệp là Tổng Công ty Truyền thông, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT Media), Tổng Công ty Viễn thông MobiFone, Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội (Viettel).
Sau thời gian triển khai dịch vụ, các doanh nghiệp thực hiện thí điểm đã đạt được kết quả khả quan và bảo đảm an toàn, góp phần vào phát triển hoạt động TTKDTM, tăng cường việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam. Việc triển khai thí điểm dịch vụ Tiền di động đã đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn, đã và đang đi vào cuộc sống.
Theo NHNN, đến cuối tháng 9/2025, tổng số tài khoản đăng ký và sử dụng dịch vụ Tiền di động là hơn 10,89 triệu tài khoản, trong đó số lượng tài khoản của khách hàng đăng ký và sử dụng dịch vụ ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo khoảng 7,5 triệu tài khoản (chiếm khoảng 70% tổng số tài khoản đăng ký và sử dụng dịch vụ). Tổng số lượng giao dịch qua tài khoản Tiền di động của khách hàng là hơn 290,43 triệu giao dịch với tổng giá trị giao dịch là khoảng 8.511 tỉ đồng.
Hiện nay, Bộ Công an đã chủ trì làm việc cùng với các nhà mạng xây dựng quy trình, quy chế phối hợp để triển khai thực hiện kết nối để làm sạch thuê bao di động, giải quyết tình trạng sim rác trên nền tảng dữ liệu dân cư; cấp tài khoản Tiền di động, cấp sim chính chủ gắn với việc cấp tài khoản định danh điện tử cho công dân.
Mặc dù đã đạt mục tiêu bước đầu thu hút hàng triệu người dùng, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa, nhưng dịch vụ Tiền di động cũng phải cạnh tranh gay gắt với các phương tiện TTKDTM khác như ví điện tử, Internet Banking; QR Code… Bên cạnh đó, hiện nay, một bộ phận người dân vẫn chưa thay đổi được thói quen thanh toán tiền mặt.
Hơn nữa, chi phí cho việc tuyên truyền, quảng bá khá tốn kém, đặc biệt là để tiếp cận đối tượng khách hàng tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam. Việc mở rộng thị trường, điểm kinh doanh ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa cũng gặp một số khó khăn do khoảng cách địa lý. Số lượng doanh nghiệp tại các khu vực này còn hạn chế, tỉ lệ các doanh nghiệp phù hợp và đáp ứng các tiêu chí để trở thành điểm kinh doanh dịch vụ này còn thấp. Bên cạnh đó là vấn đề thiếu hụt nhân lực công nghệ và còn nhiều khó khăn trong các vấn đề bảo đảm an toàn thông tin và phòng, chống tội phạm công nghệ cao.
Thời gian tới, để việc triển khai dịch vụ Tiền di động hiệu quả, phổ cập hơn nữa tới khách hàng, đòi hỏi các doanh nghiệp cung ứng cần có chiến lược phát triển khách hàng, tăng cường truyền thông, marketing bài bản.
Do đối tượng nhắm tới của dịch vụ Tiền di động là người dân vùng sâu, vùng xa, nơi hiểu biết về công nghệ còn hạn chế, nên nguy cơ bị tội phạm công nghệ tấn công là rất lớn. Vì vậy, để dịch vụ này trở thành kênh toán toán phổ cập, giúp phủ sóng tài chính toàn diện khu vực nông thôn, các nhà mạng cũng cần tăng cường tuyên truyền cho người dân về cách thức sử dụng, kỹ năng bảo mật thông tin và tài khoản khi sử dụng dịch vụ để hạn chế rủi ro mất tiền trong tài khoản, bảo đảm quyền lợi và gia tăng niềm tin khách hàng. Đồng thời lưu ý khách hàng về những hành vi bị cấm khi sử dụng tài khoản Tiền di động.
Cùng với đó, các doanh nghiệp viễn thông phải bảo đảm được dữ liệu để định danh khách hàng sử dụng thuê bao di động là chính xác, hay nói cách khác là chuẩn hóa kho dữ liệu, cập nhật thường xuyên; phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai, thúc đẩy thanh toán dịch vụ công, các khoản trợ cấp Chính phủ qua dịch vụ Tiền di động. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp này cần đầu tư hạ tầng công nghệ, nhân lực, phát triển mạng lưới triển khai dịch vụ tại các khu vực nông thôn, miền núi, tiến tới mở rộng hệ thống các điểm kinh doanh trên toàn quốc; chú trọng xây dựng ứng dụng an toàn, thuận tiện, dễ sử dụng; có những chính sách khuyến mại hấp dẫn, phát triển hệ sinh thái số trên dịch vụ này để gia tăng tiện ích cho khách hàng.
Đối với ngành Ngân hàng, cần hoàn thiện văn bản hướng dẫn; tổ chức cấp phép, quản lý và giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động; bảo đảm an toàn hệ thống thanh toán, phòng chống rửa tiền; bảo vệ quyền lợi người sử dụng; tăng cường phối hợp liên ngành nhằm thúc đẩy TTKDTM và tài chính toàn diện.
Về phía các bộ, ngành liên quan cần nghiên cứu để có thể cho phép các doanh nghiệp viễn thông được sử dụng mạng truyền số liệu chuyên dùng kết nối trực tiếp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Việc kết nối trực tiếp giúp cho doanh nghiệp xác thực và định danh khách hàng, theo đó, những thuê bao đã được doanh nghiệp viễn thông thực hiện đối chiếu và xác thực thông tin với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư sẽ được phép đăng ký tài khoản Tiền di động, từ đó sẽ giúp đơn giản hóa thủ tục cung cấp dịch vụ cho khách hàng, góp phần thúc đẩy TTKDTM.
Tài liệu tham khảo
1. Nghị định số 368/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động.
2. Quyết định số 316/QĐ-TTg ngày 09/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt triển khai thí điểm dịch vụ Mobile-Money.
Tin bài khác
Chuyển đổi số ngân hàng năm 2025: Kết nối dữ liệu và giữ vững niềm tin số
Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam
Rào cản từ hệ thống ngân hàng lõi kế thừa trong quá trình chuyển đổi số và tích hợp trí tuệ nhân tạo của ngành Ngân hàng
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát
Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam
Tích hợp chuẩn mực đạo đức trí tuệ nhân tạo vào khung đạo đức nghề nghiệp ngân hàng
Nền tảng dữ liệu số về công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường
Một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 đối với các ngân hàng tại Việt Nam
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam
Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025
Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam
Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam
Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp
