Xu hướng hình thành các quỹ thị trường tiền mã hóa

Công nghệ & ngân hàng số
Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) vừa công bố tài liệu giới thiệu cơ bản về các quỹ thị trường tiền mã hóa (TMMF). Bài viết đánh giá tiềm năng sử dụng, giải thích mô hình hoạt động của các quỹ cơ bản, ghi chép tốc độ và cấu thành thị trường TMMF. Theo đó, bài viết cũng giải thích các nguồn và gợi ý các mối liên kết TMMF với Stablecoins (một loại tiền điện tử được gắn với một giá trị tham chiếu, phổ biến nhất là đồng USD), nhấn mạnh rủi ro hoạt động liên quan đến sai lệch thanh khoản, khả năng kết nối và vận hành.
aa

1. Một số khái niệm cơ bản

Tài chính phi tập trung (DeFi) là một hệ thống tài chính mới nổi sử dụng công nghệ chuỗi khối (Blockchain), tiền điện tử (chủ yếu là Ethereum) và hợp đồng thông minh, cho phép thực hiện các giao dịch tài chính trực tiếp giữa cá nhân và doanh nghiệp mà không cần thông qua ngân hàng hay các bên trung gian khác.

Trong hệ sinh thái tiền mã hóa, TMMF phản ánh tỉ trọng của quỹ đầu tư vào các công cụ của thị trường tiền tệ nhưng được phát hành và lưu hành dưới dạng Token (một mã số được mã hóa từ chữ ký số hoặc chữ ký điện tử) trên các Blockchain không cần cấp phép như Ethereum hoặc Stellar. Mặc dù về bản chất không phải là quỹ thị trường tiền tệ truyền thống, TMMF vẫn được phân loại là chứng khoán (tùy theo khuôn khổ pháp lý từng quốc gia) và chịu sự giám sát của cơ quan quản lý thị trường chứng khoán. Đồng thời, TMMF phân phối thu nhập cho nhà đầu tư trên cơ sở các mức lãi suất của thị trường tiền tệ.

Tương tự Stablecoins, TMMF được phát hành và lưu hành trên các chuỗi không cần cấp phép (như các mạng Blockchain công khai), đồng thời tạo ra thu nhập gắn với lãi suất của thị trường tiền tệ và được bảo đảm dưới hình thức chứng khoán. Nhờ những đặc điểm này, TMMF đang trở thành một trong những phân đoạn tài chính phát triển nhanh nhất, đáp ứng nhu cầu vận hành của các giao thức DeFi, trong đó việc sử dụng Token cho các giao dịch ngang hàng được ràng buộc bởi “danh mục cho phép” của các ví Blockchain nhằm bảo đảm tuân thủ các yêu cầu về an toàn và quản lý rủi ro. Tuy nhiên, cơ chế danh mục cho phép này hiện chỉ áp dụng đối với hoạt động nắm giữ trực tiếp TMMF.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

2. TMMF trong hệ sinh thái DeFi: Cơ chế thế chấp trực tiếp trên chuỗi

Nằm trong hệ sinh thái tiền ảo với các chuỗi không cần cấp phép, DeFi thường có sẵn tài sản thế chấp để bảo lãnh các hoạt động cho vay. Do các giao thức cho vay và DeFi hoạt động dựa trên cơ chế bảo đảm bằng tài sản, nên khi giá trị tài sản thế chấp giảm mạnh hoặc bị thanh lý hàng loạt, tiềm tàng nguy cơ đổ vỡ hệ thống. Vì thế, biến động giá tài sản ảo tái bùng phát gần đây đặt ra yêu cầu phải tăng cường bảo vệ bên cho vay. Stablecoins đã tiến triển và trở thành nguồn thế chấp quan trọng trong DeFi, nhưng vẫn đối mặt với những hạn chế cố hữu. Những vi phạm về tính ngang bằng trên các thị trường thứ cấp và chuỗi sự kiện kéo dài triền miên minh chứng cho những rủi ro liên quan đến Stablecoin.

Ngoài ra, việc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tịch thu tài sản và tiền điện tử liên quan đến các hành vi lừa đảo và hoạt động phi pháp khác cho thấy những rủi ro đáng kể gắn với tình trạng Stablecoins lưu hành không được kiểm soát giữa các ví điện tử không lưu ký. Bên cạnh đó, việc cấm các tổ chức phát hành chi trả lãi suất cho người nắm giữ Stablecoin với hàm ý chi phí cơ hội tương đối lớn khi nắm giữ Stablecoins so với việc đầu tư vào các tài sản phi rủi ro trên thị trường tài chính truyền thống, đặc biệt trong bối cảnh mặt bằng lãi suất duy trì ở mức dương đáng kể.

Bên cạnh đó, TMMF đang hướng tới việc cung cấp một phương án thay thế dưới dạng tài sản mã hóa sinh lời trên nền tảng Blockchain, qua đó chuyển hóa tài sản thế chấp thành một lớp giá trị gia tăng mới - vốn là trụ cột của các giao dịch thế chấp trong tài chính truyền thống. Thông qua việc phát hành trái quyền gắn với các công cụ thị trường tiền tệ truyền thống, như các quỹ thị trường tiền tệ (Money Market Funds - MMF), TMMF mang lại dòng thu nhập có đặc tính tương đồng với lãi suất ngắn hạn phi rủi ro.

Đối với các nhà đầu tư tích cực tham gia thị trường tiền ảo, TMMF có ưu thế hơn so với các đối tác thông thường. Cũng như Token, TMMF đáp ứng những đặc điểm chính của Stablecoins trên các sổ cái phân tán, như tạo thuận lợi cho giao dịch ngang hàng và lập trình thông qua các hợp đồng thông minh. Giao dịch ngang hàng của TMMF có thể được xúc tiến nhằm khớp lệnh ký quỹ, giảm bớt gánh nặng trong việc tiếp cận thanh khoản đối với MMF phi chính phủ thông thường trong những thời kỳ thị trường căng thẳng. TMMF có thể tạo thuận lợi cho các công ty quản lý quỹ mở rộng cơ sở đầu tư ngoài phạm vi kênh phân phối hiện hành, nhằm vào các công ty tiền ảo và nhà đầu tư bán lẻ đang tìm kiếm thu nhập trên thị trường tiền tệ trong khi vẫn ở trên chuỗi.

Các TMMF hiện nay có cấu trúc pháp lý đa dạng. Một số TMMF đại diện cho phần sở hữu được số hóa của các quỹ thị trường tiền tệ truyền thống, chủ yếu là các quỹ đầu tư vào công cụ nợ của Chính phủ Mỹ. Mô hình này cho phép cả nhà đầu tư bán lẻ và nhà đầu tư tổ chức tham gia, song phải tuân thủ các yêu cầu nghiêm ngặt về thanh khoản và giới hạn đầu tư. Bên cạnh đó, một số TMMF không được cấu trúc như các MNF, mà vận hành dưới dạng quỹ tư nhân dành riêng cho nhà đầu tư được công nhận theo tiêu chí của Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Mỹ (SEC). Cấu trúc này tương đồng với các quỹ quốc tế, do mang lại mức độ linh hoạt cao hơn về cơ cấu quỹ và ưu đãi thuế.

Theo các yêu cầu tuân thủ pháp lý, các Token TMMF không được phép lưu chuyển tự do giữa các ví điện tử của các bên thụ hưởng không xác định trên nền tảng Blockchain. Nhà đầu tư phải trải qua quy trình thẩm định và tiếp nhận do đơn vị quản lý quỹ thực hiện, qua đó hình thành “danh mục cho phép” các ví đáp ứng đầy đủ quy định về phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố (AML/CFT), đồng thời tuân thủ các yêu cầu bổ sung khác của quỹ. Danh mục này được đơn vị quản lý quỹ duy trì và cập nhật định kỳ.

Ethereum, ERC-20 là tiêu chuẩn cơ bản về Token có thể chuyển nhượng như Stablecoins; ERC-1400 hình thành trên ERC-20 để hỗ trợ các chuyển giao được phép và gần đây nhất, ERC-3643 tiếp tục phát triển mô hình này. Tiêu chuẩn mới này mở rộng ERC-20 nhằm đảm bảo Tokens TMMF vẫn tương thích với hầu hết các ví điện tử. Đồng thời, tiêu chuẩn này cũng bổ sung thêm các chức năng tự động để xác minh danh tính và tư cách hợp lệ trước khi cho phép giao dịch. Khi nhu cầu tuân thủ tăng lên, chức năng kiểm soát tự động này tạo thuận lợi cho việc ứng dụng những quy định phức tạp hơn, góp phần khắc phục tình trạng nhân viên cố tình né tránh, bỏ qua các quy định luật pháp.

Trong khi lựa chọn thiết kế cụ thể có sự khác biệt giữa các quỹ, TMMF nhìn chung đều áp dụng một mô hình hoạt động tương tự. Các nhà đầu tư trong danh sách cho phép chuyển tiền hay Stablecoins đến đại lý chuyển giao điện tử, đại lý này có thể là chi nhánh của công ty quản lý quỹ hay nhà cung cấp dịch vụ bên ngoài. Đại lý này đại diện cho mối liên kết giữa các giao diện xử lý giao dịch bên ngoài và trực tiếp trong chuỗi chính và quản lý cổ đông đăng ký. Khi giao dịch được dàn xếp, Token đại diện tỉ trọng quỹ được tạo ra và chuyển vào ví của nhà đầu tư, trong khi số tiền thu được được sử dụng để đầu tư vào các công cụ trên thị trường tiền tệ.

Để thực hiện hoàn trả cho nhà đầu tư, quy trình ngược lại được áp dụng như sau: Nhà đầu tư gửi yêu cầu rút Token, sau đó đại lý giao dịch tiến hành thu hồi Token khỏi chuỗi khối. Trên cơ sở đó, quỹ thanh lý lượng tài sản tương ứng và chuyển tiền mặt hoặc Stablecoin vào tài khoản của đại lý giao dịch để thanh toán cho nhà đầu tư. Việc chi trả được thực hiện định kỳ theo ngày hoặc theo tháng, dưới hình thức phân phối thêm Token TMMF nhằm duy trì ổn định giá trị tài sản ròng (NAV) theo tỉ trọng, hoặc được giữ lại trong quỹ để tích lũy, qua đó làm tăng giá trị tài sản ròng. Ngoài các giao dịch đăng ký mua hoặc hoàn trả, các nhà đầu tư thuộc danh mục được phép cũng có thể thực hiện giao dịch trao đổi Token trực tiếp với nhau.

Mặc dù công nghệ Token ngày càng được hoàn thiện và mở rộng, các TMMF hiện nay chủ yếu vận hành trong một môi trường thị trường lai (hybrid). Phần lớn các giao dịch mua lại vẫn được thực hiện trên các thị trường tiền tệ truyền thống, trong khi chứng khoán chính phủ chủ yếu được lưu ký tại các tổ chức giám sát ngoài chuỗi. Do chưa hình thành đầy đủ các tài sản mã hóa bẩm sinh để đầu tư trực tiếp vào thị trường tiền tệ, nhiều hoạt động của TMMF vẫn diễn ra ngoài chuỗi, đồng thời việc lưu ký và xác lập quyền sở hữu đối với các khoản đầu tư cũng chủ yếu được thực hiện theo cơ chế ngoài chuỗi chính.

Lượng vốn đầu tư tối thiểu được tính toán phù hợp với cơ sở nhà đầu tư mục tiêu. Một số quỹ phục vụ độc quyền cho các nhà đầu tư là tổ chức và đưa ra mức tối thiểu 5 triệu USD, trong khi các quỹ bán lẻ ấn định mức vốn rất thấp. Tương tự như các quỹ thông thường (quy định lượng vốn đầu tư tối thiểu khác nhau tùy theo tỉ trọng và nhóm tài sản), một số TMMF ấn định mức sàn rất thấp đối với Token hoạt động trên các chuỗi khối bán lẻ (như Solana), trong khi vẫn áp đặt mức vốn đầu tư rất cao đối với đầu tư vào Token lưu thông trên những chuỗi khối khác (như Ethereum).

3. Cơ cấu thị trường TMMF

Sau giai đoạn khởi đầu tương đối chậm, TMMF đã ghi nhận tốc độ tăng trưởng nhanh trong hai năm trở lại đây. Trong khi tổng giá trị bị khóa (Total Value Locked - TVL), tương đương với quy mô tài sản do các quỹ quản lý, chỉ đạt khoảng 770 triệu USD vào cuối năm 2023, thì đến cuối tháng 10/2025, TVL đã tăng hơn 10 lần, lên mức xấp xỉ 9 tỉ USD.

Song song với sự gia tăng về quy mô, thị trường TMMF cũng chứng kiến những thay đổi đáng kể về cấu trúc. Ở giai đoạn đầu, Stellar - một mạng lưới thanh toán phi tập trung, mã nguồn mở, cho phép chuyển tiền nhanh với chi phí thấp nhưng quy mô giao dịch hạn chế hơn so với các Blockchain khác là nền tảng được ưu tiên lựa chọn. Tuy nhiên, trong giai đoạn gần đây, các nhà phát hành ngày càng hướng tới các nền tảng có khả năng phục vụ cơ sở nhà đầu tư rộng lớn hơn, bao gồm cả nhà đầu tư bán lẻ. Cùng với sự phát triển của các TMMF mang tính tổ chức, vai trò của các máy chủ có chức năng xác minh và triển khai hợp đồng thông minh ngày càng trở nên quan trọng. Theo đó, các quỹ TMMF hiện nay chủ yếu hoạt động trên nền tảng Ethereum và chiếm khoảng 50% TVL của thị trường.

Hiện nay, các TMMF, bao gồm cả những quỹ không đại diện cho phần sở hữu đã đăng ký trong các quỹ thị trường tiền tệ Chính phủ Mỹ chủ yếu đầu tư vào các công cụ nợ ngắn hạn của Chính phủ, như trái phiếu kho bạc, chứng khoán do các cơ quan chính phủ phát hành, hoặc thực hiện các giao dịch mua lại (repo) đối với các tài sản này. Bên cạnh sức hấp dẫn từ mặt bằng lãi suất trên thị trường tiền tệ và độ sâu của thị trường cơ sở, cơ cấu phân bổ tài sản này còn phản ánh vai trò thống trị của các Stablecoin neo theo đồng USD trong hệ sinh thái tiền mã hóa, qua đó thúc đẩy nhu cầu của nhà đầu tư đối với các công cụ tạo thu nhập bằng USD.

Theo dữ liệu trên nền tảng Ethereum, các doanh nghiệp vận hành giao thức DeFi hiện vẫn là nhóm nhà đầu tư chủ yếu vào BUIDL - dạng Token kỹ thuật số đại diện cho quyền sở hữu trong Quỹ Thanh khoản Kỹ thuật số Doanh nghiệp BlackRock USD, đồng thời cũng là TMMF có quy mô lớn nhất hiện nay. Nhu cầu của nhóm nhà đầu tư này thể hiện qua một số trường hợp sử dụng điển hình. Một số giao thức sử dụng TMMF làm tài sản thế chấp trên các nền tảng DeFi, cho phép vay Stablecoin thông qua cơ chế cầm cố TMMF và thực hiện các giao dịch hoán đổi. Một số khác triển khai cấu trúc phát hành theo mô hình “quỹ của quỹ”, tiêu biểu là Ondo Short-Term US Government Bond Fund (OUSG) - một dạng Token do Ondo Finance phát hành, đại diện cho khoản đầu tư vào các quỹ hoán đổi danh mục (ETF) trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn ngắn. Cấu trúc này cho phép các tổ chức phát hành Token ra thị trường dưới thương hiệu riêng, đồng thời thiết kế quỹ phù hợp với nhóm nhà đầu tư mục tiêu. Ngoài ra, Token TMMF cũng có thể được neo vào giá trị của các Token khác, chẳng hạn được sử dụng làm tài sản dự trữ nhằm hỗ trợ giao dịch cho các nhà đầu tư đã tiếp cận ví điện tử nhưng không thuộc danh mục được phép trực tiếp nắm giữ của TMMF.

4. Rủi ro và một số khuyến nghị chính sách

TMMF cho thấy một số năng lực công nghệ mới mà công nghệ Token có thể mang lại cho hệ thống tài chính. Thông qua việc cung cấp các đại diện mã hóa của danh mục trái phiếu Chính phủ, các TMMF hiện hành đang tái tạo nhiều đặc điểm của trái phiếu chính phủ được mã hóa và có tiềm năng trở thành một trong những cấu phần nền tảng của hệ thống tài chính trong tương lai.

Tuy nhiên, xu hướng mở rộng nhanh của TMMF cũng đặt ra không ít thách thức đối với các cơ quan quản lý ở cấp độ quốc tế. Dù thị trường vẫn đang ở giai đoạn sơ khai, TMMF đang tăng trưởng mạnh, thúc đẩy tài chính mã hóa dịch chuyển từ phạm vi thử nghiệm sang xu hướng chấp nhận rộng rãi, đồng thời có thể tạo ra bước ngoặt trong mối liên kết giữa tài chính truyền thống ở cấp quốc gia với hệ sinh thái DeFi toàn cầu. Trong bối cảnh đó, các khuôn khổ pháp lý giữa các quốc gia vẫn còn thiếu đồng bộ. Việc thiếu vắng các tiêu chuẩn chung có thể làm gia tăng rủi ro khai thác chênh lệch quy định, gây biến động dòng vốn, đồng thời đặt ra thách thức lớn đối với việc tuân thủ các quy định về phòng, chống rửa tiền và gian lận tài chính, qua đó làm gia tăng rủi ro đối với nhà đầu tư và ổn định tài chính.

Từ góc độ chính sách, sự phát triển của TMMF đặt ra yêu cầu cho các cơ quan quản lý cần theo dõi sát xu hướng thị trường tiền tệ và mức độ gắn kết ngày càng sâu giữa tài chính truyền thống với hệ sinh thái DeFi. Việc xây dựng khuôn khổ pháp lý linh hoạt nhưng thận trọng, bảo đảm yêu cầu quản lý rủi ro, tuân thủ AML/CFT và bảo vệ nhà đầu tư là điều kiện tiên quyết để khai thác lợi ích của đổi mới tài chính mà không làm tổn hại đến ổn định hệ thống. Đồng thời, kinh nghiệm quốc tế về TMMF cũng cung cấp những gợi ý quan trọng cho Việt Nam trong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và từng bước tiếp cận các mô hình tài sản tài chính được mã hóa trong tương lai.

Xuân Thanh (NHNN)
Bài viết tổng hợp từ Công trình nghiên cứu số 115 của BIS

Tin bài khác

Ứng dụng AI thúc đẩy kinh tế xanh và Net-Zero trong doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế, bài học cho Việt Nam

Ứng dụng AI thúc đẩy kinh tế xanh và Net-Zero trong doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế, bài học cho Việt Nam

Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI) trong thúc đẩy kinh tế xanh và thực hiện chiến lược Net-Zero, qua đó, đề xuất bài học và giải pháp giúp doanh nghiệp Việt Nam kết hợp chuyển đổi số với chuyển đổi xanh, hướng đến phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Hệ khuyến nghị học liên kết: Xu hướng phát triển trong kỷ nguyên dữ liệu phân tán

Hệ khuyến nghị học liên kết: Xu hướng phát triển trong kỷ nguyên dữ liệu phân tán

Trong bối cảnh dữ liệu ngày càng phân tán và yêu cầu nghiêm ngặt về bảo vệ quyền riêng tư, hệ khuyến nghị học liên kết (Federated Recommender Systems - FRS) nổi lên như một hướng tiếp cận tiềm năng, cho phép khai thác dữ liệu từ nhiều nguồn mà không cần chia sẻ dữ liệu gốc, qua đó mở rộng khả năng ứng dụng trong ngân hàng, thương mại điện tử, y tế và giáo dục.
Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngày 18 - 19/8/2026, sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 với chủ đề “Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo (AI)” đã chính thức diễn ra tại Hà Nội.
Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành. Tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là: Chuyển đổi số phải đi cùng an toàn; khai thác dữ liệu phải đi cùng bảo vệ dữ liệu; ứng dụng AI phải đi cùng quản trị rủi ro; đổi mới sáng tạo phải đi cùng tuân thủ, kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Trí tuệ nhân tạo trong bảo mật dữ liệu chuỗi cung ứng tài chính

Trí tuệ nhân tạo trong bảo mật dữ liệu chuỗi cung ứng tài chính

Bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI) trong tăng cường bảo mật dữ liệu và quản trị rủi ro an ninh mạng đối với chuỗi cung ứng tài chính (Financial Supply Chain - FSC) trong ngành Ngân hàng, qua đó làm rõ những lợi ích, thách thức và hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng AI trong bối cảnh chuyển đổi số.
Cơ hội và thách thức của nghề kế toán, kiểm toán trong bối cảnh phát triển khoa học - công nghệ, hội nhập quốc tế

Cơ hội và thách thức của nghề kế toán, kiểm toán trong bối cảnh phát triển khoa học - công nghệ, hội nhập quốc tế

Bài viết này làm rõ tác động của khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế đối với nghề kế toán, kiểm toán, đồng thời đề xuất các giải pháp đổi mới đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi số.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Ứng dụng Geo-Tagging trong minh bạch hóa dữ liệu thanh toán số tại khu vực nông thôn Việt Nam

Ứng dụng Geo-Tagging trong minh bạch hóa dữ liệu thanh toán số tại khu vực nông thôn Việt Nam

Bài viết đề xuất ứng dụng công nghệ Geo-Tagging trong quản trị dữ liệu thanh toán số tại khu vực nông thôn, góp phần minh bạch hóa dòng tiền, nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tài chính toàn diện, đồng thời tạo nền tảng phát triển hệ sinh thái thanh toán số an toàn, hiện đại và bền vững tại Việt Nam.
Xem thêm
Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Bài viết phân tích những định hướng sửa đổi quan trọng của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 7 (IAS 7) về báo cáo lưu chuyển tiền tệ, đồng thời đánh giá tác động đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý trong bối cảnh tăng cường tính minh bạch của báo cáo tài chính.
Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Trong bối cảnh ngành tài chính - ngân hàng chuyển đổi mạnh mẽ dưới tác động của toàn cầu hóa và công nghệ số, đạo đức và lòng tin ngày càng trở thành nền tảng quan trọng đối với quản trị, kiểm soát rủi ro và phát triển bền vững của hệ thống tài chính.
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng gia tăng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng ngày càng cao, những bất cập của pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn.
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại