Cải cách chính sách thuế thu nhập cá nhân trong bối cảnh hiện đại hóa quản lý tài chính và kinh tế số

Thị trường tài chính
Luật Thuế Thu nhập cá nhân năm 2025 cho thấy cách tiếp cận mới trong xây dựng chính sách thuế, khi không chỉ tập trung mở rộng diện thu và tăng cường quản lý thu nhập mà còn chủ động sử dụng thuế như một công cụ định hướng phát triển kinh tế bền vững.
aa

Tóm tắt: Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) sửa đổi năm 2025 (Luật Thuế TNCN năm 2025) được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Khóa XV ngày 10/12/2025 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2025. Bài viết phân tích những điểm mới nổi bật của Luật, bao gồm mở rộng phạm vi thu nhập chịu thuế đối với kinh doanh nền tảng số, tài sản số và tài chính xanh, cải cách chính sách thuế đối với cá nhân kinh doanh và sử dụng thuế TNCN như công cụ định hướng phát triển bền vững và phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao. Trên cơ sở tham chiếu thông lệ quốc tế, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi Luật Thuế TNCN năm 2025 trong nền kinh tế số.

Từ khóa: Luật Thuế TNCN năm 2025, kinh tế số, tài chính xanh, quản lý thuế.

REFORM OF PERSONAL INCOME TAX POLICY IN 2025
IN THE CONTEXT OF FINANCIAL MANAGEMENT MODERNIZATION AND THE DIGITAL ECONOMY

Abstract: The amended Personal Income Tax Law of 2025 (the Personal Income Tax Law 2025) was adopted by the National Assembly at 10th Session of the 15th Legislature on December 10, 2025, and officially came into effect on July 1, 2025. This article analyzes the key innovations of this Law, including the expansion of taxable income to cover digital platform-based business activities, digital assets and green finance, reforms in the tax policy for individual business operators and the use of the Personal Income Tax Law 2025 as a policy instrument to promote sustainable development and enhance high-tech human resources. With reference to international practices, the article proposes several recommendations to enhance the enforcement effectiveness of the Personal Income Tax Law 2025 in the digital economy.

Keywords: Personal Income Tax Law 2025, digital economy, green finance, tax administration.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Bối cảnh chung

Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với sự biến đổi sâu sắc cả về cấu trúc nền kinh tế lẫn phương thức quản lý nhà nước, điều này đang làm thay đổi căn bản cách thức hình thành, phân phối và quản lý thu nhập trong nền kinh tế. Cùng với đó, quá trình số hóa nền kinh tế và hệ thống tài chính - ngân hàng đã làm gia tăng mạnh mẽ tốc độ luân chuyển dòng tiền, mở rộng quy mô và phạm vi giao dịch tài chính, đồng thời đặt ra những thách thức lớn đối với công tác quản lý thuế nếu tiếp tục duy trì các phương thức truyền thống dựa trên cơ chế kê khai thủ công và hậu kiểm. Trong khi đó, Luật số 26/2012/QH13 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN tồn tại một số hạn chế ở việc phạm vi thu nhập chịu thuế chưa bao quát đầy đủ các nguồn thu nhập mới phát sinh, chưa gắn kết chặt chẽ giữa quản lý thuế với quản lý dữ liệu và dòng tiền trong hệ thống tài chính... Trên cơ sở nhận diện đầy đủ những thay đổi và bất cập nêu trên, việc ban hành Luật Thuế TNCN năm 2025 là yêu cầu tất yếu, nhằm mở rộng và chuẩn hóa phạm vi quản lý TNCN, tăng cường minh bạch tài chính, phù hợp với lộ trình cải cách hệ thống thuế theo hướng hiện đại, đồng bộ và thích ứng với sự phát triển của nền kinh tế số.

2. Một số điểm nổi bật của Luật Thuế TNCN năm 2025

2.1. Phạm vi thu nhập chịu thuế trong kỷ nguyên tài chính số và kinh tế xanh được mở rộng

Điều 3 Luật Thuế TNCN năm 2025 quy định thu nhập chịu thuế bao gồm 10 nhóm thu nhập, trong đó nổi bật là việc bổ sung và làm rõ các loại thu nhập mới phát sinh trong nền kinh tế số và nền kinh tế xanh. Cụ thể, Luật đã đưa vào diện điều chỉnh thu nhập từ hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số (khoản 1 điểm d Điều 3); thu nhập từ chuyển nhượng tài sản số (khoản 10 điểm d Điều 3); thu nhập từ chuyển nhượng kết quả giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon (khoản 10 điểm b Điều 3) và thu nhập từ chuyển nhượng vàng miếng theo lộ trình quản lý thị trường vàng (khoản 10 điểm đ Điều 3).

Việc làm rõ và xác định cụ thể các nguồn thu nhập chịu thuế cho thấy sự thay đổi quan trọng trong tư duy xây dựng chính sách thuế TNCN. Thay vì chỉ quản lý thu nhập dựa trên hình thức thể hiện như trước đây, chính sách mới chuyển sang tiếp cận theo bản chất kinh tế và nguồn phát sinh thu nhập. Cách tiếp cận này phù hợp với xu hướng quản lý thuế hiện đại, góp phần mở rộng cơ sở thuế, đồng thời bảo đảm sự công bằng và tính trung lập của thuế đối với các hình thức tạo thu nhập khác nhau trong nền kinh tế.

2.2. Cải cách chính sách thuế đối với cá nhân kinh doanh

Việc điều chỉnh ngưỡng chịu thuế và thuế suất đối với cá nhân kinh doanh trong Luật Thuế TNCN năm 2025 có thể xem là một bước cải cách mang tính cấu trúc trong chính sách thuế. Theo Luật Thuế TNCN năm 2012, thu nhập từ kinh doanh được xác định là thu nhập chịu thuế và chủ yếu áp dụng phương pháp tính thuế theo tỉ lệ phần trăm cố định trên doanh thu, không đặt ra ngưỡng doanh thu không chịu thuế và cũng không phân hóa nghĩa vụ thuế theo quy mô kinh doanh. Cách tiếp cận này giúp đơn giản hóa quản lý thuế nhưng bộc lộ hạn chế khi chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt về năng lực tạo thu nhập giữa các nhóm cá nhân kinh doanh.

Trong khi đó, Luật Thuế TNCN năm 2025 đã thiết lập cơ chế điều tiết mới khi quy định rõ cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 500 triệu đồng/năm trở xuống không phải nộp thuế TNCN, đồng thời áp dụng thuế suất lũy tiến từ 15% đến 20% đối với phần doanh thu vượt ngưỡng. Sự thay đổi này cho thấy chính sách thuế đang dịch chuyển từ mô hình thu thuế mang tính “đồng loạt” sang mô hình “phân tầng” theo quy mô và bản chất thu nhập vừa đóng vai trò hỗ trợ khu vực kinh doanh nhỏ và siêu nhỏ, vừa tăng cường trách nhiệm đóng góp của các cá nhân kinh doanh quy mô lớn, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính và dịch vụ trên nền tảng số. Có thể khẳng định, quy định mới không chỉ nhằm hoàn thiện kỹ thuật thu thuế mà còn thể hiện rõ vai trò điều tiết và định hướng của chính sách thuế trong bối cảnh nền kinh tế số và các mô hình kinh doanh mới ngày càng phát triển.

2.3. Thuế TNCN được quy định như công cụ định hướng tài chính xanh và phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao

Luật Thuế TNCN năm 2025 cho thấy cách tiếp cận mới trong xây dựng chính sách thuế, khi không chỉ tập trung mở rộng diện thu và tăng cường quản lý thu nhập mà còn chủ động sử dụng thuế như một công cụ định hướng phát triển kinh tế bền vững. Việc miễn thuế đối với thu nhập từ lãi và chuyển nhượng lần đầu trái phiếu xanh, cũng như chuyển nhượng lần đầu tín chỉ các-bon (khoản 16 Điều 4) được xem là động lực quan trọng thúc đẩy thị trường tài chính xanh, đồng thời gắn chính sách thuế với mục tiêu chuyển đổi xanh và giảm phát thải. Cùng với đó, ưu đãi miễn thuế TNCN trong thời hạn 05 năm dành cho nhân lực công nghệ số, công nghệ cao và công nghệ chiến lược cũng góp phần thu hút, giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành kinh tế mũi nhọn. Qua những quy định này, thuế TNCN trong Luật Thuế TNCN năm 2025 đã vượt ra khỏi vai trò thu ngân sách đơn thuần, từng bước trở thành công cụ hỗ trợ tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng xanh, số và bền vững.

3. Thông lệ quốc tế về quy định thuế TNCN

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, thuế TNCN ngày càng được các quốc gia coi là công cụ trung tâm trong quản trị tài chính công hiện đại, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế số, toàn cầu hóa dòng vốn và yêu cầu chuyển đổi xanh. Các tổ chức quốc tế như Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (World Bank) đều thống nhất quan điểm rằng, chính sách thuế TNCN cần được thiết kế theo hướng bao quát đầy đủ các nguồn thu nhập phát sinh trong nền kinh tế mới dựa trên bản chất kinh tế của thu nhập thay vì chỉ dựa vào hình thức pháp lý truyền thống. Đồng thời, quản lý thuế hiệu quả đòi hỏi sự gắn kết chặt chẽ giữa hệ thống thuế, hệ thống ngân hàng và hạ tầng dữ liệu tài chính.

Theo khuyến nghị của OECD, xu hướng chủ đạo trong quản lý thuế TNCN hiện nay là chuyển từ mô hình quản lý dựa trên kê khai thủ công sang mô hình quản lý dựa trên dữ liệu và báo cáo của bên thứ ba, trong đó các tổ chức tài chính và trung gian thanh toán đóng vai trò then chốt1. IMF2 và World Bank3 cũng nhấn mạnh rằng, việc mở rộng phạm vi điều chỉnh của thuế TNCN cần song hành với việc nâng cao năng lực quản lý dựa trên dữ liệu nhằm giảm chi phí tuân thủ cho người nộp thuế, tăng tính minh bạch của thu nhập và hạn chế thất thu thuế trong nền kinh tế số.

Thực tiễn tại nhiều quốc gia phát triển và mới nổi cho thấy, thuế TNCN không chỉ được sử dụng để điều tiết thu nhập mà còn được lồng ghép như một công cụ chính sách nhằm định hướng hành vi kinh tế và hỗ trợ các mục tiêu phát triển bền vững. Một số quốc gia đã đưa thu nhập từ tài sản số, hoạt động kinh doanh trên nền tảng số và các công cụ tài chính xanh vào phạm vi điều chỉnh của thuế TNCN, đồng thời thiết kế các cơ chế ưu đãi thuế có chọn lọc để khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực xanh, đổi mới sáng tạo và công nghệ cao. Cách tiếp cận này phản ánh xu hướng sử dụng thuế TNCN như một bộ phận của hệ thống chính sách kinh tế tổng thể, thay vì chỉ là công cụ thu ngân sách đơn thuần.

So sánh với các thông lệ quốc tế nêu trên, có thể thấy Luật Thuế TNCN năm 2025 của Việt Nam đã thể hiện bước chuyển rõ rệt về tư duy lập pháp. Luật không chỉ mở rộng cơ sở thuế để bao quát các nguồn thu nhập mới phát sinh từ kinh doanh thương mại điện tử, nền tảng số, tài sản số và chuyển nhượng kết quả giảm phát thải khí nhà kính, mà còn thiết kế các cơ chế miễn thuế có mục tiêu đối với chuyển nhượng lần đầu tín chỉ các-bon, tiền lãi và chuyển nhượng lần đầu trái phiếu xanh. Những quy định này cho thấy Việt Nam đang tiếp cận chính sách thuế theo hướng tương thích với xu thế quốc tế về quản lý thu nhập gắn với chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.

Bên cạnh đó, việc Luật Thuế TNCN năm 2025 quy định ưu đãi miễn thuế có thời hạn đối với nhân lực công nghệ số, công nghệ cao và công nghệ chiến lược cũng phản ánh cách tiếp cận chính sách tương đồng với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Thay vì chỉ sử dụng công cụ chi ngân sách, chính sách thuế được vận dụng như một công cụ cạnh tranh thể chế nhằm thu hút và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ các ngành kinh tế mũi nhọn trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu về nhân lực. Tuy vậy, so với các quốc gia OECD, Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi sang mô hình quản lý thuế TNCN dựa trên dữ liệu và dòng tiền. Khoảng cách này không nằm ở định hướng chính sách, mà chủ yếu ở năng lực thực thi, hạ tầng dữ liệu và mức độ liên thông giữa cơ quan thuế, hệ thống ngân hàng và các nền tảng tài chính số. Trong bối cảnh đó, Luật Thuế TNCN năm 2025 có thể được xem là bước đi nền tảng, tạo khuôn khổ pháp lý để Việt Nam từng bước tiệm cận với mô hình quản lý thuế hiện đại theo khuyến nghị của OECD, IMF và World Bank.

4. Vai trò của hệ thống ngân hàng trong quản lý TNCN theo Luật Thuế TNCN năm 2025

Từ góc độ ngành tài chính - ngân hàng, Luật Thuế TNCN năm 2025 không chỉ đơn thuần là một đạo luật về thuế mà còn được xem là công cụ thể chế quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa quản lý tài chính cá nhân. Luật tạo nền tảng pháp lý để tăng cường sự kết nối giữa thuế, ngân hàng, dữ liệu và tài chính số, qua đó hình thành hệ sinh thái quản lý thu nhập đồng bộ, minh bạch hơn. Trong dài hạn, việc triển khai hiệu quả Luật được kỳ vọng sẽ thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, nâng cao tính minh bạch của thu nhập và từng bước khẳng định vai trò trung tâm của hệ thống ngân hàng trong quản trị tài chính quốc gia.

4.1. Vai trò trung gian của ngân hàng trong quản lý TNCN

Các quy định về khấu trừ, khai thay và nộp thay thuế TNCN cho thấy ngân hàng đang ngày càng trở thành kênh trung gian quan trọng trong quản lý thu nhập và dòng tiền của cá nhân. Trong bối cảnh phần lớn thu nhập được thực hiện thông qua tài khoản ngân hàng và các nền tảng thanh toán số, vai trò của hệ thống ngân hàng không chỉ dừng ở cung ứng dịch vụ tài chính mà còn gắn với việc hỗ trợ thực thi chính sách thuế. Điều này đặt ra yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cần tăng cường vai trò điều phối, phối hợp với các bộ, ban ngành liên quan như Bộ Tài chính, cơ quan thuế… trong xây dựng cơ chế chia sẻ, kết nối dữ liệu có kiểm soát. Cơ chế phối hợp cần bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu minh bạch hóa thu nhập và nguyên tắc bảo mật thông tin khách hàng theo pháp luật ngân hàng, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý thuế mà không làm gia tăng rủi ro pháp lý cho hệ thống tổ chức tín dụng.

4.2. Yêu cầu điều chỉnh khuôn khổ giám sát và quản trị rủi ro ngân hàng

Luật Thuế TNCN năm 2025 mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với nhiều nguồn thu nhập mới như đầu tư vốn, tài sản số và kinh doanh trên nền tảng số kéo theo yêu cầu điều chỉnh cách tiếp cận trong giám sát ngân hàng. Trong bối cảnh đó, rủi ro liên quan đến việc tuân thủ nghĩa vụ thuế TNCN có thể trở thành một bộ phận của rủi ro hoạt động trong hệ thống tổ chức tín dụng. Yêu cầu về tuân thủ thuế cá nhân nên được NHNN xem xét đưa vào vào khuôn khổ giám sát và đánh giá rủi ro đối với các ngân hàng, đặc biệt là các sản phẩm, dịch vụ tài chính gắn với nền tảng số. Việc nâng cao yêu cầu quản trị rủi ro tuân thủ không chỉ góp phần hỗ trợ thực hiện chính sách thuế mà còn nâng cao tính an toàn và minh bạch chung của hệ thống tài chính - ngân hàng.

4.3. Gắn chính sách thuế với phát triển tài chính xanh và tài chính số

Bên cạnh vai trò quản lý thu nhập, Luật Thuế TNCN năm 2025 còn tạo thêm dư địa chính sách cho phát triển tài chính xanh và tài chính số. Các quy định ưu đãi thuế đối với trái phiếu xanh và tín chỉ các-bon cho thấy thuế TNCN đang được sử dụng như một công cụ hỗ trợ các mục tiêu phát triển bền vững. Nội dung về ưu đãi thuế nên được đưa vào chiến lược phát triển tài chính xanh quốc gia, đồng thời định hướng các tổ chức tín dụng thiết kế sản phẩm tín dụng và đầu tư phù hợp với chính sách thuế mới. Sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách thuế và chính sách ngân hàng sẽ góp phần thúc đẩy dòng vốn hướng vào các lĩnh vực xanh, công nghệ và đổi mới sáng tạo, qua đó nâng cao vai trò của hệ thống tài chính - ngân hàng trong thực hiện các mục tiêu phát triển dài hạn của nền kinh tế.

5. Một số kiến nghị trong triển khai Luật Thuế TNCN năm 2025

Luật Thuế TNCN năm 2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy xây dựng và thực thi chính sách thuế ở Việt Nam. Không chỉ mở rộng và chuẩn hóa phạm vi thu nhập chịu thuế, Luật còn tái định vị vai trò của thuế TNCN như một công cụ điều tiết thu nhập, định hướng hành vi kinh tế và hỗ trợ tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng số hóa, xanh hóa và phát triển bền vững. Qua đó, thuế TNCN dần vượt ra khỏi chức năng thu ngân sách truyền thống trở thành một bộ phận của hệ thống quản trị tài chính quốc gia hiện đại.

Từ góc độ quản lý nhà nước, hiệu quả của Luật không chỉ phụ thuộc vào nội dung các quy định pháp luật mà còn gắn chặt với mức độ phối hợp đồng bộ giữa các chủ thể trong hệ thống chính sách. Đặc biệt, mối liên kết giữa cơ quan thuế, hệ thống ngân hàng, NHNN và các nền tảng tài chính số có ý nghĩa then chốt trong việc nâng cao tính minh bạch của thu nhập, quản lý hiệu quả dòng tiền cá nhân và củng cố kỷ luật tài chính trong nền kinh tế số. Bên cạnh đó, thuế TNCN trong giai đoạn tới cần được sử dụng như công cụ điều tiết và định hướng hành vi kinh tế. Thông qua các cơ chế ưu đãi và điều chỉnh phù hợp, chính sách thuế có thể khuyến khích các hoạt động đầu tư vào lĩnh vực xanh, công nghệ cao và đổi mới sáng tạo, đồng thời hạn chế các hành vi chuyển dịch thu nhập không minh bạch hoặc lợi dụng khoảng trống pháp lý. Đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy “thu thuế” sang tư duy “quản trị thu nhập” trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng đa dạng về nguồn thu. Trên cơ sở các phân tích nêu trên, có thể đặt ra một số kiến nghị chính sách trọng tâm nhằm bảo đảm Luật Thuế TNCN năm 2025 được triển khai hiệu quả và phát huy đầy đủ vai trò điều tiết trong nền kinh tế số.

Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và hạ tầng dữ liệu phục vụ quản lý TNCN theo hướng quản lý dựa trên dữ liệu và dòng tiền. Việc mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật sang các nguồn thu nhập mới như kinh doanh trên nền tảng số, tài sản số và chuyển nhượng tín chỉ các-bon đòi hỏi hệ thống quản lý thuế phải được hỗ trợ bởi cơ chế chia sẻ dữ liệu có kiểm soát giữa cơ quan thuế và hệ thống ngân hàng. Cơ chế này không chỉ giúp nâng cao tính minh bạch của thu nhập và hạn chế thất thu thuế mà còn tạo nền tảng cho việc quản lý thuế hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế. Đồng thời, yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo mật thông tin khách hàng cần được đặt ở vị trí trung tâm nhằm bảo đảm niềm tin của người dân và sự ổn định của hệ thống tài chính.

Thứ hai, nghĩa vụ thuế TNCN cần được từng bước lồng ghép vào thiết kế và vận hành các sản phẩm, dịch vụ tài chính số. Trong bối cảnh thu nhập của cá nhân ngày càng gắn với giao dịch qua tài khoản ngân hàng, ví điện tử và các nền tảng đầu tư trực tuyến, việc tích hợp chức năng khấu trừ, kê khai và nộp thuế ngay trong quy trình cung ứng dịch vụ tài chính sẽ góp phần giảm đáng kể chi phí tuân thủ cho người nộp thuế. Cách tiếp cận này không chỉ giúp người dân thực hiện nghĩa vụ thuế thuận lợi hơn, mà còn hỗ trợ cơ quan quản lý nâng cao hiệu quả giám sát và quản trị rủi ro tuân thủ trong nền kinh tế số.

Thứ ba, cần tăng cường công tác truyền thông chính sách và nâng cao năng lực tuân thủ của người dân trong quá trình triển khai Luật. Đặc biệt, các nhóm cá nhân có thu nhập từ kinh doanh số, đầu tư tài chính và các loại tài sản mới thường đối mặt với mức độ phức tạp cao trong việc xác định nghĩa vụ thuế. Do đó, việc cung cấp thông tin kịp thời, rõ ràng và dễ tiếp cận, kết hợp với các hướng dẫn thực hành cụ thể, sẽ giúp nâng cao nhận thức, giảm rủi ro vi phạm và tạo sự đồng thuận xã hội đối với các quy định mới. Khi mức độ tuân thủ tự nguyện được cải thiện, hiệu quả thực thi Luật Thuế TNCN năm 2025 sẽ được củng cố một cách bền vững.

1 OECD (2024), Tax administration 2024. OECD Publishing.

2 IMF (2023), Exploring the adoption of selected digital technologies in tax administration.

3 WB (2024), Leveraging digitalization to improve tax compliance.

Tài liệu tham khảo

1. IMF (2023), Exploring the adoption of selected digital technologies in tax administration.

2. OECD (2023), OECD economic surveys: Viet Nam 2023.

3. OECD (2024), Tax administration 2024. OECD Publishing.

4. World Bank (2021), Electronic payment technology and tax compliance: Evidence from Uruguay’s financial inclusion reform.

5. World Bank (2024), Leveraging digitalization to improve tax compliance.

Ngô Trần Hùng
Phó Trưởng phòng Khách hàng doanh nghiệp - Agribank Chi nhánh 9

Tin bài khác

Quy định về Ủy ban kiểm toán trong doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam: Góc nhìn pháp lý và thực tiễn

Quy định về Ủy ban kiểm toán trong doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam: Góc nhìn pháp lý và thực tiễn

Ủy ban kiểm toán đóng vai trò quan trọng trong quản trị công ty hiện đại, nhưng khuôn khổ pháp lý hiện hành vẫn còn một số hạn chế, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện để nâng cao hiệu quả giám sát và tăng cường tính minh bạch cho doanh nghiệp niêm yết.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Mô hình sàn giao dịch bất động sản điện tử: Giải pháp minh bạch hóa thị trường trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Mô hình sàn giao dịch bất động sản điện tử: Giải pháp minh bạch hóa thị trường trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Chuyển đổi số đang mở ra cơ hội tái cấu trúc thị trường bất động sản theo hướng minh bạch, hiện đại và hiệu quả hơn, trong đó mô hình sàn giao dịch bất động sản điện tử được kỳ vọng sẽ góp phần số hóa toàn bộ quy trình giao dịch, tăng cường kết nối dữ liệu và nâng cao năng lực quản lý thị trường.
Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Vai trò của thể chế, năng suất và năng lực đổi mới sáng tạo - Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Vai trò của thể chế, năng suất và năng lực đổi mới sáng tạo - Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Vượt qua bẫy thu nhập trung bình không phụ thuộc vào một mô hình phát triển duy nhất mà đòi hỏi sự kết hợp giữa cải cách thể chế, nâng cao năng suất và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Từ kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở những ưu tiên chính sách giúp Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao.
Kinh tế thế giới nửa đầu năm 2026: Biến động giá cả, rủi ro thương mại và hàm ý chính sách

Kinh tế thế giới nửa đầu năm 2026: Biến động giá cả, rủi ro thương mại và hàm ý chính sách

Nửa đầu năm 2026 chứng kiến nhiều biến động lớn của kinh tế thế giới khi các rủi ro địa chính trị, năng lượng và thương mại diễn ra đồng thời và có tác động lan tỏa mạnh mẽ tới thị trường tài chính cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều quốc gia. Là nền kinh tế có độ mở cao và phụ thuộc đáng kể vào nhập khẩu năng lượng cũng như xuất khẩu sang các thị trường lớn, Việt Nam chịu ảnh hưởng tương đối rõ nét từ các cú sốc bên ngoài. Trong bối cảnh đó, việc đánh giá đầy đủ cơ chế truyền dẫn, phân tích tác động đối với nền kinh tế Việt Nam và đề xuất các giải pháp ứng phó có ý nghĩa quan trọng đối với công tác điều hành chính sách trong ngắn hạn cũng như nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trong trung và dài hạn.
Mối quan hệ giữa tài chính toàn diện dựa trên Fintech và sự ổn định của các ngân hàng: Bằng chứng  từ các quốc gia đang phát triển

Mối quan hệ giữa tài chính toàn diện dựa trên Fintech và sự ổn định của các ngân hàng: Bằng chứng từ các quốc gia đang phát triển

Bài viết phân tích tác động của tài chính toàn diện dựa trên công nghệ tài chính (Fintech) đối với sự ổn định của hệ thống ngân hàng tại các quốc gia mới nổi, qua đó khẳng định vai trò của đổi mới tài chính và chuyển đổi số trong nâng cao năng lực chống chịu của ngân hàng, đồng thời đề xuất các hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển hệ thống tài chính bền vững.
Xây dựng mô hình kinh tế - tài chính của Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Xây dựng mô hình kinh tế - tài chính của Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh kinh tế số và công nghệ tài chính (Fintech) phát triển mạnh mẽ, việc xây dựng mô hình kinh tế - tài chính hiện đại, lấy lĩnh vực tài chính làm động lực tăng trưởng mới, được xem là hướng đi chiến lược để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy tăng trưởng bền vững và từng bước khẳng định vị thế trong hệ thống tài chính quốc tế.
VIFC-DN: Xác lập vị thế Việt Nam trên bản đồ tài chính toàn cầu

VIFC-DN: Xác lập vị thế Việt Nam trên bản đồ tài chính toàn cầu

Không đi theo quỹ đạo phát triển của các Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) truyền thống, IFC Việt Nam (VIFC) tại Đà Nẵng (VIFC-DN) được định vị theo hướng trở thành một “phòng thí nghiệm tài chính” hiện đại. Mô hình này nhấn mạnh tính chuyên biệt, gắn kết chặt chẽ với các trụ cột kinh tế số và tài chính xanh, qua đó tạo không gian thử nghiệm và triển khai các sáng kiến tài chính mới. Với định hướng này, Đà Nẵng được kỳ vọng hình thành cực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên bản đồ tài chính quốc tế.
Xem thêm
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, không chỉ góp phần bảo đảm an sinh xã hội mà còn tạo động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam trong thời gian tới.
Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảo hiểm tiền gửi là trụ cột quan trọng củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính, góp phần huy động nguồn lực và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Khi người dân yên tâm gửi gắm đồng tiền tích lũy, nguồn vốn trong xã hội được khơi thông, tạo thêm động lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại