Kinh tế Việt Nam 2025: Thành tựu bứt phá trên nền tảng điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén

Hoạt động ngân hàng
Năm 2025 khép lại với những dấu ấn tăng trưởng nổi bật của kinh tế Việt Nam, bất chấp bối cảnh quốc tế nhiều biến động. Tăng trưởng GDP vượt 8%, lạm phát được kiểm soát và các cân đối lớn duy trì ổn định đã cho thấy hiệu quả rõ nét của điều hành vĩ mô, trong đó chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén đóng vai trò then chốt, tạo bệ đỡ cho phục hồi và phát triển.
aa

Năm 2025 khép lại một giai đoạn 5 năm (2021 - 2025) đầy biến động của nền kinh tế toàn cầu và trong nước. Thế giới tiếp tục chịu áp lực từ cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột địa chính trị, chiến tranh thương mại và những diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh đó, Việt Nam không chỉ phải ứng phó với các "cú sốc" ngoại sinh, mà còn đối mặt với những thách thức nội tại như thiên tai dồn dập (đặc biệt là mưa lũ tại miền Trung và Bắc Trung Bộ), dịch bệnh trên vật nuôi tái bùng phát, cùng yêu cầu cải cách thể chế mạnh mẽ.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Chính phủ và sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách tài khóa, tiền tệ, nền kinh tế Việt Nam đã ghi nhận một năm "bứt phá toàn diện". Trong đó, chính sách tiền tệ (CSTT) được điều hành chủ động, linh hoạt, nhạy bén đã đóng vai trò then chốt như một "bệ đỡ" vững chắc, góp phần kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối và tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh phục hồi mạnh mẽ.

1. Bức tranh toàn cảnh về những thành tựu nổi bật năm 2025

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế đạt mức cao ấn tượng, vượt xa kỳ vọng, quy mô và sức mạnh kinh tế được nâng tầm

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2025 tăng trưởng 8,02%. Đây không chỉ là mức tăng trưởng vượt mục tiêu đề ra (khoảng 6,5 - 7%), mà còn là mức tăng cao thứ hai trong vòng 15 năm, chỉ sau năm 2022 (8,54%). Điều đáng chú ý là đà tăng trưởng được duy trì liên tục và tăng dần qua các quý: Quý I (+7,05%), Quý II (+8,16%), Quý III (+8,25%) và đỉnh điểm là Quý IV (+8,46%) (Biểu đồ 1). Xu hướng này phản ánh sức bật nội tại ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế, sự phục hồi rộng khắp của các ngành, lĩnh vực sau những hỗ trợ kịp thời từ chính sách (Cục Thống kê, 2025a).

Biểu đồ 1: Tăng trưởng GDP phân theo khu vực kinh tế các quý năm 2025 (%)

Nguồn: Cục Thống kê (2025a). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025
Nguồn: Cục Thống kê (2025a). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025

Quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2025 đạt 12.847,6 nghìn tỉ đồng, tương đương 514 tỉ USD (tăng 38 tỉ USD so với năm 2024). GDP bình quân đầu người đạt mốc 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024 (4.700 USD) (Cục Thống kê, 2025a), phản ánh sự cải thiện rõ rệt về mức sống và thu nhập, qua đó, củng cố vị thế của Việt Nam trong nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp và tiến gần hơn tới ngưỡng thu nhập trung bình cao theo các chuẩn mực quốc tế. Năng suất lao động toàn nền kinh tế (theo giá so sánh) tăng 6,83%, cho thấy chất lượng tăng trưởng đang được cải thiện.

Thứ hai, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực, công nghiệp chế biến - chế tạo và dịch vụ là động lực chính. Trong năm 2025, cơ cấu GDP tiếp tục chuyển dịch theo hướng hiện đại. Khu vực dịch vụ chiếm tỉ trọng 42,75%, đóng góp 51,08% vào mức tăng trưởng chung, với các ngành như bán lẻ, vận tải, logistics và du lịch tăng trưởng vượt trội; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,65%, đóng góp 43,62%. Đặc biệt, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,97% - mức tăng cao nhất kể từ năm 2019, tiếp tục khẳng định vai trò "bệ đỡ" và là động lực tăng trưởng số một. Các ngành sản xuất xe có động cơ (+22%), sản phẩm từ cao su và plastic (+15,7%), hóa chất (+12,4%) dẫn đầu. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tuy chỉ chiếm 11,64% và đóng góp 5,30%, nhưng tiếp tục đóng vai trò trụ đỡ vững chắc, bảo đảm an ninh lương thực, ổn định xã hội và là nguồn cung nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu (Cục Thống kê, 2025a).

Thứ ba, hoạt động xuất, nhập khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) phá kỷ lục. Năm 2025, hoạt động xuất khẩu đạt kỷ lục 475,04 tỉ USD, tăng 17% so với năm 2024. Có tới 36 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỉ USD, trong đó, nhóm hàng điện tử, máy tính và linh kiện vươn lên dẫn đầu với 107,75 tỉ USD (tăng 48,4%), phản ánh sự dịch chuyển sâu hơn của Việt Nam vào chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu; hoạt động nhập khẩu đạt 455,01 tỉ USD, tăng 19,4%, chủ yếu là nguyên liệu, máy móc phục vụ sản xuất trong nước và tái đầu tư mở rộng của khu vực FDI. Xuất siêu duy trì ở mức cao 20,03 tỉ USD, góp phần ổn định cán cân thanh toán, tăng dự trữ ngoại hối; FDI đạt 27,62 tỉ USD, tăng 9% và là mức cao nhất trong 5 năm qua. Điều này minh chứng cho niềm tin vững chắc của nhà đầu tư quốc tế vào môi trường kinh doanh và triển vọng tăng trưởng dài hạn của Việt Nam, bất chấp những thách thức toàn cầu (Cục Thống kê, 2025a).

Thứ tư, ngành thương mại, dịch vụ tăng trưởng tích cực. Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, du lịch nội địa tăng trong năm 2025, đặc biệt trong các sự kiện kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, cùng với sự bứt phá về thu hút khách quốc tế đến Việt Nam đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng của ngành thương mại, dịch vụ trong năm 2025. Theo số liệu công bố của Cục thống kê (2025a), tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 9,2% so với năm trước (năm 2024 tăng 8,9%) nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,7% (tương đương mức tăng năm 2024) (Biểu đồ 2), cho thấy sự tăng trưởng tích cực từ ngành thương mại và dịch vụ.

Biểu đồ 2. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành các năm 2021 - 2025

Nguồn: Cục Thống kê, 2025a.
Nguồn: Cục Thống kê, 2025a.

Thứ năm, lạm phát được kiểm soát hiệu quả, ổn định kinh tế vĩ mô được giữ vững. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2025 chỉ tăng 3,31%, nằm trong mục tiêu kiểm soát dưới 4,5% do Quốc hội đề ra. Đây là một thành tựu quan trọng trong bối cảnh thế giới vẫn tiềm ẩn áp lực lạm phát và giá nguyên vật liệu đầu vào biến động. Việc kiểm soát tốt lạm phát đã giúp bảo vệ sức mua của người dân, tạo môi trường ổn định cho các doanh nghiệp hoạch định sản xuất, kinh doanh.

Thứ sáu, thị trường tài chính - ngân hàng phát triển ổn định, lành mạnh. Với tăng trưởng tín dụng đạt 17,87%, kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế phục hồi và mở rộng sản xuất; lãi suất được duy trì ở mức thấp phù hợp, tạo điều kiện tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và người dân; thị trường chứng khoán bùng nổ: Chỉ số VNIndex tăng 40,9%, mức vốn hóa thị trường tăng 39,1%, phản ánh dòng tiền mạnh mẽ và kỳ vọng tích cực của nhà đầu tư vào triển vọng doanh nghiệp và nền kinh tế; tỉ giá được điều hành linh hoạt, cơ bản ổn định, góp phần ổn định thị trường ngoại hối và tâm lý.

Thứ bảy, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Tính chung cả năm 2025, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỉ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 24,94 tỉ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 29,43 tỉ USD, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 49,46 tỉ USD (Cục Thống kê, 2025a); cán cân thanh toán tổng thể kỳ vọng thặng dư kỷ lục. Động lực quan trọng tạo nên bức tranh tươi sáng của năm 2025 xuất phát từ sự đảo chiều của cán cân thanh toán tổng thể (BOP), với mức thặng dư dự phòng đạt con số 47,8 tỉ USD (VPBank Securities, 2025).

Đối với ngân sách nhà nước: Tổng thu đạt 134,7% dự toán, tăng 29,7% so với năm trước; tổng chi đạt 93,2% dự toán, tăng 31,2% so với năm trước, bảo đảm các nhiệm vụ chi quan trọng cho đầu tư phát triển, an sinh xã hội và phòng chống thiên tai (Cục Thống kê, 2025a).

2. Vai trò then chốt của CSTT

Thành tựu ấn tượng nêu trên có sự đóng góp không nhỏ của việc điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, thận trọng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Năm 2025, CSTT được triển khai theo hướng "nới lỏng có kiểm soát, hỗ trợ tăng trưởng nhưng không châm ngòi lạm phát", cụ thể như sau:

(1) Điều hành lãi suất linh hoạt, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn. NHNN duy trì khung lãi suất điều hành ở mức thấp, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp tục giảm lãi suất cho vay. Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức khoảng 3,9%/năm, thấp hơn mức trần 4,0%/năm theo quy định. Lãi suất cho vay bình quân chung ở mức 6,6% - 8,9%/năm (VietnamFDI, 2025). Chính sách lãi suất thấp, ổn định đã góp phần giảm đáng kể chi phí vốn, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, người dân vay vốn tiêu dùng và mua nhà, từ đó thúc đẩy tổng cầu nội địa.

(2) Quản lý tỉ giá ổn định, hỗ trợ xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư. Trong bối cảnh đồng USD trên thế giới biến động mạnh do chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), NHNN đã điều hành tỉ giá trung tâm một cách phù hợp, can thiệp thị trường ngoại hối linh hoạt thông qua các công cụ như hoán đổi ngoại tệ, bán ngoại tệ. Tỉ giá trung tâm USD/VND cuối năm 2025 ở mức 25.121 đồng, tăng 3,23% so với cuối 2024 (Cục Thống kê, 2025a) - mức tăng có kiểm soát, phù hợp với biến động thị trường và lạm phát mục tiêu. Việc giữ cho tỉ giá ổn định, không gây sốc đã: (i) Hỗ trợ xuất khẩu: Tạo sự ổn định cho các hợp đồng xuất khẩu, bảo vệ lợi nhuận của doanh nghiệp. (ii) Kiểm soát lạm phát nhập khẩu: Hạn chế áp lực tăng giá hàng hóa nhập khẩu. (iii) Thu hút FDI và kiều hối: Củng cố niềm tin của nhà đầu tư và kiều bào về sự ổn định của đồng tiền Việt Nam.

(3) Điều tiết thanh khoản thông minh, bảo đảm an toàn hệ thống. NHNN đã điều tiết thanh khoản một cách chủ động thông qua các nghiệp vụ thị trường mở (OMO), tái cấp vốn, nhằm bảo đảm hệ thống ngân hàng luôn có đủ thanh khoản đáp ứng nhu cầu vay vốn của nền kinh tế, đồng thời kiểm soát rủi ro. Tính đến ngày 22/12/2025, tổng phương tiện thanh toán tăng 14,98% so với cuối năm 2024 (cùng thời điểm năm trước tăng 9,15%); huy động vốn của các TCTD tăng 13,68% (cùng thời điểm năm trước tăng 8,79%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 17,87% (cùng thời điểm năm trước tăng 13,4%) (Cục Thống kê, 2025a; Tạp chí Ngân hàng, 2025) - mức tăng cao hơn hẳn cùng kỳ năm trước, phản ánh sự phục hồi mạnh mẽ của hoạt động huy động và tín dụng.

(4) Thúc đẩy tín dụng chính sách xã hội và tài chính toàn diện. Tính đến cuối năm 2025, tổng dư nợ tín dụng chính sách xã hội đạt trên 414,9 nghìn tỉ đồng, tăng 12,5%, với hơn 6,7 triệu hộ nghèo, cận nghèo và đối tượng chính sách được tiếp cận vốn vay ưu đãi. Chính sách này góp phần thiết thực vào việc thực hiện an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế nông thôn (Cục Thống kê, 2025a).

(5) Giám sát chặt chẽ, kiểm soát rủi ro, bảo đảm an toàn hệ thống. Bên cạnh các biện pháp hỗ trợ tăng trưởng, NHNN tăng cường giám sát, cảnh báo sớm và kiểm soát rủi ro trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt là rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Điều này góp phần duy trì sự lành mạnh, an toàn của hệ thống ngân hàng - huyết mạch của nền kinh tế.

3. Một số hạn chế, thách thức và bài học kinh nghiệm

(1) Hạn chế và thách thức

Bên cạnh những thành tựu đạt được, kinh tế Việt Nam năm 2025 vẫn còn những hạn chế, thách thức như: Phụ thuộc lớn vào khu vực FDI và xuất khẩu, trong khi khu vực kinh tế trong nước (chiếm 22,7% xuất khẩu) tăng trưởng chậm hơn, thậm chí xuất khẩu giảm 6,1% (Tạp chí Kinh tế - Tài chính, 2026); năng suất lao động tuy được cải thiện nhưng vẫn còn khoảng cách so với các nước trong khu vực; tỉ lệ lao động phi chính thức còn cao (63,1%), phản ánh tính dễ tổn thương của thị trường lao động (Cục Thống kê, 2025b), đặc biệt, áp lực từ biến đổi khí hậu và thiên tai ngày càng khốc liệt, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản, khoảng 98.677 tỉ đồng năm 2025 (Tạp chí điện tử Thiên nhiên và Môi trường, 2025).

(2) Bài học kinh nghiệm từ điều hành chính sách

Từ những kết quả đạt được và những hạn chế, thách thức, có thể rút ra bài học kinh nghiệm từ điều hành chính sách như: (1) Cần xem sự phối hợp chặt chẽ giữa CSTT và tài khóa là then chốt. CSTT linh hoạt tạo điều kiện về vốn, trong khi chính sách tài khóa (như hỗ trợ thuế, giải ngân đầu tư công) tạo ra cầu và dẫn dắt đầu tư; (2) Điều hành chính sách cần chủ động, nhạy bén, dự báo và có kịch bản ứng phó với các "cú sốc" bên ngoài. Việc NHNN chủ động can thiệp thị trường ngoại hối, điều tiết thanh khoản đã giúp giảm thiểu tác động tiêu cực; (3) Cần ưu tiên ổn định vĩ mô làm nền tảng cho tăng trưởng. Kiểm soát thành công lạm phát và ổn định tỉ giá là tiền đề để các chính sách hỗ trợ tăng trưởng phát huy hiệu quả lâu dài; (4) Cần tiếp tục cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh để khơi thông nguồn lực nội sinh, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.

4. Định hướng chính sách năm 2026

Năm 2026 mở ra một giai đoạn phát triển mới với mục tiêu "duy trì tăng trưởng cao, bền vững đi đôi với củng cố vững chắc nền tảng ổn định vĩ mô". Để hiện thực hóa mục tiêu này, việc tiếp tục phát huy hiệu quả của CSTT là vô cùng quan trọng, vì thế cần có định hướng điều hành CSTT và tăng cường phối hợp CSTT với các chính sách vĩ mô khác:

(1) Định hướng điều hành CSTT

Năm 2026, cần tiếp tục điều hành CSTT linh hoạt, thận trọng, điều chỉnh phù hợp với diễn biến lạm phát trong nước, CSTT của các nước lớn và tình hình tăng trưởng thực tế. Ưu tiên hàng đầu vẫn là kiểm soát lạm phát ở mức mục tiêu (lạm phát bình quân khoảng 4,5%); cần tập trung vào chất lượng tăng trưởng tín dụng, định hướng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, các dự án hiệu quả, công nghệ cao, xanh, bền vững, kiểm soát chặt tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi cao; cần tiếp tục điều hành tỉ giá linh hoạt, can thiệp kịp thời khi cần, tăng cường dự trữ ngoại hối. Chuẩn bị các kịch bản ứng phó với biến động thị trường tài chính toàn cầu để ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối trong nước. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống TCTD gắn với xử lý nợ xấu, tăng cường năng lực tài chính, quản trị rủi ro của các ngân hàng, tạo nền tảng vững chắc cho hệ thống.

(2) Phối hợp CSTT với các chính sách vĩ mô khác

Trong năm 2016, cần phối hợp CSTT với các chính sách vĩ mô khác để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao hiệu quả điều hành và truyền dẫn CSTT, cụ thể:

- Phối hợp với chính sách tài khóa để đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, nhất là các dự án trọng điểm quốc gia, tạo hiệu ứng lan tỏa; có giải pháp tháo gỡ vướng mắc, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài, góp phần nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng cơ chế hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài có chọn lọc, trong một số lĩnh vực có tiềm năng, tạo sự bứt phá, động lực mới cho tăng trưởng như chíp, bán dẫn, đổi mới sáng tạo, hydrogen xanh... Sử dụng chính sách thuế linh hoạt để hỗ trợ doanh nghiệp.

- Phối hợp với chính sách cơ cấu để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng hiện đại hóa, phát triển theo chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm các ngành công nghiệp có lợi thế. Ưu tiên phát triển, làm chủ công nghệ mới, các ngành, lĩnh vực công nghiệp mới nổi như chíp, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, xanh, bền vững. Ưu tiên tín dụng cho các ngành công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp công nghệ cao.

5. Kết luận

Năm 2025, nền kinh tế Việt Nam đã có một kỳ tích tăng trưởng ấn tượng, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc trong năng lực điều hành vĩ mô, đặc biệt là CSTT. Thành công này là nền tảng vững chắc và là động lực mạnh mẽ để Việt Nam bước vào năm 2026 với tâm thế tự tin, quyết tâm cao. Với sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị, sự năng động của cộng đồng doanh nghiệp và sức sáng tạo của người dân, dưới sự dẫn dắt của các chính sách vĩ mô thông minh và nhạy bén, Việt Nam hoàn toàn có khả năng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao, chất lượng, bền vững, từng bước hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Tài liệu tham khảo:

1. Cục Thống kê (2025a). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025. https://www.gso.gov.vn

2. Cục Thống kê (2025b). Thông cáo báo chí tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-dan-so-lao-dong-viec-lam-quy-iv-va-nam-2025/

3. Tạp chí điện tử Thiên nhiên và Môi trường (2025). Thiên tai gây thiệt hại gần 98.700 tỉ đồng trong năm 2025. https://thiennhienmoitruong.vn/thien-tai-gay-thiet-hai-gan-98-700-ty-dong-trong-nam-2025.html

4. Tạp chí Kinh tế - Tài chính (2026). Xuất nhập khẩu năm 2025 tăng trưởng mạnh, xuất siêu hơn 20 tỉ USD. https://tapchikinhtetaichinh.vn/xuat-nhap-khau-nam-2025-tang-truong-manh-xuat-sieu-hon-20-ty-usd-137782.html

5. Tạp chí Ngân hàng (2025). CSTT góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế năm 2025. https://tapchinganhang.gov.vn/chinh-sach-tien-te-gop-phan-quan-trong-trong-tang-truong-kinh-te-nam-2025-16875.html

6. VietnamFDI (2025). Lãi suất cho vay lĩnh vực ưu tiên giữ ở 3,9%/năm, thấp hơn trần quy định. https://vietnamfdi.vn/lai-suat-cho-vay-linh-vuc-uu-tien-giu-o-3-9-nam-thap-hon-tran-quy-dinh-17_121692.html

7. VPBank Securities (2025). Triển vọng 2026.

Nhật Trung

Tin bài khác

Chính sách tiền tệ góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế năm 2025

Chính sách tiền tệ góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế năm 2025

Sáng 31/12, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham dự và chỉ đạo Hội nghị. Giai đoạn 2021 - 2025 là một nhiệm kỳ ghi dấu ấn đặc biệt của ngành Ngân hàng. Những nỗ lực bền bỉ của toàn hệ thống ngân hàng đã tạo nên nhiều thành tựu nổi bật, là những gam màu sáng trong bức tranh tổng thể của nền kinh tế Việt Nam, góp phần quan trọng vào ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đó cũng là nền tảng vững chắc, tạo thế và lực để ngành Ngân hàng vững bước tiến vào chặng đường phát triển mới.
Tác động của cấu trúc nguồn vốn huy động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của vốn chủ sở hữu

Tác động của cấu trúc nguồn vốn huy động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của vốn chủ sở hữu

Nghiên cứu này làm rõ tác động của tiền gửi khách hàng và nguồn vốn phi tiền gửi đến khả năng sinh lời của ngân hàng, đồng thời chỉ ra vai trò điều tiết quan trọng của vốn chủ sở hữu trong mối quan hệ này. Kết quả thực nghiệm cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc tối ưu hóa cấu trúc nguồn vốn và định hướng chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Tác động của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tại các quốc gia ASEAN

Tác động của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tại các quốc gia ASEAN

Bài viết phân tích vai trò của tín dụng xanh trong bối cảnh các quốc gia ASEAN đối mặt với thách thức biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, qua đó làm rõ tác động tích cực của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần, đồng thời xem xét mức độ ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong mối quan hệ này.
Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu đề xuất hàm ý chính sách cho các nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý: Các ngân hàng cần định hình và vận dụng khẩu vị rủi ro như một chiếc la bàn xuyên suốt quá trình quản trị; đồng thời, cần chủ động trích lập dự phòng dựa trên các dự báo và kịch bản kinh tế vĩ mô, tăng cường giám sát sớm để phát hiện kịp thời các dấu hiệu suy giảm chất lượng tín dụng, xử lý nợ xấu một cách dứt khoát nhằm tránh hiệu ứng tích tụ rủi ro.
Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Nghiên cứu này tập trung đánh giá ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng trong bối cảnh ngân hàng số Việt Nam. Kết quả nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm mới cho bối cảnh Việt Nam, đồng thời củng cố các lý thuyết trước đó về niềm tin trong môi trường ngân hàng số.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính tại Trung tâm tài chính quốc tế: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính tại Trung tâm tài chính quốc tế: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và khuyến nghị cho Việt Nam

Việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh và định vị của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong giai đoạn tới. Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, tác giả đề xuất khung sản phẩm, dịch vụ tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam dựa trên bốn yếu tố tích hợp về thể chế, hạ tầng, nhân lực và hợp tác quốc tế.
Áp lực công việc và sự hài lòng, trung thành với tổ chức của nhân viên ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Áp lực công việc và sự hài lòng, trung thành với tổ chức của nhân viên ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Bài viết nhằm làm rõ các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến tâm lý và hành vi của nhân viên, qua đó đề xuất các giải pháp thiết thực giúp ngân hàng tăng cường sự gắn bó, ổn định nguồn lực nhân sự và nâng cao sức cạnh tranh trong bối cảnh mới.
Tác động của chính sách tín dụng xanh đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của chính sách tín dụng xanh đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Thực tiễn triển khai tín dụng xanh tại Việt Nam cho thấy hiệu ứng tích cực về mặt xã hội và kinh tế, đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp bền vững, năng lượng tái tạo và sản xuất sạch hơn.
Xem thêm
Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Ngày 01/01/2026, Văn phòng Quốc hội công bố 10 sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025
Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Đối với Việt Nam, việc ban hành các văn bản pháp luật đã phần nào đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (viết tắt là cơ chế thử nghiệm), đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, để cơ chế thử nghiệm thực sự phát huy hiệu quả, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý tổng thể, thiết lập quy trình minh bạch, cơ chế giám sát rủi ro chặt chẽ và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý, đồng thời cần gắn với mục tiêu phát triển bền vững và chuyển đổi số quốc gia.
Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Bài viết phân tích thực trạng, nguyên nhân và khẳng định sự cần thiết đổi mới đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo hướng áp dụng các chỉ số đo lường hiệu quả công việc (Key Performance Indicators - KPI), đồng thời đề xuất giải pháp triển khai phù hợp với khu vực công.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Bài viết làm rõ triển vọng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, đồng thời chỉ ra những điều kiện then chốt để mô hình này phát triển hiệu quả, bền vững và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Tài chính xanh chỉ có thể phát huy hiệu quả khi dòng vốn được phân bổ đúng địa chỉ, đúng nhu cầu và thực chất, nhằm bảo đảm tín dụng xanh không chỉ là trách nhiệm với cộng đồng mà còn trở thành cơ hội chiến lược để các ngân hàng định vị hướng phát triển bền vững của mình.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Quyết định vay vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài thị trường tài chính thuần túy, trong đó môi trường thông tin và thể chế ngày càng nổi lên như những biến số quan trọng. Trên cơ sở phân tích định lượng, bài viết đánh giá vai trò của tự do ngôn luận trong mối quan hệ giữa tham nhũng và sự nản lòng vay vốn ngân hàng.
Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế  và khuyến nghị đối với Việt Nam

Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa ở Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh xét theo cả quy mô giao dịch và mức độ phổ cập trong đời sống tài chính, yêu cầu hoàn thiện khung phòng, chống rửa tiền trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, bởi các chỉ dấu khách quan cho thấy Việt Nam vừa nằm trong nhóm quốc gia có giá trị giao dịch trên chuỗi rất lớn.
Pháp luật Liên minh châu Âu  về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Pháp luật Liên minh châu Âu về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Dữ liệu cá nhân giữ vai trò nền tảng trong thương mại điện tử, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động tương tác và kinh doanh trên môi trường số. Bài viết phân tích quy định của EU (đặc biệt là GDPR 2016), đánh giá tác động thực thi, so sánh với pháp luật Việt Nam để chỉ ra bất cập và đề xuất hoàn thiện cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng