Kinh tế Việt Nam 2025: Thành tựu bứt phá trên nền tảng điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén

Hoạt động ngân hàng
Năm 2025 khép lại với những dấu ấn tăng trưởng nổi bật của kinh tế Việt Nam, bất chấp bối cảnh quốc tế nhiều biến động. Tăng trưởng GDP vượt 8%, lạm phát được kiểm soát và các cân đối lớn duy trì ổn định đã cho thấy hiệu quả rõ nét của điều hành vĩ mô, trong đó chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén đóng vai trò then chốt, tạo bệ đỡ cho phục hồi và phát triển.
aa

Năm 2025 khép lại một giai đoạn 5 năm (2021 - 2025) đầy biến động của nền kinh tế toàn cầu và trong nước. Thế giới tiếp tục chịu áp lực từ cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột địa chính trị, chiến tranh thương mại và những diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh đó, Việt Nam không chỉ phải ứng phó với các "cú sốc" ngoại sinh, mà còn đối mặt với những thách thức nội tại như thiên tai dồn dập (đặc biệt là mưa lũ tại miền Trung và Bắc Trung Bộ), dịch bệnh trên vật nuôi tái bùng phát, cùng yêu cầu cải cách thể chế mạnh mẽ.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Chính phủ và sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách tài khóa, tiền tệ, nền kinh tế Việt Nam đã ghi nhận một năm "bứt phá toàn diện". Trong đó, chính sách tiền tệ (CSTT) được điều hành chủ động, linh hoạt, nhạy bén đã đóng vai trò then chốt như một "bệ đỡ" vững chắc, góp phần kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối và tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh phục hồi mạnh mẽ.

1. Bức tranh toàn cảnh về những thành tựu nổi bật năm 2025

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế đạt mức cao ấn tượng, vượt xa kỳ vọng, quy mô và sức mạnh kinh tế được nâng tầm

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2025 tăng trưởng 8,02%. Đây không chỉ là mức tăng trưởng vượt mục tiêu đề ra (khoảng 6,5 - 7%), mà còn là mức tăng cao thứ hai trong vòng 15 năm, chỉ sau năm 2022 (8,54%). Điều đáng chú ý là đà tăng trưởng được duy trì liên tục và tăng dần qua các quý: Quý I (+7,05%), Quý II (+8,16%), Quý III (+8,25%) và đỉnh điểm là Quý IV (+8,46%) (Biểu đồ 1). Xu hướng này phản ánh sức bật nội tại ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế, sự phục hồi rộng khắp của các ngành, lĩnh vực sau những hỗ trợ kịp thời từ chính sách (Cục Thống kê, 2025a).

Biểu đồ 1: Tăng trưởng GDP phân theo khu vực kinh tế các quý năm 2025 (%)

Nguồn: Cục Thống kê (2025a). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025
Nguồn: Cục Thống kê (2025a). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025

Quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2025 đạt 12.847,6 nghìn tỉ đồng, tương đương 514 tỉ USD (tăng 38 tỉ USD so với năm 2024). GDP bình quân đầu người đạt mốc 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024 (4.700 USD) (Cục Thống kê, 2025a), phản ánh sự cải thiện rõ rệt về mức sống và thu nhập, qua đó, củng cố vị thế của Việt Nam trong nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp và tiến gần hơn tới ngưỡng thu nhập trung bình cao theo các chuẩn mực quốc tế. Năng suất lao động toàn nền kinh tế (theo giá so sánh) tăng 6,83%, cho thấy chất lượng tăng trưởng đang được cải thiện.

Thứ hai, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực, công nghiệp chế biến - chế tạo và dịch vụ là động lực chính. Trong năm 2025, cơ cấu GDP tiếp tục chuyển dịch theo hướng hiện đại. Khu vực dịch vụ chiếm tỉ trọng 42,75%, đóng góp 51,08% vào mức tăng trưởng chung, với các ngành như bán lẻ, vận tải, logistics và du lịch tăng trưởng vượt trội; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,65%, đóng góp 43,62%. Đặc biệt, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,97% - mức tăng cao nhất kể từ năm 2019, tiếp tục khẳng định vai trò "bệ đỡ" và là động lực tăng trưởng số một. Các ngành sản xuất xe có động cơ (+22%), sản phẩm từ cao su và plastic (+15,7%), hóa chất (+12,4%) dẫn đầu. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tuy chỉ chiếm 11,64% và đóng góp 5,30%, nhưng tiếp tục đóng vai trò trụ đỡ vững chắc, bảo đảm an ninh lương thực, ổn định xã hội và là nguồn cung nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu (Cục Thống kê, 2025a).

Thứ ba, hoạt động xuất, nhập khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) phá kỷ lục. Năm 2025, hoạt động xuất khẩu đạt kỷ lục 475,04 tỉ USD, tăng 17% so với năm 2024. Có tới 36 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỉ USD, trong đó, nhóm hàng điện tử, máy tính và linh kiện vươn lên dẫn đầu với 107,75 tỉ USD (tăng 48,4%), phản ánh sự dịch chuyển sâu hơn của Việt Nam vào chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu; hoạt động nhập khẩu đạt 455,01 tỉ USD, tăng 19,4%, chủ yếu là nguyên liệu, máy móc phục vụ sản xuất trong nước và tái đầu tư mở rộng của khu vực FDI. Xuất siêu duy trì ở mức cao 20,03 tỉ USD, góp phần ổn định cán cân thanh toán, tăng dự trữ ngoại hối; FDI đạt 27,62 tỉ USD, tăng 9% và là mức cao nhất trong 5 năm qua. Điều này minh chứng cho niềm tin vững chắc của nhà đầu tư quốc tế vào môi trường kinh doanh và triển vọng tăng trưởng dài hạn của Việt Nam, bất chấp những thách thức toàn cầu (Cục Thống kê, 2025a).

Thứ tư, ngành thương mại, dịch vụ tăng trưởng tích cực. Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, du lịch nội địa tăng trong năm 2025, đặc biệt trong các sự kiện kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, cùng với sự bứt phá về thu hút khách quốc tế đến Việt Nam đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng của ngành thương mại, dịch vụ trong năm 2025. Theo số liệu công bố của Cục thống kê (2025a), tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 9,2% so với năm trước (năm 2024 tăng 8,9%) nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,7% (tương đương mức tăng năm 2024) (Biểu đồ 2), cho thấy sự tăng trưởng tích cực từ ngành thương mại và dịch vụ.

Biểu đồ 2. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành các năm 2021 - 2025

Nguồn: Cục Thống kê, 2025a.
Nguồn: Cục Thống kê, 2025a.

Thứ năm, lạm phát được kiểm soát hiệu quả, ổn định kinh tế vĩ mô được giữ vững. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2025 chỉ tăng 3,31%, nằm trong mục tiêu kiểm soát dưới 4,5% do Quốc hội đề ra. Đây là một thành tựu quan trọng trong bối cảnh thế giới vẫn tiềm ẩn áp lực lạm phát và giá nguyên vật liệu đầu vào biến động. Việc kiểm soát tốt lạm phát đã giúp bảo vệ sức mua của người dân, tạo môi trường ổn định cho các doanh nghiệp hoạch định sản xuất, kinh doanh.

Thứ sáu, thị trường tài chính - ngân hàng phát triển ổn định, lành mạnh. Với tăng trưởng tín dụng đạt 17,87%, kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế phục hồi và mở rộng sản xuất; lãi suất được duy trì ở mức thấp phù hợp, tạo điều kiện tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và người dân; thị trường chứng khoán bùng nổ: Chỉ số VNIndex tăng 40,9%, mức vốn hóa thị trường tăng 39,1%, phản ánh dòng tiền mạnh mẽ và kỳ vọng tích cực của nhà đầu tư vào triển vọng doanh nghiệp và nền kinh tế; tỉ giá được điều hành linh hoạt, cơ bản ổn định, góp phần ổn định thị trường ngoại hối và tâm lý.

Thứ bảy, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Tính chung cả năm 2025, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỉ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 24,94 tỉ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 29,43 tỉ USD, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 49,46 tỉ USD (Cục Thống kê, 2025a); cán cân thanh toán tổng thể kỳ vọng thặng dư kỷ lục. Động lực quan trọng tạo nên bức tranh tươi sáng của năm 2025 xuất phát từ sự đảo chiều của cán cân thanh toán tổng thể (BOP), với mức thặng dư dự phòng đạt con số 47,8 tỉ USD (VPBank Securities, 2025).

Đối với ngân sách nhà nước: Tổng thu đạt 134,7% dự toán, tăng 29,7% so với năm trước; tổng chi đạt 93,2% dự toán, tăng 31,2% so với năm trước, bảo đảm các nhiệm vụ chi quan trọng cho đầu tư phát triển, an sinh xã hội và phòng chống thiên tai (Cục Thống kê, 2025a).

2. Vai trò then chốt của CSTT

Thành tựu ấn tượng nêu trên có sự đóng góp không nhỏ của việc điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, thận trọng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Năm 2025, CSTT được triển khai theo hướng "nới lỏng có kiểm soát, hỗ trợ tăng trưởng nhưng không châm ngòi lạm phát", cụ thể như sau:

(1) Điều hành lãi suất linh hoạt, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn. NHNN duy trì khung lãi suất điều hành ở mức thấp, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp tục giảm lãi suất cho vay. Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức khoảng 3,9%/năm, thấp hơn mức trần 4,0%/năm theo quy định. Lãi suất cho vay bình quân chung ở mức 6,6% - 8,9%/năm (VietnamFDI, 2025). Chính sách lãi suất thấp, ổn định đã góp phần giảm đáng kể chi phí vốn, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, người dân vay vốn tiêu dùng và mua nhà, từ đó thúc đẩy tổng cầu nội địa.

(2) Quản lý tỉ giá ổn định, hỗ trợ xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư. Trong bối cảnh đồng USD trên thế giới biến động mạnh do chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), NHNN đã điều hành tỉ giá trung tâm một cách phù hợp, can thiệp thị trường ngoại hối linh hoạt thông qua các công cụ như hoán đổi ngoại tệ, bán ngoại tệ. Tỉ giá trung tâm USD/VND cuối năm 2025 ở mức 25.121 đồng, tăng 3,23% so với cuối 2024 (Cục Thống kê, 2025a) - mức tăng có kiểm soát, phù hợp với biến động thị trường và lạm phát mục tiêu. Việc giữ cho tỉ giá ổn định, không gây sốc đã: (i) Hỗ trợ xuất khẩu: Tạo sự ổn định cho các hợp đồng xuất khẩu, bảo vệ lợi nhuận của doanh nghiệp. (ii) Kiểm soát lạm phát nhập khẩu: Hạn chế áp lực tăng giá hàng hóa nhập khẩu. (iii) Thu hút FDI và kiều hối: Củng cố niềm tin của nhà đầu tư và kiều bào về sự ổn định của đồng tiền Việt Nam.

(3) Điều tiết thanh khoản thông minh, bảo đảm an toàn hệ thống. NHNN đã điều tiết thanh khoản một cách chủ động thông qua các nghiệp vụ thị trường mở (OMO), tái cấp vốn, nhằm bảo đảm hệ thống ngân hàng luôn có đủ thanh khoản đáp ứng nhu cầu vay vốn của nền kinh tế, đồng thời kiểm soát rủi ro. Tính đến ngày 22/12/2025, tổng phương tiện thanh toán tăng 14,98% so với cuối năm 2024 (cùng thời điểm năm trước tăng 9,15%); huy động vốn của các TCTD tăng 13,68% (cùng thời điểm năm trước tăng 8,79%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 17,87% (cùng thời điểm năm trước tăng 13,4%) (Cục Thống kê, 2025a; Tạp chí Ngân hàng, 2025) - mức tăng cao hơn hẳn cùng kỳ năm trước, phản ánh sự phục hồi mạnh mẽ của hoạt động huy động và tín dụng.

(4) Thúc đẩy tín dụng chính sách xã hội và tài chính toàn diện. Tính đến cuối năm 2025, tổng dư nợ tín dụng chính sách xã hội đạt trên 414,9 nghìn tỉ đồng, tăng 12,5%, với hơn 6,7 triệu hộ nghèo, cận nghèo và đối tượng chính sách được tiếp cận vốn vay ưu đãi. Chính sách này góp phần thiết thực vào việc thực hiện an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế nông thôn (Cục Thống kê, 2025a).

(5) Giám sát chặt chẽ, kiểm soát rủi ro, bảo đảm an toàn hệ thống. Bên cạnh các biện pháp hỗ trợ tăng trưởng, NHNN tăng cường giám sát, cảnh báo sớm và kiểm soát rủi ro trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt là rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Điều này góp phần duy trì sự lành mạnh, an toàn của hệ thống ngân hàng - huyết mạch của nền kinh tế.

3. Một số hạn chế, thách thức và bài học kinh nghiệm

(1) Hạn chế và thách thức

Bên cạnh những thành tựu đạt được, kinh tế Việt Nam năm 2025 vẫn còn những hạn chế, thách thức như: Phụ thuộc lớn vào khu vực FDI và xuất khẩu, trong khi khu vực kinh tế trong nước (chiếm 22,7% xuất khẩu) tăng trưởng chậm hơn, thậm chí xuất khẩu giảm 6,1% (Tạp chí Kinh tế - Tài chính, 2026); năng suất lao động tuy được cải thiện nhưng vẫn còn khoảng cách so với các nước trong khu vực; tỉ lệ lao động phi chính thức còn cao (63,1%), phản ánh tính dễ tổn thương của thị trường lao động (Cục Thống kê, 2025b), đặc biệt, áp lực từ biến đổi khí hậu và thiên tai ngày càng khốc liệt, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản, khoảng 98.677 tỉ đồng năm 2025 (Tạp chí điện tử Thiên nhiên và Môi trường, 2025).

(2) Bài học kinh nghiệm từ điều hành chính sách

Từ những kết quả đạt được và những hạn chế, thách thức, có thể rút ra bài học kinh nghiệm từ điều hành chính sách như: (1) Cần xem sự phối hợp chặt chẽ giữa CSTT và tài khóa là then chốt. CSTT linh hoạt tạo điều kiện về vốn, trong khi chính sách tài khóa (như hỗ trợ thuế, giải ngân đầu tư công) tạo ra cầu và dẫn dắt đầu tư; (2) Điều hành chính sách cần chủ động, nhạy bén, dự báo và có kịch bản ứng phó với các "cú sốc" bên ngoài. Việc NHNN chủ động can thiệp thị trường ngoại hối, điều tiết thanh khoản đã giúp giảm thiểu tác động tiêu cực; (3) Cần ưu tiên ổn định vĩ mô làm nền tảng cho tăng trưởng. Kiểm soát thành công lạm phát và ổn định tỉ giá là tiền đề để các chính sách hỗ trợ tăng trưởng phát huy hiệu quả lâu dài; (4) Cần tiếp tục cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh để khơi thông nguồn lực nội sinh, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.

4. Định hướng chính sách năm 2026

Năm 2026 mở ra một giai đoạn phát triển mới với mục tiêu "duy trì tăng trưởng cao, bền vững đi đôi với củng cố vững chắc nền tảng ổn định vĩ mô". Để hiện thực hóa mục tiêu này, việc tiếp tục phát huy hiệu quả của CSTT là vô cùng quan trọng, vì thế cần có định hướng điều hành CSTT và tăng cường phối hợp CSTT với các chính sách vĩ mô khác:

(1) Định hướng điều hành CSTT

Năm 2026, cần tiếp tục điều hành CSTT linh hoạt, thận trọng, điều chỉnh phù hợp với diễn biến lạm phát trong nước, CSTT của các nước lớn và tình hình tăng trưởng thực tế. Ưu tiên hàng đầu vẫn là kiểm soát lạm phát ở mức mục tiêu (lạm phát bình quân khoảng 4,5%); cần tập trung vào chất lượng tăng trưởng tín dụng, định hướng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, các dự án hiệu quả, công nghệ cao, xanh, bền vững, kiểm soát chặt tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi cao; cần tiếp tục điều hành tỉ giá linh hoạt, can thiệp kịp thời khi cần, tăng cường dự trữ ngoại hối. Chuẩn bị các kịch bản ứng phó với biến động thị trường tài chính toàn cầu để ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối trong nước. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống TCTD gắn với xử lý nợ xấu, tăng cường năng lực tài chính, quản trị rủi ro của các ngân hàng, tạo nền tảng vững chắc cho hệ thống.

(2) Phối hợp CSTT với các chính sách vĩ mô khác

Trong năm 2016, cần phối hợp CSTT với các chính sách vĩ mô khác để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao hiệu quả điều hành và truyền dẫn CSTT, cụ thể:

- Phối hợp với chính sách tài khóa để đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, nhất là các dự án trọng điểm quốc gia, tạo hiệu ứng lan tỏa; có giải pháp tháo gỡ vướng mắc, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài, góp phần nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng cơ chế hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài có chọn lọc, trong một số lĩnh vực có tiềm năng, tạo sự bứt phá, động lực mới cho tăng trưởng như chíp, bán dẫn, đổi mới sáng tạo, hydrogen xanh... Sử dụng chính sách thuế linh hoạt để hỗ trợ doanh nghiệp.

- Phối hợp với chính sách cơ cấu để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng hiện đại hóa, phát triển theo chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm các ngành công nghiệp có lợi thế. Ưu tiên phát triển, làm chủ công nghệ mới, các ngành, lĩnh vực công nghiệp mới nổi như chíp, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, xanh, bền vững. Ưu tiên tín dụng cho các ngành công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp công nghệ cao.

5. Kết luận

Năm 2025, nền kinh tế Việt Nam đã có một kỳ tích tăng trưởng ấn tượng, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc trong năng lực điều hành vĩ mô, đặc biệt là CSTT. Thành công này là nền tảng vững chắc và là động lực mạnh mẽ để Việt Nam bước vào năm 2026 với tâm thế tự tin, quyết tâm cao. Với sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị, sự năng động của cộng đồng doanh nghiệp và sức sáng tạo của người dân, dưới sự dẫn dắt của các chính sách vĩ mô thông minh và nhạy bén, Việt Nam hoàn toàn có khả năng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao, chất lượng, bền vững, từng bước hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Tài liệu tham khảo:

1. Cục Thống kê (2025a). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025. https://www.gso.gov.vn

2. Cục Thống kê (2025b). Thông cáo báo chí tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-dan-so-lao-dong-viec-lam-quy-iv-va-nam-2025/

3. Tạp chí điện tử Thiên nhiên và Môi trường (2025). Thiên tai gây thiệt hại gần 98.700 tỉ đồng trong năm 2025. https://thiennhienmoitruong.vn/thien-tai-gay-thiet-hai-gan-98-700-ty-dong-trong-nam-2025.html

4. Tạp chí Kinh tế - Tài chính (2026). Xuất nhập khẩu năm 2025 tăng trưởng mạnh, xuất siêu hơn 20 tỉ USD. https://tapchikinhtetaichinh.vn/xuat-nhap-khau-nam-2025-tang-truong-manh-xuat-sieu-hon-20-ty-usd-137782.html

5. Tạp chí Ngân hàng (2025). CSTT góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế năm 2025. https://tapchinganhang.gov.vn/chinh-sach-tien-te-gop-phan-quan-trong-trong-tang-truong-kinh-te-nam-2025-16875.html

6. VietnamFDI (2025). Lãi suất cho vay lĩnh vực ưu tiên giữ ở 3,9%/năm, thấp hơn trần quy định. https://vietnamfdi.vn/lai-suat-cho-vay-linh-vuc-uu-tien-giu-o-3-9-nam-thap-hon-tran-quy-dinh-17_121692.html

7. VPBank Securities (2025). Triển vọng 2026.

Nhật Trung

Tin bài khác

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Bài viết phân tích những cơ hội và thách thức đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) trong quá trình tái cơ cấu gắn với chuyển đổi số, đồng thời đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao năng lực quản trị, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững của hệ thống trong giai đoạn tới.
Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành. Tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là: Chuyển đổi số phải đi cùng an toàn; khai thác dữ liệu phải đi cùng bảo vệ dữ liệu; ứng dụng AI phải đi cùng quản trị rủi ro; đổi mới sáng tạo phải đi cùng tuân thủ, kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Sự hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đặt ra yêu cầu thiết kế thể chế mới: Dịch vụ ngân hàng số phục vụ IFC không thể được đồng nhất với các tiện ích số bán lẻ vốn đã phát triển nhanh trong thập kỷ qua. Trên cơ sở phân tích đối chứng giữa Singapore và Hồng Kông, bài viết xây dựng khung năng lực vận hành gồm bốn lớp hạ tầng (gia nhập thị trường, giao dịch, tuân thủ, niềm tin thị trường) và chỉ ra rằng sức mạnh của một IFC phụ thuộc vào độ sâu và khả năng liên thông của các lớp dịch vụ ở cấp độ tổ chức, không phải vào quy mô dịch vụ bán lẻ. Trên nền tảng đó, nghiên cứu đề xuất lộ trình ba giai đoạn cho IFC Việt Nam: (1) Chuẩn hóa định danh điện tử (eKYC) cho khách hàng phi cư trú, tài khoản đa tiền tệ và thanh toán xuyên biên giới theo chuẩn ISO 20022 trong giai đoạn 2026 - 2027; (2) Phát triển ngoại hối tổ chức, tài trợ thương mại số và lưu ký số trong giai đoạn 2027 - 2029; (3) Hoàn thiện công nghệ giám sát (SupTech), tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) bán buôn và cơ chế tường lửa tài chính từ năm 2029.
Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính theo hướng hiện đại, an toàn, minh bạch và có khả năng kết nối quốc tế. Trong bối cảnh đó, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số giữ vai trò then chốt; không chỉ hỗ trợ thanh toán, quản lý dòng tiền, giao dịch ngoại hối, tài trợ thương mại, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường tài chính, cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế số.
Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
Xem thêm
Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Bài viết phân tích những định hướng sửa đổi quan trọng của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 7 (IAS 7) về báo cáo lưu chuyển tiền tệ, đồng thời đánh giá tác động đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý trong bối cảnh tăng cường tính minh bạch của báo cáo tài chính.
Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Trong bối cảnh ngành tài chính - ngân hàng chuyển đổi mạnh mẽ dưới tác động của toàn cầu hóa và công nghệ số, đạo đức và lòng tin ngày càng trở thành nền tảng quan trọng đối với quản trị, kiểm soát rủi ro và phát triển bền vững của hệ thống tài chính.
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng gia tăng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng ngày càng cao, những bất cập của pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn.
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại