Kinh tế Việt Nam 2025: Thành tựu bứt phá trên nền tảng điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén

Hoạt động ngân hàng
Năm 2025 khép lại với những dấu ấn tăng trưởng nổi bật của kinh tế Việt Nam, bất chấp bối cảnh quốc tế nhiều biến động. Tăng trưởng GDP vượt 8%, lạm phát được kiểm soát và các cân đối lớn duy trì ổn định đã cho thấy hiệu quả rõ nét của điều hành vĩ mô, trong đó chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén đóng vai trò then chốt, tạo bệ đỡ cho phục hồi và phát triển.
aa

Năm 2025 khép lại một giai đoạn 5 năm (2021 - 2025) đầy biến động của nền kinh tế toàn cầu và trong nước. Thế giới tiếp tục chịu áp lực từ cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột địa chính trị, chiến tranh thương mại và những diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh đó, Việt Nam không chỉ phải ứng phó với các "cú sốc" ngoại sinh, mà còn đối mặt với những thách thức nội tại như thiên tai dồn dập (đặc biệt là mưa lũ tại miền Trung và Bắc Trung Bộ), dịch bệnh trên vật nuôi tái bùng phát, cùng yêu cầu cải cách thể chế mạnh mẽ.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Chính phủ và sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách tài khóa, tiền tệ, nền kinh tế Việt Nam đã ghi nhận một năm "bứt phá toàn diện". Trong đó, chính sách tiền tệ (CSTT) được điều hành chủ động, linh hoạt, nhạy bén đã đóng vai trò then chốt như một "bệ đỡ" vững chắc, góp phần kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối và tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh phục hồi mạnh mẽ.

1. Bức tranh toàn cảnh về những thành tựu nổi bật năm 2025

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế đạt mức cao ấn tượng, vượt xa kỳ vọng, quy mô và sức mạnh kinh tế được nâng tầm

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2025 tăng trưởng 8,02%. Đây không chỉ là mức tăng trưởng vượt mục tiêu đề ra (khoảng 6,5 - 7%), mà còn là mức tăng cao thứ hai trong vòng 15 năm, chỉ sau năm 2022 (8,54%). Điều đáng chú ý là đà tăng trưởng được duy trì liên tục và tăng dần qua các quý: Quý I (+7,05%), Quý II (+8,16%), Quý III (+8,25%) và đỉnh điểm là Quý IV (+8,46%) (Biểu đồ 1). Xu hướng này phản ánh sức bật nội tại ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế, sự phục hồi rộng khắp của các ngành, lĩnh vực sau những hỗ trợ kịp thời từ chính sách (Cục Thống kê, 2025a).

Biểu đồ 1: Tăng trưởng GDP phân theo khu vực kinh tế các quý năm 2025 (%)

Nguồn: Cục Thống kê (2025a). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025
Nguồn: Cục Thống kê (2025a). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025

Quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2025 đạt 12.847,6 nghìn tỉ đồng, tương đương 514 tỉ USD (tăng 38 tỉ USD so với năm 2024). GDP bình quân đầu người đạt mốc 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024 (4.700 USD) (Cục Thống kê, 2025a), phản ánh sự cải thiện rõ rệt về mức sống và thu nhập, qua đó, củng cố vị thế của Việt Nam trong nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp và tiến gần hơn tới ngưỡng thu nhập trung bình cao theo các chuẩn mực quốc tế. Năng suất lao động toàn nền kinh tế (theo giá so sánh) tăng 6,83%, cho thấy chất lượng tăng trưởng đang được cải thiện.

Thứ hai, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực, công nghiệp chế biến - chế tạo và dịch vụ là động lực chính. Trong năm 2025, cơ cấu GDP tiếp tục chuyển dịch theo hướng hiện đại. Khu vực dịch vụ chiếm tỉ trọng 42,75%, đóng góp 51,08% vào mức tăng trưởng chung, với các ngành như bán lẻ, vận tải, logistics và du lịch tăng trưởng vượt trội; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,65%, đóng góp 43,62%. Đặc biệt, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,97% - mức tăng cao nhất kể từ năm 2019, tiếp tục khẳng định vai trò "bệ đỡ" và là động lực tăng trưởng số một. Các ngành sản xuất xe có động cơ (+22%), sản phẩm từ cao su và plastic (+15,7%), hóa chất (+12,4%) dẫn đầu. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tuy chỉ chiếm 11,64% và đóng góp 5,30%, nhưng tiếp tục đóng vai trò trụ đỡ vững chắc, bảo đảm an ninh lương thực, ổn định xã hội và là nguồn cung nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu (Cục Thống kê, 2025a).

Thứ ba, hoạt động xuất, nhập khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) phá kỷ lục. Năm 2025, hoạt động xuất khẩu đạt kỷ lục 475,04 tỉ USD, tăng 17% so với năm 2024. Có tới 36 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỉ USD, trong đó, nhóm hàng điện tử, máy tính và linh kiện vươn lên dẫn đầu với 107,75 tỉ USD (tăng 48,4%), phản ánh sự dịch chuyển sâu hơn của Việt Nam vào chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu; hoạt động nhập khẩu đạt 455,01 tỉ USD, tăng 19,4%, chủ yếu là nguyên liệu, máy móc phục vụ sản xuất trong nước và tái đầu tư mở rộng của khu vực FDI. Xuất siêu duy trì ở mức cao 20,03 tỉ USD, góp phần ổn định cán cân thanh toán, tăng dự trữ ngoại hối; FDI đạt 27,62 tỉ USD, tăng 9% và là mức cao nhất trong 5 năm qua. Điều này minh chứng cho niềm tin vững chắc của nhà đầu tư quốc tế vào môi trường kinh doanh và triển vọng tăng trưởng dài hạn của Việt Nam, bất chấp những thách thức toàn cầu (Cục Thống kê, 2025a).

Thứ tư, ngành thương mại, dịch vụ tăng trưởng tích cực. Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, du lịch nội địa tăng trong năm 2025, đặc biệt trong các sự kiện kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, cùng với sự bứt phá về thu hút khách quốc tế đến Việt Nam đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng của ngành thương mại, dịch vụ trong năm 2025. Theo số liệu công bố của Cục thống kê (2025a), tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 9,2% so với năm trước (năm 2024 tăng 8,9%) nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,7% (tương đương mức tăng năm 2024) (Biểu đồ 2), cho thấy sự tăng trưởng tích cực từ ngành thương mại và dịch vụ.

Biểu đồ 2. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành các năm 2021 - 2025

Nguồn: Cục Thống kê, 2025a.
Nguồn: Cục Thống kê, 2025a.

Thứ năm, lạm phát được kiểm soát hiệu quả, ổn định kinh tế vĩ mô được giữ vững. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2025 chỉ tăng 3,31%, nằm trong mục tiêu kiểm soát dưới 4,5% do Quốc hội đề ra. Đây là một thành tựu quan trọng trong bối cảnh thế giới vẫn tiềm ẩn áp lực lạm phát và giá nguyên vật liệu đầu vào biến động. Việc kiểm soát tốt lạm phát đã giúp bảo vệ sức mua của người dân, tạo môi trường ổn định cho các doanh nghiệp hoạch định sản xuất, kinh doanh.

Thứ sáu, thị trường tài chính - ngân hàng phát triển ổn định, lành mạnh. Với tăng trưởng tín dụng đạt 17,87%, kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế phục hồi và mở rộng sản xuất; lãi suất được duy trì ở mức thấp phù hợp, tạo điều kiện tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và người dân; thị trường chứng khoán bùng nổ: Chỉ số VNIndex tăng 40,9%, mức vốn hóa thị trường tăng 39,1%, phản ánh dòng tiền mạnh mẽ và kỳ vọng tích cực của nhà đầu tư vào triển vọng doanh nghiệp và nền kinh tế; tỉ giá được điều hành linh hoạt, cơ bản ổn định, góp phần ổn định thị trường ngoại hối và tâm lý.

Thứ bảy, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Tính chung cả năm 2025, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỉ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 24,94 tỉ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 29,43 tỉ USD, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 49,46 tỉ USD (Cục Thống kê, 2025a); cán cân thanh toán tổng thể kỳ vọng thặng dư kỷ lục. Động lực quan trọng tạo nên bức tranh tươi sáng của năm 2025 xuất phát từ sự đảo chiều của cán cân thanh toán tổng thể (BOP), với mức thặng dư dự phòng đạt con số 47,8 tỉ USD (VPBank Securities, 2025).

Đối với ngân sách nhà nước: Tổng thu đạt 134,7% dự toán, tăng 29,7% so với năm trước; tổng chi đạt 93,2% dự toán, tăng 31,2% so với năm trước, bảo đảm các nhiệm vụ chi quan trọng cho đầu tư phát triển, an sinh xã hội và phòng chống thiên tai (Cục Thống kê, 2025a).

2. Vai trò then chốt của CSTT

Thành tựu ấn tượng nêu trên có sự đóng góp không nhỏ của việc điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, thận trọng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Năm 2025, CSTT được triển khai theo hướng "nới lỏng có kiểm soát, hỗ trợ tăng trưởng nhưng không châm ngòi lạm phát", cụ thể như sau:

(1) Điều hành lãi suất linh hoạt, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn. NHNN duy trì khung lãi suất điều hành ở mức thấp, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp tục giảm lãi suất cho vay. Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức khoảng 3,9%/năm, thấp hơn mức trần 4,0%/năm theo quy định. Lãi suất cho vay bình quân chung ở mức 6,6% - 8,9%/năm (VietnamFDI, 2025). Chính sách lãi suất thấp, ổn định đã góp phần giảm đáng kể chi phí vốn, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, người dân vay vốn tiêu dùng và mua nhà, từ đó thúc đẩy tổng cầu nội địa.

(2) Quản lý tỉ giá ổn định, hỗ trợ xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư. Trong bối cảnh đồng USD trên thế giới biến động mạnh do chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), NHNN đã điều hành tỉ giá trung tâm một cách phù hợp, can thiệp thị trường ngoại hối linh hoạt thông qua các công cụ như hoán đổi ngoại tệ, bán ngoại tệ. Tỉ giá trung tâm USD/VND cuối năm 2025 ở mức 25.121 đồng, tăng 3,23% so với cuối 2024 (Cục Thống kê, 2025a) - mức tăng có kiểm soát, phù hợp với biến động thị trường và lạm phát mục tiêu. Việc giữ cho tỉ giá ổn định, không gây sốc đã: (i) Hỗ trợ xuất khẩu: Tạo sự ổn định cho các hợp đồng xuất khẩu, bảo vệ lợi nhuận của doanh nghiệp. (ii) Kiểm soát lạm phát nhập khẩu: Hạn chế áp lực tăng giá hàng hóa nhập khẩu. (iii) Thu hút FDI và kiều hối: Củng cố niềm tin của nhà đầu tư và kiều bào về sự ổn định của đồng tiền Việt Nam.

(3) Điều tiết thanh khoản thông minh, bảo đảm an toàn hệ thống. NHNN đã điều tiết thanh khoản một cách chủ động thông qua các nghiệp vụ thị trường mở (OMO), tái cấp vốn, nhằm bảo đảm hệ thống ngân hàng luôn có đủ thanh khoản đáp ứng nhu cầu vay vốn của nền kinh tế, đồng thời kiểm soát rủi ro. Tính đến ngày 22/12/2025, tổng phương tiện thanh toán tăng 14,98% so với cuối năm 2024 (cùng thời điểm năm trước tăng 9,15%); huy động vốn của các TCTD tăng 13,68% (cùng thời điểm năm trước tăng 8,79%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 17,87% (cùng thời điểm năm trước tăng 13,4%) (Cục Thống kê, 2025a; Tạp chí Ngân hàng, 2025) - mức tăng cao hơn hẳn cùng kỳ năm trước, phản ánh sự phục hồi mạnh mẽ của hoạt động huy động và tín dụng.

(4) Thúc đẩy tín dụng chính sách xã hội và tài chính toàn diện. Tính đến cuối năm 2025, tổng dư nợ tín dụng chính sách xã hội đạt trên 414,9 nghìn tỉ đồng, tăng 12,5%, với hơn 6,7 triệu hộ nghèo, cận nghèo và đối tượng chính sách được tiếp cận vốn vay ưu đãi. Chính sách này góp phần thiết thực vào việc thực hiện an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế nông thôn (Cục Thống kê, 2025a).

(5) Giám sát chặt chẽ, kiểm soát rủi ro, bảo đảm an toàn hệ thống. Bên cạnh các biện pháp hỗ trợ tăng trưởng, NHNN tăng cường giám sát, cảnh báo sớm và kiểm soát rủi ro trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt là rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Điều này góp phần duy trì sự lành mạnh, an toàn của hệ thống ngân hàng - huyết mạch của nền kinh tế.

3. Một số hạn chế, thách thức và bài học kinh nghiệm

(1) Hạn chế và thách thức

Bên cạnh những thành tựu đạt được, kinh tế Việt Nam năm 2025 vẫn còn những hạn chế, thách thức như: Phụ thuộc lớn vào khu vực FDI và xuất khẩu, trong khi khu vực kinh tế trong nước (chiếm 22,7% xuất khẩu) tăng trưởng chậm hơn, thậm chí xuất khẩu giảm 6,1% (Tạp chí Kinh tế - Tài chính, 2026); năng suất lao động tuy được cải thiện nhưng vẫn còn khoảng cách so với các nước trong khu vực; tỉ lệ lao động phi chính thức còn cao (63,1%), phản ánh tính dễ tổn thương của thị trường lao động (Cục Thống kê, 2025b), đặc biệt, áp lực từ biến đổi khí hậu và thiên tai ngày càng khốc liệt, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản, khoảng 98.677 tỉ đồng năm 2025 (Tạp chí điện tử Thiên nhiên và Môi trường, 2025).

(2) Bài học kinh nghiệm từ điều hành chính sách

Từ những kết quả đạt được và những hạn chế, thách thức, có thể rút ra bài học kinh nghiệm từ điều hành chính sách như: (1) Cần xem sự phối hợp chặt chẽ giữa CSTT và tài khóa là then chốt. CSTT linh hoạt tạo điều kiện về vốn, trong khi chính sách tài khóa (như hỗ trợ thuế, giải ngân đầu tư công) tạo ra cầu và dẫn dắt đầu tư; (2) Điều hành chính sách cần chủ động, nhạy bén, dự báo và có kịch bản ứng phó với các "cú sốc" bên ngoài. Việc NHNN chủ động can thiệp thị trường ngoại hối, điều tiết thanh khoản đã giúp giảm thiểu tác động tiêu cực; (3) Cần ưu tiên ổn định vĩ mô làm nền tảng cho tăng trưởng. Kiểm soát thành công lạm phát và ổn định tỉ giá là tiền đề để các chính sách hỗ trợ tăng trưởng phát huy hiệu quả lâu dài; (4) Cần tiếp tục cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh để khơi thông nguồn lực nội sinh, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.

4. Định hướng chính sách năm 2026

Năm 2026 mở ra một giai đoạn phát triển mới với mục tiêu "duy trì tăng trưởng cao, bền vững đi đôi với củng cố vững chắc nền tảng ổn định vĩ mô". Để hiện thực hóa mục tiêu này, việc tiếp tục phát huy hiệu quả của CSTT là vô cùng quan trọng, vì thế cần có định hướng điều hành CSTT và tăng cường phối hợp CSTT với các chính sách vĩ mô khác:

(1) Định hướng điều hành CSTT

Năm 2026, cần tiếp tục điều hành CSTT linh hoạt, thận trọng, điều chỉnh phù hợp với diễn biến lạm phát trong nước, CSTT của các nước lớn và tình hình tăng trưởng thực tế. Ưu tiên hàng đầu vẫn là kiểm soát lạm phát ở mức mục tiêu (lạm phát bình quân khoảng 4,5%); cần tập trung vào chất lượng tăng trưởng tín dụng, định hướng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, các dự án hiệu quả, công nghệ cao, xanh, bền vững, kiểm soát chặt tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi cao; cần tiếp tục điều hành tỉ giá linh hoạt, can thiệp kịp thời khi cần, tăng cường dự trữ ngoại hối. Chuẩn bị các kịch bản ứng phó với biến động thị trường tài chính toàn cầu để ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối trong nước. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống TCTD gắn với xử lý nợ xấu, tăng cường năng lực tài chính, quản trị rủi ro của các ngân hàng, tạo nền tảng vững chắc cho hệ thống.

(2) Phối hợp CSTT với các chính sách vĩ mô khác

Trong năm 2016, cần phối hợp CSTT với các chính sách vĩ mô khác để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao hiệu quả điều hành và truyền dẫn CSTT, cụ thể:

- Phối hợp với chính sách tài khóa để đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, nhất là các dự án trọng điểm quốc gia, tạo hiệu ứng lan tỏa; có giải pháp tháo gỡ vướng mắc, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài, góp phần nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng cơ chế hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài có chọn lọc, trong một số lĩnh vực có tiềm năng, tạo sự bứt phá, động lực mới cho tăng trưởng như chíp, bán dẫn, đổi mới sáng tạo, hydrogen xanh... Sử dụng chính sách thuế linh hoạt để hỗ trợ doanh nghiệp.

- Phối hợp với chính sách cơ cấu để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng hiện đại hóa, phát triển theo chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm các ngành công nghiệp có lợi thế. Ưu tiên phát triển, làm chủ công nghệ mới, các ngành, lĩnh vực công nghiệp mới nổi như chíp, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, xanh, bền vững. Ưu tiên tín dụng cho các ngành công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp công nghệ cao.

5. Kết luận

Năm 2025, nền kinh tế Việt Nam đã có một kỳ tích tăng trưởng ấn tượng, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc trong năng lực điều hành vĩ mô, đặc biệt là CSTT. Thành công này là nền tảng vững chắc và là động lực mạnh mẽ để Việt Nam bước vào năm 2026 với tâm thế tự tin, quyết tâm cao. Với sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị, sự năng động của cộng đồng doanh nghiệp và sức sáng tạo của người dân, dưới sự dẫn dắt của các chính sách vĩ mô thông minh và nhạy bén, Việt Nam hoàn toàn có khả năng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao, chất lượng, bền vững, từng bước hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Tài liệu tham khảo:

1. Cục Thống kê (2025a). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025. https://www.gso.gov.vn

2. Cục Thống kê (2025b). Thông cáo báo chí tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-dan-so-lao-dong-viec-lam-quy-iv-va-nam-2025/

3. Tạp chí điện tử Thiên nhiên và Môi trường (2025). Thiên tai gây thiệt hại gần 98.700 tỉ đồng trong năm 2025. https://thiennhienmoitruong.vn/thien-tai-gay-thiet-hai-gan-98-700-ty-dong-trong-nam-2025.html

4. Tạp chí Kinh tế - Tài chính (2026). Xuất nhập khẩu năm 2025 tăng trưởng mạnh, xuất siêu hơn 20 tỉ USD. https://tapchikinhtetaichinh.vn/xuat-nhap-khau-nam-2025-tang-truong-manh-xuat-sieu-hon-20-ty-usd-137782.html

5. Tạp chí Ngân hàng (2025). CSTT góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế năm 2025. https://tapchinganhang.gov.vn/chinh-sach-tien-te-gop-phan-quan-trong-trong-tang-truong-kinh-te-nam-2025-16875.html

6. VietnamFDI (2025). Lãi suất cho vay lĩnh vực ưu tiên giữ ở 3,9%/năm, thấp hơn trần quy định. https://vietnamfdi.vn/lai-suat-cho-vay-linh-vuc-uu-tien-giu-o-3-9-nam-thap-hon-tran-quy-dinh-17_121692.html

7. VPBank Securities (2025). Triển vọng 2026.

Nhật Trung

Tin bài khác

ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

Bài viết phân tích thực trạng triển khai tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) tại các ngân hàng Việt Nam, làm rõ tác động của ESG đối với hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển ngân hàng bền vững và tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu của ngành Ngân hàng, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đang khẳng định vai trò hạt nhân trong việc kết nối, phát triển nền tảng số dùng chung và hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nâng cao năng lực quản trị, mở rộng dịch vụ tài chính số, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển bền vững khu vực kinh tế hợp tác.
Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Ngày 03/7/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức Hội nghị Sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị nhằm sơ kết, đánh giá những kết quả trong điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời nhận diện những cơ hội, thách thức, khó khăn, đề ra giải pháp, định hướng thời gian tới. Thống đốc Phạm Đức Ấn và Ban Lãnh đạo NHNN điều hành Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có lãnh đạo các đơn vị Vụ, Cục thuộc NHNN, lãnh đạo các tổ chức, Hiệp hội trong Ngành, các tổ chức tín dụng (TCTD) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới điểm cầu NHNN chi nhánh các khu vực.
Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Những tháng đầu năm 2026, nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng, thúc đẩy tín dụng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ngành Ngân hàng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp và đạt được những kết quả tích cực. Tính đến ngày 29/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 20 triệu tỉ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025. Về cơ bản, cơ cấu tín dụng theo đúng định hướng, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong đó cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế. Vốn tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
Ngân hàng Phong cách sống: Phân tích so sánh các mô hình toàn cầu và hàm ý chiến lược cho thị trường Việt Nam

Ngân hàng Phong cách sống: Phân tích so sánh các mô hình toàn cầu và hàm ý chiến lược cho thị trường Việt Nam

Bài viết phân tích sự chuyển dịch của ngành Ngân hàng từ mô hình cung cấp sản phẩm sang xây dựng hệ sinh thái số gắn với phong cách sống, làm rõ các mô hình tiêu biểu trên thế giới và đề xuất những hàm ý chiến lược giúp ngân hàng thương mại Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.
Xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững tại Việt Nam

Xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững tại Việt Nam

Bài viết đề xuất bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững gồm 06 trụ cột và 18 chỉ tiêu thành phần, góp phần cung cấp công cụ đo lường toàn diện phục vụ chuyển đổi số ngành Ngân hàng theo hướng an toàn và bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giám sát ngân hàng thông qua trắc lượng thư mục bằng phần mềm VOSviewer

Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giám sát ngân hàng thông qua trắc lượng thư mục bằng phần mềm VOSviewer

Bài viết này sử dụng phương pháp trắc lượng thư mục với công cụ VOSviewer 1.6.20 để tổng quan và phân tích về hoạt động giám sát ngân hàng giai đoạn 2010 - 2025, qua đó làm rõ xu hướng phát triển, các chủ đề nghiên cứu trọng tâm và mạng lưới học thuật quốc tế trong lĩnh vực này.
Xem thêm
Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Bài viết phân tích thực trạng an toàn tài chính vĩ mô tại Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời đề xuất các giải pháp củng cố nền tảng tài chính, nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế và hướng tới tăng trưởng bền vững.
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam