Kinh tế Việt Nam 2025: Thành tựu bứt phá trên nền tảng điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén

Hoạt động ngân hàng
Năm 2025 khép lại với những dấu ấn tăng trưởng nổi bật của kinh tế Việt Nam, bất chấp bối cảnh quốc tế nhiều biến động. Tăng trưởng GDP vượt 8%, lạm phát được kiểm soát và các cân đối lớn duy trì ổn định đã cho thấy hiệu quả rõ nét của điều hành vĩ mô, trong đó chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén đóng vai trò then chốt, tạo bệ đỡ cho phục hồi và phát triển.
aa

Năm 2025 khép lại một giai đoạn 5 năm (2021 - 2025) đầy biến động của nền kinh tế toàn cầu và trong nước. Thế giới tiếp tục chịu áp lực từ cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột địa chính trị, chiến tranh thương mại và những diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh đó, Việt Nam không chỉ phải ứng phó với các "cú sốc" ngoại sinh, mà còn đối mặt với những thách thức nội tại như thiên tai dồn dập (đặc biệt là mưa lũ tại miền Trung và Bắc Trung Bộ), dịch bệnh trên vật nuôi tái bùng phát, cùng yêu cầu cải cách thể chế mạnh mẽ.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Chính phủ và sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách tài khóa, tiền tệ, nền kinh tế Việt Nam đã ghi nhận một năm "bứt phá toàn diện". Trong đó, chính sách tiền tệ (CSTT) được điều hành chủ động, linh hoạt, nhạy bén đã đóng vai trò then chốt như một "bệ đỡ" vững chắc, góp phần kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối và tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh phục hồi mạnh mẽ.

1. Bức tranh toàn cảnh về những thành tựu nổi bật năm 2025

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế đạt mức cao ấn tượng, vượt xa kỳ vọng, quy mô và sức mạnh kinh tế được nâng tầm

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2025 tăng trưởng 8,02%. Đây không chỉ là mức tăng trưởng vượt mục tiêu đề ra (khoảng 6,5 - 7%), mà còn là mức tăng cao thứ hai trong vòng 15 năm, chỉ sau năm 2022 (8,54%). Điều đáng chú ý là đà tăng trưởng được duy trì liên tục và tăng dần qua các quý: Quý I (+7,05%), Quý II (+8,16%), Quý III (+8,25%) và đỉnh điểm là Quý IV (+8,46%) (Biểu đồ 1). Xu hướng này phản ánh sức bật nội tại ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế, sự phục hồi rộng khắp của các ngành, lĩnh vực sau những hỗ trợ kịp thời từ chính sách (Cục Thống kê, 2025a).

Biểu đồ 1: Tăng trưởng GDP phân theo khu vực kinh tế các quý năm 2025 (%)

Nguồn: Cục Thống kê (2025a). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025
Nguồn: Cục Thống kê (2025a). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025

Quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2025 đạt 12.847,6 nghìn tỉ đồng, tương đương 514 tỉ USD (tăng 38 tỉ USD so với năm 2024). GDP bình quân đầu người đạt mốc 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024 (4.700 USD) (Cục Thống kê, 2025a), phản ánh sự cải thiện rõ rệt về mức sống và thu nhập, qua đó, củng cố vị thế của Việt Nam trong nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp và tiến gần hơn tới ngưỡng thu nhập trung bình cao theo các chuẩn mực quốc tế. Năng suất lao động toàn nền kinh tế (theo giá so sánh) tăng 6,83%, cho thấy chất lượng tăng trưởng đang được cải thiện.

Thứ hai, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực, công nghiệp chế biến - chế tạo và dịch vụ là động lực chính. Trong năm 2025, cơ cấu GDP tiếp tục chuyển dịch theo hướng hiện đại. Khu vực dịch vụ chiếm tỉ trọng 42,75%, đóng góp 51,08% vào mức tăng trưởng chung, với các ngành như bán lẻ, vận tải, logistics và du lịch tăng trưởng vượt trội; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,65%, đóng góp 43,62%. Đặc biệt, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,97% - mức tăng cao nhất kể từ năm 2019, tiếp tục khẳng định vai trò "bệ đỡ" và là động lực tăng trưởng số một. Các ngành sản xuất xe có động cơ (+22%), sản phẩm từ cao su và plastic (+15,7%), hóa chất (+12,4%) dẫn đầu. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tuy chỉ chiếm 11,64% và đóng góp 5,30%, nhưng tiếp tục đóng vai trò trụ đỡ vững chắc, bảo đảm an ninh lương thực, ổn định xã hội và là nguồn cung nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu (Cục Thống kê, 2025a).

Thứ ba, hoạt động xuất, nhập khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) phá kỷ lục. Năm 2025, hoạt động xuất khẩu đạt kỷ lục 475,04 tỉ USD, tăng 17% so với năm 2024. Có tới 36 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỉ USD, trong đó, nhóm hàng điện tử, máy tính và linh kiện vươn lên dẫn đầu với 107,75 tỉ USD (tăng 48,4%), phản ánh sự dịch chuyển sâu hơn của Việt Nam vào chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu; hoạt động nhập khẩu đạt 455,01 tỉ USD, tăng 19,4%, chủ yếu là nguyên liệu, máy móc phục vụ sản xuất trong nước và tái đầu tư mở rộng của khu vực FDI. Xuất siêu duy trì ở mức cao 20,03 tỉ USD, góp phần ổn định cán cân thanh toán, tăng dự trữ ngoại hối; FDI đạt 27,62 tỉ USD, tăng 9% và là mức cao nhất trong 5 năm qua. Điều này minh chứng cho niềm tin vững chắc của nhà đầu tư quốc tế vào môi trường kinh doanh và triển vọng tăng trưởng dài hạn của Việt Nam, bất chấp những thách thức toàn cầu (Cục Thống kê, 2025a).

Thứ tư, ngành thương mại, dịch vụ tăng trưởng tích cực. Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, du lịch nội địa tăng trong năm 2025, đặc biệt trong các sự kiện kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, cùng với sự bứt phá về thu hút khách quốc tế đến Việt Nam đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng của ngành thương mại, dịch vụ trong năm 2025. Theo số liệu công bố của Cục thống kê (2025a), tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 9,2% so với năm trước (năm 2024 tăng 8,9%) nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,7% (tương đương mức tăng năm 2024) (Biểu đồ 2), cho thấy sự tăng trưởng tích cực từ ngành thương mại và dịch vụ.

Biểu đồ 2. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành các năm 2021 - 2025

Nguồn: Cục Thống kê, 2025a.
Nguồn: Cục Thống kê, 2025a.

Thứ năm, lạm phát được kiểm soát hiệu quả, ổn định kinh tế vĩ mô được giữ vững. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2025 chỉ tăng 3,31%, nằm trong mục tiêu kiểm soát dưới 4,5% do Quốc hội đề ra. Đây là một thành tựu quan trọng trong bối cảnh thế giới vẫn tiềm ẩn áp lực lạm phát và giá nguyên vật liệu đầu vào biến động. Việc kiểm soát tốt lạm phát đã giúp bảo vệ sức mua của người dân, tạo môi trường ổn định cho các doanh nghiệp hoạch định sản xuất, kinh doanh.

Thứ sáu, thị trường tài chính - ngân hàng phát triển ổn định, lành mạnh. Với tăng trưởng tín dụng đạt 17,87%, kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế phục hồi và mở rộng sản xuất; lãi suất được duy trì ở mức thấp phù hợp, tạo điều kiện tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và người dân; thị trường chứng khoán bùng nổ: Chỉ số VNIndex tăng 40,9%, mức vốn hóa thị trường tăng 39,1%, phản ánh dòng tiền mạnh mẽ và kỳ vọng tích cực của nhà đầu tư vào triển vọng doanh nghiệp và nền kinh tế; tỉ giá được điều hành linh hoạt, cơ bản ổn định, góp phần ổn định thị trường ngoại hối và tâm lý.

Thứ bảy, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Tính chung cả năm 2025, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỉ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 24,94 tỉ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 29,43 tỉ USD, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 49,46 tỉ USD (Cục Thống kê, 2025a); cán cân thanh toán tổng thể kỳ vọng thặng dư kỷ lục. Động lực quan trọng tạo nên bức tranh tươi sáng của năm 2025 xuất phát từ sự đảo chiều của cán cân thanh toán tổng thể (BOP), với mức thặng dư dự phòng đạt con số 47,8 tỉ USD (VPBank Securities, 2025).

Đối với ngân sách nhà nước: Tổng thu đạt 134,7% dự toán, tăng 29,7% so với năm trước; tổng chi đạt 93,2% dự toán, tăng 31,2% so với năm trước, bảo đảm các nhiệm vụ chi quan trọng cho đầu tư phát triển, an sinh xã hội và phòng chống thiên tai (Cục Thống kê, 2025a).

2. Vai trò then chốt của CSTT

Thành tựu ấn tượng nêu trên có sự đóng góp không nhỏ của việc điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, thận trọng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Năm 2025, CSTT được triển khai theo hướng "nới lỏng có kiểm soát, hỗ trợ tăng trưởng nhưng không châm ngòi lạm phát", cụ thể như sau:

(1) Điều hành lãi suất linh hoạt, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn. NHNN duy trì khung lãi suất điều hành ở mức thấp, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp tục giảm lãi suất cho vay. Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức khoảng 3,9%/năm, thấp hơn mức trần 4,0%/năm theo quy định. Lãi suất cho vay bình quân chung ở mức 6,6% - 8,9%/năm (VietnamFDI, 2025). Chính sách lãi suất thấp, ổn định đã góp phần giảm đáng kể chi phí vốn, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, người dân vay vốn tiêu dùng và mua nhà, từ đó thúc đẩy tổng cầu nội địa.

(2) Quản lý tỉ giá ổn định, hỗ trợ xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư. Trong bối cảnh đồng USD trên thế giới biến động mạnh do chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), NHNN đã điều hành tỉ giá trung tâm một cách phù hợp, can thiệp thị trường ngoại hối linh hoạt thông qua các công cụ như hoán đổi ngoại tệ, bán ngoại tệ. Tỉ giá trung tâm USD/VND cuối năm 2025 ở mức 25.121 đồng, tăng 3,23% so với cuối 2024 (Cục Thống kê, 2025a) - mức tăng có kiểm soát, phù hợp với biến động thị trường và lạm phát mục tiêu. Việc giữ cho tỉ giá ổn định, không gây sốc đã: (i) Hỗ trợ xuất khẩu: Tạo sự ổn định cho các hợp đồng xuất khẩu, bảo vệ lợi nhuận của doanh nghiệp. (ii) Kiểm soát lạm phát nhập khẩu: Hạn chế áp lực tăng giá hàng hóa nhập khẩu. (iii) Thu hút FDI và kiều hối: Củng cố niềm tin của nhà đầu tư và kiều bào về sự ổn định của đồng tiền Việt Nam.

(3) Điều tiết thanh khoản thông minh, bảo đảm an toàn hệ thống. NHNN đã điều tiết thanh khoản một cách chủ động thông qua các nghiệp vụ thị trường mở (OMO), tái cấp vốn, nhằm bảo đảm hệ thống ngân hàng luôn có đủ thanh khoản đáp ứng nhu cầu vay vốn của nền kinh tế, đồng thời kiểm soát rủi ro. Tính đến ngày 22/12/2025, tổng phương tiện thanh toán tăng 14,98% so với cuối năm 2024 (cùng thời điểm năm trước tăng 9,15%); huy động vốn của các TCTD tăng 13,68% (cùng thời điểm năm trước tăng 8,79%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 17,87% (cùng thời điểm năm trước tăng 13,4%) (Cục Thống kê, 2025a; Tạp chí Ngân hàng, 2025) - mức tăng cao hơn hẳn cùng kỳ năm trước, phản ánh sự phục hồi mạnh mẽ của hoạt động huy động và tín dụng.

(4) Thúc đẩy tín dụng chính sách xã hội và tài chính toàn diện. Tính đến cuối năm 2025, tổng dư nợ tín dụng chính sách xã hội đạt trên 414,9 nghìn tỉ đồng, tăng 12,5%, với hơn 6,7 triệu hộ nghèo, cận nghèo và đối tượng chính sách được tiếp cận vốn vay ưu đãi. Chính sách này góp phần thiết thực vào việc thực hiện an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế nông thôn (Cục Thống kê, 2025a).

(5) Giám sát chặt chẽ, kiểm soát rủi ro, bảo đảm an toàn hệ thống. Bên cạnh các biện pháp hỗ trợ tăng trưởng, NHNN tăng cường giám sát, cảnh báo sớm và kiểm soát rủi ro trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt là rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Điều này góp phần duy trì sự lành mạnh, an toàn của hệ thống ngân hàng - huyết mạch của nền kinh tế.

3. Một số hạn chế, thách thức và bài học kinh nghiệm

(1) Hạn chế và thách thức

Bên cạnh những thành tựu đạt được, kinh tế Việt Nam năm 2025 vẫn còn những hạn chế, thách thức như: Phụ thuộc lớn vào khu vực FDI và xuất khẩu, trong khi khu vực kinh tế trong nước (chiếm 22,7% xuất khẩu) tăng trưởng chậm hơn, thậm chí xuất khẩu giảm 6,1% (Tạp chí Kinh tế - Tài chính, 2026); năng suất lao động tuy được cải thiện nhưng vẫn còn khoảng cách so với các nước trong khu vực; tỉ lệ lao động phi chính thức còn cao (63,1%), phản ánh tính dễ tổn thương của thị trường lao động (Cục Thống kê, 2025b), đặc biệt, áp lực từ biến đổi khí hậu và thiên tai ngày càng khốc liệt, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản, khoảng 98.677 tỉ đồng năm 2025 (Tạp chí điện tử Thiên nhiên và Môi trường, 2025).

(2) Bài học kinh nghiệm từ điều hành chính sách

Từ những kết quả đạt được và những hạn chế, thách thức, có thể rút ra bài học kinh nghiệm từ điều hành chính sách như: (1) Cần xem sự phối hợp chặt chẽ giữa CSTT và tài khóa là then chốt. CSTT linh hoạt tạo điều kiện về vốn, trong khi chính sách tài khóa (như hỗ trợ thuế, giải ngân đầu tư công) tạo ra cầu và dẫn dắt đầu tư; (2) Điều hành chính sách cần chủ động, nhạy bén, dự báo và có kịch bản ứng phó với các "cú sốc" bên ngoài. Việc NHNN chủ động can thiệp thị trường ngoại hối, điều tiết thanh khoản đã giúp giảm thiểu tác động tiêu cực; (3) Cần ưu tiên ổn định vĩ mô làm nền tảng cho tăng trưởng. Kiểm soát thành công lạm phát và ổn định tỉ giá là tiền đề để các chính sách hỗ trợ tăng trưởng phát huy hiệu quả lâu dài; (4) Cần tiếp tục cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh để khơi thông nguồn lực nội sinh, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.

4. Định hướng chính sách năm 2026

Năm 2026 mở ra một giai đoạn phát triển mới với mục tiêu "duy trì tăng trưởng cao, bền vững đi đôi với củng cố vững chắc nền tảng ổn định vĩ mô". Để hiện thực hóa mục tiêu này, việc tiếp tục phát huy hiệu quả của CSTT là vô cùng quan trọng, vì thế cần có định hướng điều hành CSTT và tăng cường phối hợp CSTT với các chính sách vĩ mô khác:

(1) Định hướng điều hành CSTT

Năm 2026, cần tiếp tục điều hành CSTT linh hoạt, thận trọng, điều chỉnh phù hợp với diễn biến lạm phát trong nước, CSTT của các nước lớn và tình hình tăng trưởng thực tế. Ưu tiên hàng đầu vẫn là kiểm soát lạm phát ở mức mục tiêu (lạm phát bình quân khoảng 4,5%); cần tập trung vào chất lượng tăng trưởng tín dụng, định hướng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, các dự án hiệu quả, công nghệ cao, xanh, bền vững, kiểm soát chặt tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi cao; cần tiếp tục điều hành tỉ giá linh hoạt, can thiệp kịp thời khi cần, tăng cường dự trữ ngoại hối. Chuẩn bị các kịch bản ứng phó với biến động thị trường tài chính toàn cầu để ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối trong nước. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống TCTD gắn với xử lý nợ xấu, tăng cường năng lực tài chính, quản trị rủi ro của các ngân hàng, tạo nền tảng vững chắc cho hệ thống.

(2) Phối hợp CSTT với các chính sách vĩ mô khác

Trong năm 2016, cần phối hợp CSTT với các chính sách vĩ mô khác để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao hiệu quả điều hành và truyền dẫn CSTT, cụ thể:

- Phối hợp với chính sách tài khóa để đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, nhất là các dự án trọng điểm quốc gia, tạo hiệu ứng lan tỏa; có giải pháp tháo gỡ vướng mắc, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài, góp phần nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng cơ chế hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài có chọn lọc, trong một số lĩnh vực có tiềm năng, tạo sự bứt phá, động lực mới cho tăng trưởng như chíp, bán dẫn, đổi mới sáng tạo, hydrogen xanh... Sử dụng chính sách thuế linh hoạt để hỗ trợ doanh nghiệp.

- Phối hợp với chính sách cơ cấu để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng hiện đại hóa, phát triển theo chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm các ngành công nghiệp có lợi thế. Ưu tiên phát triển, làm chủ công nghệ mới, các ngành, lĩnh vực công nghiệp mới nổi như chíp, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, xanh, bền vững. Ưu tiên tín dụng cho các ngành công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp công nghệ cao.

5. Kết luận

Năm 2025, nền kinh tế Việt Nam đã có một kỳ tích tăng trưởng ấn tượng, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc trong năng lực điều hành vĩ mô, đặc biệt là CSTT. Thành công này là nền tảng vững chắc và là động lực mạnh mẽ để Việt Nam bước vào năm 2026 với tâm thế tự tin, quyết tâm cao. Với sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị, sự năng động của cộng đồng doanh nghiệp và sức sáng tạo của người dân, dưới sự dẫn dắt của các chính sách vĩ mô thông minh và nhạy bén, Việt Nam hoàn toàn có khả năng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao, chất lượng, bền vững, từng bước hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Tài liệu tham khảo:

1. Cục Thống kê (2025a). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025. https://www.gso.gov.vn

2. Cục Thống kê (2025b). Thông cáo báo chí tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-dan-so-lao-dong-viec-lam-quy-iv-va-nam-2025/

3. Tạp chí điện tử Thiên nhiên và Môi trường (2025). Thiên tai gây thiệt hại gần 98.700 tỉ đồng trong năm 2025. https://thiennhienmoitruong.vn/thien-tai-gay-thiet-hai-gan-98-700-ty-dong-trong-nam-2025.html

4. Tạp chí Kinh tế - Tài chính (2026). Xuất nhập khẩu năm 2025 tăng trưởng mạnh, xuất siêu hơn 20 tỉ USD. https://tapchikinhtetaichinh.vn/xuat-nhap-khau-nam-2025-tang-truong-manh-xuat-sieu-hon-20-ty-usd-137782.html

5. Tạp chí Ngân hàng (2025). CSTT góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế năm 2025. https://tapchinganhang.gov.vn/chinh-sach-tien-te-gop-phan-quan-trong-trong-tang-truong-kinh-te-nam-2025-16875.html

6. VietnamFDI (2025). Lãi suất cho vay lĩnh vực ưu tiên giữ ở 3,9%/năm, thấp hơn trần quy định. https://vietnamfdi.vn/lai-suat-cho-vay-linh-vuc-uu-tien-giu-o-3-9-nam-thap-hon-tran-quy-dinh-17_121692.html

7. VPBank Securities (2025). Triển vọng 2026.

Nhật Trung

Tin bài khác

Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Năm 2025, bám sát đường lối, chủ trương hội nhập quốc tế mới của Đảng và Chính phủ, với cách tiếp cận chủ động, linh hoạt và mềm dẻo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thúc đẩy hiệu quả, toàn diện các kênh đối ngoại và hội nhập quốc tế trên cả bình diện đa phương, song phương cũng như trong hợp tác với các tổ chức tài chính, tiền tệ, ngân hàng quốc tế.
Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Bài viết phân tích yêu cầu đột phá phát triển nguồn nhân lực số của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới, làm rõ những bước đi chiến lược về thể chế, đào tạo và làm chủ công nghệ nhằm hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số toàn diện và phát triển bền vững.
Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Bài viết khái quát bức tranh hoạt động ngân hàng tại Khu vực 2 năm 2025 trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động, làm rõ những kết quả nổi bật về tăng trưởng tín dụng, ổn định lãi suất, cải cách hành chính và chuyển đổi số, đồng thời định hướng vai trò đồng hành của hệ thống ngân hàng với các động lực tăng trưởng mới trong giai đoạn tới.
Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Những điểm nhấn năm 2025

Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Những điểm nhấn năm 2025

Năm 2025, trong bối cảnh toàn ngành Ngân hàng tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam đã bám sát sự lãnh đạo của Đảng ủy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam triển khai đồng bộ, hiệu quả các mặt công tác; qua đó, tiếp tục khẳng định vai trò là chỗ dựa tin cậy của đoàn viên, người lao động, đồng thời lan tỏa mạnh mẽ trách nhiệm xã hội của Ngành.
Hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân: Cơ hội và triển vọng phát triển

Hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân: Cơ hội và triển vọng phát triển

Trong thời gian qua, hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) đã cơ bản duy trì hoạt động ổn định, an toàn, phát huy tốt vai trò là kênh cung ứng vốn hiệu quả cho khu vực kinh tế hộ gia đình, cá nhân và sản xuất - kinh doanh quy mô nhỏ tại địa phương. Thông qua việc bám sát địa bàn, phục vụ linh hoạt và lấy thành viên làm trung tâm, QTDND đã góp phần tích cực hỗ trợ phát triển kinh tế cơ sở, thúc đẩy tài chính toàn diện và ổn định an sinh xã hội địa phương.
Vai trò của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh lực lượng lao động suy giảm và dư địa tăng trưởng theo chiều rộng ngày càng thu hẹp, bài viết phân tích các điều kiện vĩ mô để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng cao giai đoạn 2026 - 2030, nhấn mạnh yêu cầu chuyển sang mô hình dựa trên tích lũy vốn và đổi mới công nghệ, với hệ thống ngân hàng tiếp tục giữ vai trò kênh dẫn vốn chủ đạo.
Xem thêm
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Bài viết phân tích những giải pháp điều hành tín dụng chủ động, linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong năm 2025 nhằm ưu tiên nguồn vốn cho nông nghiệp, nông thôn, qua đó củng cố vai trò trụ đỡ của khu vực này đối với tăng trưởng kinh tế, xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội.
Điều hành chính sách tiền tệ tiếp tục góp phần đưa kinh tế Việt Nam trở thành điểm sáng khu vực

Điều hành chính sách tiền tệ tiếp tục góp phần đưa kinh tế Việt Nam trở thành điểm sáng khu vực

Năm 2025 là một năm đầy khó khăn, thách thức đối với điều hành kinh tế vĩ mô nói chung và công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) nói riêng. Tuy nhiên, khép lại năm 2025, bức tranh kinh tế nước ta tiếp tục là điểm sáng khi tăng trưởng GDP dẫn đầu khu vực và thuộc nhóm cao trên thế giới; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Đóng góp vào thành công đó có vai trò quan trọng của điều hành chính sách tiền tệ của NHNN.
Củng cố nền tảng tăng trưởng và sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2026

Củng cố nền tảng tăng trưởng và sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2026

Bài viết này phân tích toàn diện những chuyển động lớn của nền kinh tế Việt Nam năm 2025, chỉ ra các kết quả đạt được, những hạn chế mang tính cơ cấu và các rủi ro tiềm ẩn, qua đó gợi mở các định hướng chính sách trọng tâm nhằm nâng cao nội lực, sức chống chịu và chất lượng tăng trưởng trong năm 2026.
Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng: Khát vọng, mô hình và chiến lược thích ứng của các ngân hàng Việt Nam

Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng: Khát vọng, mô hình và chiến lược thích ứng của các ngân hàng Việt Nam

Bài viết phân tích việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng như một mô hình hệ sinh thái tài chính bậc cao, làm rõ nền tảng pháp lý đột phá, lợi thế chiến lược của Đà Nẵng và những yêu cầu thích ứng đặt ra đối với hệ thống ngân hàng trong nước trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế sâu rộng.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.
Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Kết quả khảo sát năm 2025 của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) cho thấy thị trường ngoại hối toàn cầu đã sôi động trở lại từ đầu quý II/2025, với quy mô giao dịch tăng mạnh dưới tác động của bất ổn kinh tế, biến động tỉ giá USD và những điều chỉnh chiến lược phòng hộ, đầu cơ của các chủ thể tham gia thị trường.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng