Kinh tế Việt Nam 2025: Thành tựu bứt phá trên nền tảng điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén

Hoạt động ngân hàng
Năm 2025 khép lại với những dấu ấn tăng trưởng nổi bật của kinh tế Việt Nam, bất chấp bối cảnh quốc tế nhiều biến động. Tăng trưởng GDP vượt 8%, lạm phát được kiểm soát và các cân đối lớn duy trì ổn định đã cho thấy hiệu quả rõ nét của điều hành vĩ mô, trong đó chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén đóng vai trò then chốt, tạo bệ đỡ cho phục hồi và phát triển.
aa

Năm 2025 khép lại một giai đoạn 5 năm (2021 - 2025) đầy biến động của nền kinh tế toàn cầu và trong nước. Thế giới tiếp tục chịu áp lực từ cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột địa chính trị, chiến tranh thương mại và những diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh đó, Việt Nam không chỉ phải ứng phó với các "cú sốc" ngoại sinh, mà còn đối mặt với những thách thức nội tại như thiên tai dồn dập (đặc biệt là mưa lũ tại miền Trung và Bắc Trung Bộ), dịch bệnh trên vật nuôi tái bùng phát, cùng yêu cầu cải cách thể chế mạnh mẽ.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Chính phủ và sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách tài khóa, tiền tệ, nền kinh tế Việt Nam đã ghi nhận một năm "bứt phá toàn diện". Trong đó, chính sách tiền tệ (CSTT) được điều hành chủ động, linh hoạt, nhạy bén đã đóng vai trò then chốt như một "bệ đỡ" vững chắc, góp phần kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối và tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh phục hồi mạnh mẽ.

1. Bức tranh toàn cảnh về những thành tựu nổi bật năm 2025

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế đạt mức cao ấn tượng, vượt xa kỳ vọng, quy mô và sức mạnh kinh tế được nâng tầm

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2025 tăng trưởng 8,02%. Đây không chỉ là mức tăng trưởng vượt mục tiêu đề ra (khoảng 6,5 - 7%), mà còn là mức tăng cao thứ hai trong vòng 15 năm, chỉ sau năm 2022 (8,54%). Điều đáng chú ý là đà tăng trưởng được duy trì liên tục và tăng dần qua các quý: Quý I (+7,05%), Quý II (+8,16%), Quý III (+8,25%) và đỉnh điểm là Quý IV (+8,46%) (Biểu đồ 1). Xu hướng này phản ánh sức bật nội tại ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế, sự phục hồi rộng khắp của các ngành, lĩnh vực sau những hỗ trợ kịp thời từ chính sách (Cục Thống kê, 2025a).

Biểu đồ 1: Tăng trưởng GDP phân theo khu vực kinh tế các quý năm 2025 (%)

Nguồn: Cục Thống kê (2025a). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025
Nguồn: Cục Thống kê (2025a). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025

Quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2025 đạt 12.847,6 nghìn tỉ đồng, tương đương 514 tỉ USD (tăng 38 tỉ USD so với năm 2024). GDP bình quân đầu người đạt mốc 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024 (4.700 USD) (Cục Thống kê, 2025a), phản ánh sự cải thiện rõ rệt về mức sống và thu nhập, qua đó, củng cố vị thế của Việt Nam trong nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp và tiến gần hơn tới ngưỡng thu nhập trung bình cao theo các chuẩn mực quốc tế. Năng suất lao động toàn nền kinh tế (theo giá so sánh) tăng 6,83%, cho thấy chất lượng tăng trưởng đang được cải thiện.

Thứ hai, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực, công nghiệp chế biến - chế tạo và dịch vụ là động lực chính. Trong năm 2025, cơ cấu GDP tiếp tục chuyển dịch theo hướng hiện đại. Khu vực dịch vụ chiếm tỉ trọng 42,75%, đóng góp 51,08% vào mức tăng trưởng chung, với các ngành như bán lẻ, vận tải, logistics và du lịch tăng trưởng vượt trội; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,65%, đóng góp 43,62%. Đặc biệt, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,97% - mức tăng cao nhất kể từ năm 2019, tiếp tục khẳng định vai trò "bệ đỡ" và là động lực tăng trưởng số một. Các ngành sản xuất xe có động cơ (+22%), sản phẩm từ cao su và plastic (+15,7%), hóa chất (+12,4%) dẫn đầu. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tuy chỉ chiếm 11,64% và đóng góp 5,30%, nhưng tiếp tục đóng vai trò trụ đỡ vững chắc, bảo đảm an ninh lương thực, ổn định xã hội và là nguồn cung nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu (Cục Thống kê, 2025a).

Thứ ba, hoạt động xuất, nhập khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) phá kỷ lục. Năm 2025, hoạt động xuất khẩu đạt kỷ lục 475,04 tỉ USD, tăng 17% so với năm 2024. Có tới 36 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỉ USD, trong đó, nhóm hàng điện tử, máy tính và linh kiện vươn lên dẫn đầu với 107,75 tỉ USD (tăng 48,4%), phản ánh sự dịch chuyển sâu hơn của Việt Nam vào chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu; hoạt động nhập khẩu đạt 455,01 tỉ USD, tăng 19,4%, chủ yếu là nguyên liệu, máy móc phục vụ sản xuất trong nước và tái đầu tư mở rộng của khu vực FDI. Xuất siêu duy trì ở mức cao 20,03 tỉ USD, góp phần ổn định cán cân thanh toán, tăng dự trữ ngoại hối; FDI đạt 27,62 tỉ USD, tăng 9% và là mức cao nhất trong 5 năm qua. Điều này minh chứng cho niềm tin vững chắc của nhà đầu tư quốc tế vào môi trường kinh doanh và triển vọng tăng trưởng dài hạn của Việt Nam, bất chấp những thách thức toàn cầu (Cục Thống kê, 2025a).

Thứ tư, ngành thương mại, dịch vụ tăng trưởng tích cực. Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, du lịch nội địa tăng trong năm 2025, đặc biệt trong các sự kiện kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, cùng với sự bứt phá về thu hút khách quốc tế đến Việt Nam đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng của ngành thương mại, dịch vụ trong năm 2025. Theo số liệu công bố của Cục thống kê (2025a), tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 9,2% so với năm trước (năm 2024 tăng 8,9%) nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,7% (tương đương mức tăng năm 2024) (Biểu đồ 2), cho thấy sự tăng trưởng tích cực từ ngành thương mại và dịch vụ.

Biểu đồ 2. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành các năm 2021 - 2025

Nguồn: Cục Thống kê, 2025a.
Nguồn: Cục Thống kê, 2025a.

Thứ năm, lạm phát được kiểm soát hiệu quả, ổn định kinh tế vĩ mô được giữ vững. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2025 chỉ tăng 3,31%, nằm trong mục tiêu kiểm soát dưới 4,5% do Quốc hội đề ra. Đây là một thành tựu quan trọng trong bối cảnh thế giới vẫn tiềm ẩn áp lực lạm phát và giá nguyên vật liệu đầu vào biến động. Việc kiểm soát tốt lạm phát đã giúp bảo vệ sức mua của người dân, tạo môi trường ổn định cho các doanh nghiệp hoạch định sản xuất, kinh doanh.

Thứ sáu, thị trường tài chính - ngân hàng phát triển ổn định, lành mạnh. Với tăng trưởng tín dụng đạt 17,87%, kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế phục hồi và mở rộng sản xuất; lãi suất được duy trì ở mức thấp phù hợp, tạo điều kiện tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và người dân; thị trường chứng khoán bùng nổ: Chỉ số VNIndex tăng 40,9%, mức vốn hóa thị trường tăng 39,1%, phản ánh dòng tiền mạnh mẽ và kỳ vọng tích cực của nhà đầu tư vào triển vọng doanh nghiệp và nền kinh tế; tỉ giá được điều hành linh hoạt, cơ bản ổn định, góp phần ổn định thị trường ngoại hối và tâm lý.

Thứ bảy, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Tính chung cả năm 2025, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỉ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 24,94 tỉ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 29,43 tỉ USD, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 49,46 tỉ USD (Cục Thống kê, 2025a); cán cân thanh toán tổng thể kỳ vọng thặng dư kỷ lục. Động lực quan trọng tạo nên bức tranh tươi sáng của năm 2025 xuất phát từ sự đảo chiều của cán cân thanh toán tổng thể (BOP), với mức thặng dư dự phòng đạt con số 47,8 tỉ USD (VPBank Securities, 2025).

Đối với ngân sách nhà nước: Tổng thu đạt 134,7% dự toán, tăng 29,7% so với năm trước; tổng chi đạt 93,2% dự toán, tăng 31,2% so với năm trước, bảo đảm các nhiệm vụ chi quan trọng cho đầu tư phát triển, an sinh xã hội và phòng chống thiên tai (Cục Thống kê, 2025a).

2. Vai trò then chốt của CSTT

Thành tựu ấn tượng nêu trên có sự đóng góp không nhỏ của việc điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, thận trọng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Năm 2025, CSTT được triển khai theo hướng "nới lỏng có kiểm soát, hỗ trợ tăng trưởng nhưng không châm ngòi lạm phát", cụ thể như sau:

(1) Điều hành lãi suất linh hoạt, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn. NHNN duy trì khung lãi suất điều hành ở mức thấp, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp tục giảm lãi suất cho vay. Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức khoảng 3,9%/năm, thấp hơn mức trần 4,0%/năm theo quy định. Lãi suất cho vay bình quân chung ở mức 6,6% - 8,9%/năm (VietnamFDI, 2025). Chính sách lãi suất thấp, ổn định đã góp phần giảm đáng kể chi phí vốn, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, người dân vay vốn tiêu dùng và mua nhà, từ đó thúc đẩy tổng cầu nội địa.

(2) Quản lý tỉ giá ổn định, hỗ trợ xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư. Trong bối cảnh đồng USD trên thế giới biến động mạnh do chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), NHNN đã điều hành tỉ giá trung tâm một cách phù hợp, can thiệp thị trường ngoại hối linh hoạt thông qua các công cụ như hoán đổi ngoại tệ, bán ngoại tệ. Tỉ giá trung tâm USD/VND cuối năm 2025 ở mức 25.121 đồng, tăng 3,23% so với cuối 2024 (Cục Thống kê, 2025a) - mức tăng có kiểm soát, phù hợp với biến động thị trường và lạm phát mục tiêu. Việc giữ cho tỉ giá ổn định, không gây sốc đã: (i) Hỗ trợ xuất khẩu: Tạo sự ổn định cho các hợp đồng xuất khẩu, bảo vệ lợi nhuận của doanh nghiệp. (ii) Kiểm soát lạm phát nhập khẩu: Hạn chế áp lực tăng giá hàng hóa nhập khẩu. (iii) Thu hút FDI và kiều hối: Củng cố niềm tin của nhà đầu tư và kiều bào về sự ổn định của đồng tiền Việt Nam.

(3) Điều tiết thanh khoản thông minh, bảo đảm an toàn hệ thống. NHNN đã điều tiết thanh khoản một cách chủ động thông qua các nghiệp vụ thị trường mở (OMO), tái cấp vốn, nhằm bảo đảm hệ thống ngân hàng luôn có đủ thanh khoản đáp ứng nhu cầu vay vốn của nền kinh tế, đồng thời kiểm soát rủi ro. Tính đến ngày 22/12/2025, tổng phương tiện thanh toán tăng 14,98% so với cuối năm 2024 (cùng thời điểm năm trước tăng 9,15%); huy động vốn của các TCTD tăng 13,68% (cùng thời điểm năm trước tăng 8,79%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 17,87% (cùng thời điểm năm trước tăng 13,4%) (Cục Thống kê, 2025a; Tạp chí Ngân hàng, 2025) - mức tăng cao hơn hẳn cùng kỳ năm trước, phản ánh sự phục hồi mạnh mẽ của hoạt động huy động và tín dụng.

(4) Thúc đẩy tín dụng chính sách xã hội và tài chính toàn diện. Tính đến cuối năm 2025, tổng dư nợ tín dụng chính sách xã hội đạt trên 414,9 nghìn tỉ đồng, tăng 12,5%, với hơn 6,7 triệu hộ nghèo, cận nghèo và đối tượng chính sách được tiếp cận vốn vay ưu đãi. Chính sách này góp phần thiết thực vào việc thực hiện an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế nông thôn (Cục Thống kê, 2025a).

(5) Giám sát chặt chẽ, kiểm soát rủi ro, bảo đảm an toàn hệ thống. Bên cạnh các biện pháp hỗ trợ tăng trưởng, NHNN tăng cường giám sát, cảnh báo sớm và kiểm soát rủi ro trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt là rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Điều này góp phần duy trì sự lành mạnh, an toàn của hệ thống ngân hàng - huyết mạch của nền kinh tế.

3. Một số hạn chế, thách thức và bài học kinh nghiệm

(1) Hạn chế và thách thức

Bên cạnh những thành tựu đạt được, kinh tế Việt Nam năm 2025 vẫn còn những hạn chế, thách thức như: Phụ thuộc lớn vào khu vực FDI và xuất khẩu, trong khi khu vực kinh tế trong nước (chiếm 22,7% xuất khẩu) tăng trưởng chậm hơn, thậm chí xuất khẩu giảm 6,1% (Tạp chí Kinh tế - Tài chính, 2026); năng suất lao động tuy được cải thiện nhưng vẫn còn khoảng cách so với các nước trong khu vực; tỉ lệ lao động phi chính thức còn cao (63,1%), phản ánh tính dễ tổn thương của thị trường lao động (Cục Thống kê, 2025b), đặc biệt, áp lực từ biến đổi khí hậu và thiên tai ngày càng khốc liệt, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản, khoảng 98.677 tỉ đồng năm 2025 (Tạp chí điện tử Thiên nhiên và Môi trường, 2025).

(2) Bài học kinh nghiệm từ điều hành chính sách

Từ những kết quả đạt được và những hạn chế, thách thức, có thể rút ra bài học kinh nghiệm từ điều hành chính sách như: (1) Cần xem sự phối hợp chặt chẽ giữa CSTT và tài khóa là then chốt. CSTT linh hoạt tạo điều kiện về vốn, trong khi chính sách tài khóa (như hỗ trợ thuế, giải ngân đầu tư công) tạo ra cầu và dẫn dắt đầu tư; (2) Điều hành chính sách cần chủ động, nhạy bén, dự báo và có kịch bản ứng phó với các "cú sốc" bên ngoài. Việc NHNN chủ động can thiệp thị trường ngoại hối, điều tiết thanh khoản đã giúp giảm thiểu tác động tiêu cực; (3) Cần ưu tiên ổn định vĩ mô làm nền tảng cho tăng trưởng. Kiểm soát thành công lạm phát và ổn định tỉ giá là tiền đề để các chính sách hỗ trợ tăng trưởng phát huy hiệu quả lâu dài; (4) Cần tiếp tục cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh để khơi thông nguồn lực nội sinh, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.

4. Định hướng chính sách năm 2026

Năm 2026 mở ra một giai đoạn phát triển mới với mục tiêu "duy trì tăng trưởng cao, bền vững đi đôi với củng cố vững chắc nền tảng ổn định vĩ mô". Để hiện thực hóa mục tiêu này, việc tiếp tục phát huy hiệu quả của CSTT là vô cùng quan trọng, vì thế cần có định hướng điều hành CSTT và tăng cường phối hợp CSTT với các chính sách vĩ mô khác:

(1) Định hướng điều hành CSTT

Năm 2026, cần tiếp tục điều hành CSTT linh hoạt, thận trọng, điều chỉnh phù hợp với diễn biến lạm phát trong nước, CSTT của các nước lớn và tình hình tăng trưởng thực tế. Ưu tiên hàng đầu vẫn là kiểm soát lạm phát ở mức mục tiêu (lạm phát bình quân khoảng 4,5%); cần tập trung vào chất lượng tăng trưởng tín dụng, định hướng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, các dự án hiệu quả, công nghệ cao, xanh, bền vững, kiểm soát chặt tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi cao; cần tiếp tục điều hành tỉ giá linh hoạt, can thiệp kịp thời khi cần, tăng cường dự trữ ngoại hối. Chuẩn bị các kịch bản ứng phó với biến động thị trường tài chính toàn cầu để ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối trong nước. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống TCTD gắn với xử lý nợ xấu, tăng cường năng lực tài chính, quản trị rủi ro của các ngân hàng, tạo nền tảng vững chắc cho hệ thống.

(2) Phối hợp CSTT với các chính sách vĩ mô khác

Trong năm 2016, cần phối hợp CSTT với các chính sách vĩ mô khác để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao hiệu quả điều hành và truyền dẫn CSTT, cụ thể:

- Phối hợp với chính sách tài khóa để đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, nhất là các dự án trọng điểm quốc gia, tạo hiệu ứng lan tỏa; có giải pháp tháo gỡ vướng mắc, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài, góp phần nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng cơ chế hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài có chọn lọc, trong một số lĩnh vực có tiềm năng, tạo sự bứt phá, động lực mới cho tăng trưởng như chíp, bán dẫn, đổi mới sáng tạo, hydrogen xanh... Sử dụng chính sách thuế linh hoạt để hỗ trợ doanh nghiệp.

- Phối hợp với chính sách cơ cấu để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng hiện đại hóa, phát triển theo chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm các ngành công nghiệp có lợi thế. Ưu tiên phát triển, làm chủ công nghệ mới, các ngành, lĩnh vực công nghiệp mới nổi như chíp, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, xanh, bền vững. Ưu tiên tín dụng cho các ngành công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp công nghệ cao.

5. Kết luận

Năm 2025, nền kinh tế Việt Nam đã có một kỳ tích tăng trưởng ấn tượng, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc trong năng lực điều hành vĩ mô, đặc biệt là CSTT. Thành công này là nền tảng vững chắc và là động lực mạnh mẽ để Việt Nam bước vào năm 2026 với tâm thế tự tin, quyết tâm cao. Với sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị, sự năng động của cộng đồng doanh nghiệp và sức sáng tạo của người dân, dưới sự dẫn dắt của các chính sách vĩ mô thông minh và nhạy bén, Việt Nam hoàn toàn có khả năng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao, chất lượng, bền vững, từng bước hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Tài liệu tham khảo:

1. Cục Thống kê (2025a). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025. https://www.gso.gov.vn

2. Cục Thống kê (2025b). Thông cáo báo chí tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-dan-so-lao-dong-viec-lam-quy-iv-va-nam-2025/

3. Tạp chí điện tử Thiên nhiên và Môi trường (2025). Thiên tai gây thiệt hại gần 98.700 tỉ đồng trong năm 2025. https://thiennhienmoitruong.vn/thien-tai-gay-thiet-hai-gan-98-700-ty-dong-trong-nam-2025.html

4. Tạp chí Kinh tế - Tài chính (2026). Xuất nhập khẩu năm 2025 tăng trưởng mạnh, xuất siêu hơn 20 tỉ USD. https://tapchikinhtetaichinh.vn/xuat-nhap-khau-nam-2025-tang-truong-manh-xuat-sieu-hon-20-ty-usd-137782.html

5. Tạp chí Ngân hàng (2025). CSTT góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế năm 2025. https://tapchinganhang.gov.vn/chinh-sach-tien-te-gop-phan-quan-trong-trong-tang-truong-kinh-te-nam-2025-16875.html

6. VietnamFDI (2025). Lãi suất cho vay lĩnh vực ưu tiên giữ ở 3,9%/năm, thấp hơn trần quy định. https://vietnamfdi.vn/lai-suat-cho-vay-linh-vuc-uu-tien-giu-o-3-9-nam-thap-hon-tran-quy-dinh-17_121692.html

7. VPBank Securities (2025). Triển vọng 2026.

Nhật Trung

Tin bài khác

Sự phát triển của hoạt động thống kê tại ngân hàng trung ương và hàm ý chính sách

Sự phát triển của hoạt động thống kê tại ngân hàng trung ương và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích sự chuyển đổi sâu sắc của hoạt động thống kê tại ngân hàng trung ương (NHTW) trong kỷ nguyên dữ liệu, qua đó đề xuất các định hướng nhằm nâng cao năng lực thống kê phục vụ hiệu quả hoạch định chính sách.
Mối liên kết giữa hệ thống ngân hàng và tổ chức tài chính phi ngân hàng: Xu hướng, rủi ro, cơ chế lan truyền và quản lý, giám sát

Mối liên kết giữa hệ thống ngân hàng và tổ chức tài chính phi ngân hàng: Xu hướng, rủi ro, cơ chế lan truyền và quản lý, giám sát

Bài viết phân tích sự phát triển của khu vực tổ chức tài chính phi ngân hàng (NBFI) trong bối cảnh siết chặt các tiêu chuẩn mực quản lý và giám sát của hệ thống ngân hàng truyền thống (Basel II, Basel III), làm rõ các kênh liên kết hai chiều với hệ thống ngân hàng và cảnh báo rủi ro hệ thống từ các cú sốc thanh khoản, qua đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng khuôn khổ giám sát vĩ mô thận trọng vượt ra ngoài phạm vi ngân hàng truyền thống nhằm bảo đảm ổn định tài chính.
Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 1 với phát triển kinh tế Thủ đô sau 1 năm thực hiện Luật Thủ đô

Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 1 với phát triển kinh tế Thủ đô sau 1 năm thực hiện Luật Thủ đô

Bài viết làm rõ vai trò quản lý, điều tiết hoạt động ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Chi nhánh Khu vực 1 (NHNN Khu vực 1) trong việc khai thác hiệu quả các cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô 2024, qua đó góp phần huy động, phân bổ nguồn lực và củng cố nền tảng tài chính cho phát triển kinh tế Thủ đô theo hướng bền vững.
Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao vượt xa mục tiêu đề ra, mở đường cho nông nghiệp xanh

Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao vượt xa mục tiêu đề ra, mở đường cho nông nghiệp xanh

Trong bối cảnh ngành nông nghiệp Việt Nam đang chuyển mạnh sang mô hình sản xuất xanh, bền vững và nâng cao giá trị gia tăng, Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao được kỳ vọng trở thành động lực quan trọng cho tái cơ cấu ngành lúa gạo. Để hiện thực hóa mục tiêu này, tín dụng nông nghiệp, nông thôn giữ vai trò “đòn bẩy” then chốt, góp phần bảo đảm nguồn lực tài chính cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao. Với định hướng chính sách linh hoạt và dòng vốn ưu tiên, ngành Ngân hàng đã tích cực đồng hành, thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả và bền vững.
Công nghệ mực không màu phát quang trong in bảo an: Cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn trên tiền và giấy tờ có giá trị

Công nghệ mực không màu phát quang trong in bảo an: Cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn trên tiền và giấy tờ có giá trị

Bài viết làm rõ cơ sở khoa học, nền tảng vật liệu và yêu cầu công nghệ của mực không màu phát quang, đồng thời phân tích vai trò, thách thức và xu hướng ứng dụng của loại mực này trong hệ thống in bảo an tiền và giấy tờ có giá trị hiện đại.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố Báo cáo tháng 01/2026, tập trung đánh giá các quy định về tỉ lệ thanh khoản an toàn (LCR) sau 10 năm triển khai và áp dụng.
Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết tổng hợp bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm sau một thập kỷ triển khai Basel III, cho thấy tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản đã góp phần tăng cường chống chịu thanh khoản cho ngân hàng, song cũng đặt ra các đánh đổi về thu hẹp tín dụng, hành vi chấp nhận rủi ro và yêu cầu điều chỉnh linh hoạt trong thiết kế, giám sát và phối hợp chính sách ngân hàng trung ương.
Xem thêm
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Bài viết chỉ ra rằng, căng thẳng Trung Đông thông qua cú sốc giá năng lượng và logistics, có thể khuếch đại áp lực lạm phát, tỉ giá và tăng trưởng của Việt Nam, qua đó đặt ra yêu cầu điều hành chính sách vĩ mô linh hoạt nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột Trung Đông đầu năm 2026, chỉ ra các áp lực ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò hạ tầng chiến lược của hệ thống ngân hàng và gợi mở các giải pháp chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Chiều 02/4/2026, tại Hà Nội, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới”, kết hợp Hội nghị Cộng tác viên và Hội đồng biên tập Tạp chí Ngân hàng.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành