Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Sự kiện
Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
aa

Tóm tắt: Sau 40 năm đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã chuyển đổi căn bản từ mô hình một cấp sang hai cấp, đóng vai trò trung tâm trong ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Bài viết này phân tích tiến trình hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam qua các giai đoạn cải cách, làm rõ những thành tựu nổi bật và thách thức trong từng giai đoạn. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng phát triển hệ thống ngân hàng trong kỷ nguyên số, với trọng tâm là tín dụng xanh, chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trụ cột của ngành Ngân hàng trong hành trình đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển nhanh, bền vững.

Từ khóa: Đổi mới, hệ thống ngân hàng, kỷ nguyên số, phát triển bền vững.

ACHIEVEMENTS AFTER 40 YEARS OF RENOVATION AND THE DEVELOPMENT ORIENTATION
OF VIETNAM’S BANKING SYSTEM IN THE DIGITAL ERA

Abstract: After 40 years of renovation, Vietnam’s banking system has undergone a fundamental transformation from a single-tier model to a two-tier system, playing a central role in macroeconomic stability, inflation control, and the promotion of national economic growth. This article analyzes the formation and development of Vietnam’s banking system through different stages of reform, highlighting major achievements and challenges in each period. On that basis, the article proposes development orientations for the banking system in the digital era, with a focus on green credit and digital transformation, thereby affirming the banking sector’s role as a key pillar in Vietnam’s journey toward fast and sustainable development.

Keywords: Renovation, banking system, digital era, sustainable development.

1. Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam

Lịch sử hình thành, phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam phản ánh trực tiếp tiến trình vận động và tư duy kinh tế của Đảng qua các kỳ Đại hội từ sau Cách mạng tháng Tám. Ngay từ giai đoạn 1945 - 1954, khi nền tài chính quốc gia bắt đầu hình thành, tư duy chi phối hoạt động ngân hàng gắn chặt với mục tiêu bảo vệ nền độc lập chính trị và chủ quyền tiền tệ. Sắc lệnh số 15/SL ngày 06/5/1951 của Chủ tịch nước về việc thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam - tiền thân của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thể hiện rõ nhận thức coi tiền tệ là công cụ trung tâm phục vụ kháng chiến và kiến quốc, đặt nền móng cho một thiết chế tài chính thống nhất dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Nhà nước.

Trong giai đoạn đất nước bị chia cắt (1954 - 1975), hệ thống ngân hàng miền Bắc vận hành theo định hướng phục vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, tập trung cấp vốn cho công nghiệp nặng và nông nghiệp tập thể. Những cải cách tài chính đặc thù như Quỹ ngoại tệ đặc biệt B29 hay Ban Tài chính đặc biệt N2683 cho thấy khả năng linh hoạt của hệ thống ngân hàng trong điều kiện chiến tranh, phản ánh tư duy coi tài chính là công cụ chiến lược của cách mạng Việt Nam.

Sau khi đất nước thống nhất, giai đoạn 1975 - 1985 chứng kiến việc duy trì mô hình ngân hàng một cấp trong điều kiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung. NHNN vừa thực hiện chức năng quản lý vừa thực hiện cấp phát vốn theo chỉ tiêu hành chính. Tuy nhiên, việc coi ngân hàng như thủ quỹ của ngân sách đã triệt tiêu các tín hiệu thị trường, tạo nên sự mất cân đối vĩ mô như GDP tăng trưởng khiêm tốn, trong khi đó lạm phát tăng cao… qua đó tạo tiền đề cho yêu cầu đổi mới tư duy tại Đại hội Đảng lần thứ VI (Hình 1).

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đánh dấu bước ngoặt căn bản trong nhận thức về vai trò của thị trường và hệ thống tài chính. Nghị định số 53-HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức bộ máy NHNN cùng các Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 khẳng định quan điểm đổi mới tư duy, tách bạch chức năng quản lý tiền tệ và chức năng kinh doanh ngân hàng. Mô hình hai cấp hình thành với NHNN giữ vai trò ngân hàng trung ương, các ngân hàng thương mại (NHTM) hoạt động theo nguyên tắc hạch toán, phù hợp với định hướng phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được xác lập tại Đại hội Đảng lần thứ VI và được củng cố tại Đại hội Đảng lần thứ VII. Đặc biệt, quan hệ với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và WB được khôi phục năm 1993 mở ra kênh vốn quốc tế quan trọng, thúc đẩy hiện đại hóa hạ tầng tài chính Việt Nam (IMF, 1996).

Giai đoạn từ sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 đặt hệ thống ngân hàng Việt Nam trước phép thử đầu tiên trong môi trường hội nhập khu vực. Mặc dù mức độ mở cửa tài khoản vốn còn hạn chế, áp lực tỉ giá và tình trạng nợ xấu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước bộc lộ rõ. Đại hội Đảng lần thứ VIII và IX phản ánh sự điều chỉnh tư duy, nhấn mạnh nhiệm vụ lành mạnh hóa tài chính quốc gia. Luật NHNN năm 1997 và Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 tạo khung pháp lý tiệm cận kinh tế thị trường, đặt nền móng cho quá trình đa dạng hóa kênh huy động vốn và hình thành thị trường chứng khoán.

Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 đưa hệ thống ngân hàng vào giai đoạn tăng trưởng nhanh chưa từng có. Tín dụng mở rộng mạnh mẽ, phản ánh kỳ vọng cao vào hội nhập quốc tế. Cảnh báo của IMF về rủi ro bong bóng tài sản và lạm phát cho thấy khoảng cách giữa tốc độ mở rộng tín dụng và năng lực quản trị rủi ro nội tại (IMF, 2007). Hệ quả của giai đoạn này là bất ổn vĩ mô năm 2011, buộc Đại hội Đảng lần thứ XI phải điều chỉnh ưu tiên sang ổn định kinh tế và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Đặc biệt, Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) được thành lập năm 2013 cho thấy cách tiếp cận xử lý nợ xấu mang tính chuyển tiếp, tạo dư địa cho phục hồi hệ thống.

Trong giai đoạn 2016 - 2020, tư duy điều hành hoạt động ngân hàng đã chuyển mạnh sang định hướng ổn định dài hạn. Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu và Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng, góp phần tăng cường năng lực xử lý nợ xấu, củng cố an toàn hệ thống và nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng. Đồng thời, các bước chuẩn bị triển khai Basel II, Basel III cho thấy sự tiệm cận ngày càng rõ nét với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

Giai đoạn 2021 - 2025 đặt hệ thống ngân hàng trước thách thức chưa từng có từ đại dịch Covid-19 và những biến động toàn cầu. Định hướng Đại hội Đảng lần thứ XIII coi ổn định vĩ mô là nền tảng đã được cụ thể hóa thông qua điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt. Kiểm soát lạm phát trong bối cảnh thế giới biến động mạnh phản ánh năng lực điều phối chính sách ngày càng trưởng thành của NHNN. Quá trình xử lý ngân hàng yếu kém và các vụ việc vi phạm nghiêm trọng cho thấy quyết tâm làm sạch hệ thống, đồng thời đặt ra yêu cầu chuyển đổi sang giám sát dựa trên dữ liệu và công nghệ. Đặc biệt, định hướng phát triển giai đoạn sau năm 2025 với trọng tâm là tài chính xanh, chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng tiếp tục khẳng định vai trò của ngành Ngân hàng là trụ cột dẫn dắt tăng trưởng kinh tế bền vững.

Bảng 1 khái quát chiến lược phát triển ngành Ngân hàng qua một số giai đoạn gắn với định hướng chỉ đạo của các kỳ Đại hội Đảng, thể hiện nhất quán tư duy về phát triển kinh tế - xã hội và điều hành vĩ mô của Đảng, đồng thời phản ánh rõ sự chuyển dịch từ mô hình quản lý hành chính sang quản trị theo nguyên tắc thị trường và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

2. Thành tựu và thách thức đối với hệ thống ngân hàng trong giai đoạn 2021 - 2025

Giai đoạn 2021 - 2025 đặt hệ thống ngân hàng Việt Nam trước sức ép lớn nhất kể từ sau đổi mới, khi môi trường kinh tế toàn cầu biến động mạnh do đại dịch Covid-19, xung đột địa chính trị và chu kỳ thắt chặt tiền tệ lan rộng. Định hướng Đại hội Đảng lần thứ XIII xác lập ổn định kinh tế vĩ mô là trụ cột then chốt đã tạo cơ sở tư duy cho điều hành chính sách tiền tệ mang tính linh hoạt cao. NHNN triển khai các công cụ điều tiết cung tiền, lãi suất và tỉ giá với cường độ điều chỉnh nhanh, phản ánh mức độ trưởng thành rõ rệt của năng lực điều hành so với các giai đoạn khủng hoảng trước đó.

Kết quả kiểm soát lạm phát giai đoạn 2021 - 2025 trong khoảng 1,84 - 3,63%, thể hiện hiệu quả phối hợp chính sách giữa tiền tệ và tài khóa, trong đó các biện pháp giảm thuế, phí đóng vai trò hỗ trợ cầu nội địa, còn chính sách tiền tệ duy trì định hướng thận trọng nhằm hạn chế rủi ro kỳ vọng lạm phát lan rộng theo xu hướng toàn cầu (IMF, 2025).

Năm 2023 đánh dấu bước đi mang tính lựa chọn chiến lược khi NHNN chủ động giảm lãi suất điều hành bốn lần với tổng biên độ 0,5 - 2,0%, trái ngược xu hướng tăng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Quyết định này chấp nhận áp lực điều chỉnh tỉ giá trong ngắn hạn nhằm ưu tiên duy trì dòng vốn tín dụng cho khu vực sản xuất, kinh doanh. Đến năm 2025, tăng trưởng GDP đạt 8,02% cùng mức lạm phát 3,21% phản ánh hiệu quả của định hướng ưu tiên kinh tế thực, đồng thời khẳng định vai trò trung tâm của chính sách tiền tệ trong điều tiết chu kỳ kinh tế tại Việt Nam (IMF, 2025).

Song song điều hành vĩ mô, tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng trở thành nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng. Kết quả tái cơ cấu thể hiện rõ qua quá trình chuyển giao bắt buộc các ngân hàng yếu kém như: Chuyển giao NHTM Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Xây dựng Việt Nam (CB) cho NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank); NHTM Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đại Dương (OceanBank) cho NHTM cổ phần Quân đội (MB).

Bên cạnh đó, chuyển dịch tín dụng xanh trở thành điểm nhấn cấu trúc của giai đoạn 2021 - 2025, gắn với cam kết Net Zero năm 2050 tại COP26. Dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 750.000 tỉ đồng vào cuối năm 2025 cho thấy thay đổi rõ rệt về định hướng phân bổ vốn (NHNN, 2025). Gói hỗ trợ lãi suất 2% cho các dự án năng lượng tái tạo, nông nghiệp bền vững và công nghệ môi trường phản ánh vai trò dẫn dắt của chính sách công trong điều chỉnh dòng vốn theo mục tiêu phát triển dài hạn. Xu hướng này phù hợp với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, nhấn mạnh hiệu quả công nghệ và giảm phụ thuộc tài nguyên.

Đặc biệt, chuyển đổi số và hạ tầng thanh toán ghi nhận tốc độ lan tỏa nhanh nhất trong lịch sử ngành Ngân hàng. Đề án 06 về dữ liệu dân cư tạo nền tảng cho triển khai eKYC trên diện rộng, góp phần nâng tỉ lệ giao dịch số hóa vượt 90% tại nhiều ngân hàng. Thanh toán không dùng tiền mặt phát triển mạnh thông qua QR Code và nền tảng di động, phản ánh sự hội tụ giữa công nghệ tài chính (Fintech) và nhu cầu tiêu dùng số của xã hội. IMF đánh giá cao khả năng chống chịu của kinh tế Việt Nam trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời ghi nhận tiến bộ rõ rệt trong năng lực điều hành chính sách tiền tệ của NHNN (IMF, 2024).

3. Định hướng phát triển chiến lược trong kỷ nguyên xanh và kỷ nguyên số

Văn kiện Đại hội XIV khẳng định giai đoạn 2026 - 2030 là bản lề để Việt Nam bước sang nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Tư duy phát triển hệ thống ngân hàng chuyển dịch rõ rệt từ cách tiếp cận quản lý dựa trên mệnh lệnh hành chính sang mô hình quản trị quốc gia dựa trên kiến tạo, dẫn dắt và chuẩn mực, mở ra yêu cầu điều chỉnh sâu sắc về công cụ điều hành, trong đó vai trò của các biện pháp thị trường và các chuẩn mực an toàn vốn quốc tế được đề cao. Các công cụ mang tính hành chính như trần tín dụng hay trần lãi suất được xem xét thu hẹp dần, nhường chỗ cho khuôn khổ điều hành dựa trên quản trị rủi ro, minh bạch thông tin và kỷ luật thị trường, phù hợp với định hướng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được khẳng định trong các văn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ XIV.

Việt Nam cũng định hướng hình thành Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh với cơ chế thử nghiệm chính sách vượt trội, hướng tới thu hút các định chế tài chính toàn cầu về Fintech và tài chính xanh. Trung tâm tài chính quốc tế là hạt nhân kết nối thị trường tài chính Việt Nam với mạng lưới khu vực, góp phần nâng cao vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị tài chính châu Á.

Ngoài ra, chuyển đổi xanh là chiến lược dài hạn của ngành Ngân hàng trong thập kỷ tới. Kế hoạch hành động quốc gia về kinh tế tuần hoàn được ban hành theo Quyết định số 222/QĐ-TTg ngày 23/01/2025 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định rõ nhu cầu vốn rất lớn cho năng lượng tái tạo, điện từ chất thải, tiết kiệm năng lượng và nâng cao hiệu quả tài nguyên. Ngành Ngân hàng được giao vai trò trung tâm trong huy động và phân bổ nguồn lực thông qua các công cụ tài chính mới như trái phiếu xanh và tín dụng chuỗi cung ứng bền vững.

Chuyển đổi số tiếp tục là trụ cột không thể tách rời của quá trình hiện đại hóa ngân hàng. Chiến lược phát triển Ngành đến năm 2030 đặt mục tiêu số hóa toàn diện quy trình nghiệp vụ, khai thác trí tuệ nhân tạo trong chấm điểm tín dụng nhằm mở rộng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dữ liệu là tài sản chiến lược giúp thay đổi căn bản mô hình kinh doanh ngân hàng, từ trung gian tài chính truyền thống sang nền tảng dịch vụ tài chính số. Nghiên cứu và triển khai tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) là bước đi chiến lược nhằm bảo vệ chủ quyền tiền tệ trong không gian số. Nghiên cứu về kinh nghiệm quốc tế cho thấy CBDC nâng cao hiệu quả thanh toán bán lẻ và hỗ trợ thực thi chính sách tiền tệ thông qua khả năng truyền dẫn nhanh và chính xác hơn (Nguyễn Đình Thọ, 2025). Đối với Việt Nam, CBDC được đặt trong mối liên hệ trực tiếp với yêu cầu phòng ngừa rủi ro từ các loại tiền kỹ thuật số tư nhân, đồng thời tăng cường khả năng quản lý dòng tiền trong nền kinh tế số đang phát triển nhanh.

Đặc biệt, định hướng vươn ra khu vực ASEAN tiếp tục được cụ thể hóa thông qua mục tiêu nâng cao quy mô và năng lực cạnh tranh của các NHTM. Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2030 nhấn mạnh yêu cầu hình thành các định chế có quy mô tài sản lớn, quản trị theo chuẩn mực

Basel II, Basel III và đủ năng lực cung ứng dịch vụ xuyên biên giới. Kiểm soát đô la hóa tiếp tục được xác định là trụ cột của ổn định tiền tệ, với mục tiêu đưa tỉ lệ tiền gửi ngoại tệ xuống dưới 5% và chuyển hẳn sang quan hệ mua - bán ngoại tệ theo cơ chế thị trường, qua đó củng cố niềm tin vào đồng Việt Nam. Trong bối cảnh tăng trưởng xuất khẩu đối mặt nhiều bất định, IMF nhấn mạnh trọng tâm tái cơ cấu thể chế gắn với ổn định khu vực tài chính. Đồng thời, việc tuân thủ các chuẩn mực về phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố được coi là điều kiện tiên quyết để hệ thống ngân hàng Việt Nam duy trì kết nối với mạng lưới tài chính toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh dòng vốn quốc tế dịch chuyển nhanh và khó lường (IMF, 2025).

4. Kết luận

Sau 40 năm đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có bước chuyển đổi căn bản, từ mô hình quản lý hành chính sang vận hành theo nguyên tắc thị trường, từng bước tiệm cận các chuẩn mực quốc tế và khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng. Trong kỷ nguyên mới, với trọng tâm là chuyển đổi số, tài chính xanh và hội nhập sâu rộng, ngành Ngân hàng tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong huy động, phân bổ nguồn lực cho phát triển kinh tế, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao trong khu vực và toàn cầu.

Tài liệu tham khảo:

1. IMF (1996 - 2025), Vietnam: Article IV Consultation: Staff Report, International Monetary Fund.

2. Nguyễn Đình Thọ (2025), Nghiên cứu triển khai CBDC: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách, Tạp chí Ngân hàng, https://tapchinganhang.gov.vn/nghien-cuu-trien-khai-tien-ky-thuat-so-ngan-hang-trung-uong-kinh-nghiem-quoc-te-va-ham-y-chinh-sach-16805.html

3. Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 04/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh.

4. Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

5. Soo-Nam Oh (1998), Financial deepening in the banking sector -Viet Nam, Asian Development Bank.

6. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam.

PGS.,TS. Nguyễn Đình Thọ
Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường - Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Tin bài khác

Khơi thông nguồn lực tài chính cho lộ trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp

Khơi thông nguồn lực tài chính cho lộ trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp

Trước áp lực kép từ biến động địa chính trị năng lượng và các rào cản thương mại xanh khắt khe, chuyển đổi xanh đã không còn là câu chuyện của tương lai mà trở thành yêu cầu cấp bách để kiến tạo sức chống chịu cho nền kinh tế. Trong khuôn khổ Tọa đàm “Chuyển đổi xanh - chìa khoá tiết kiệm nguồn lực” do Thời báo Ngân hàng tổ chức sáng 27/3/2026 tại Hà Nội, các chuyên gia quản lý và kinh tế đã cùng nhận diện những “điểm nghẽn” về vốn, công nghệ, dữ liệu. Đồng thời, nhiều đề xuất quan trọng về việc hoàn thiện Danh mục phân loại xanh, cơ chế hỗ trợ lãi suất từ ngân sách đã được gợi mở, nhằm khơi thông dòng vốn tín dụng, giúp ngành Ngân hàng thực hiện tốt vai trò dẫn dắt nền kinh tế hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.
Thanh niên với tương lai đất nước

Thanh niên với tương lai đất nước

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm với tiêu đề: “THANH NIÊN VỚI TƯƠNG LAI ĐẤT NƯỚC”.
Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân

Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm với tiêu đề "Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân".
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người gieo mầm “Mùa xuân cách mạng”

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người gieo mầm “Mùa xuân cách mạng”

Bài viết khắc họa hành trình gieo mầm và vun trồng “Mùa xuân cách mạng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những dấu mốc lịch sử trọng đại của dân tộc, từ khởi nguồn lý tưởng cứu nước đến khát vọng phát triển trong kỷ nguyên vươn mình hôm nay.
Lan tỏa thông điệp sử dụng tiền văn minh để khơi dậy nét đẹp văn hóa Tết

Lan tỏa thông điệp sử dụng tiền văn minh để khơi dậy nét đẹp văn hóa Tết

Sáng 04/02/2025, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Sử dụng tiền văn minh và thanh toán an toàn trong dịp Tết”. Tọa đàm được tổ chức như một diễn đàn kết nối đa chiều, quy tụ ý kiến của các nhà nghiên cứu văn hóa, các chuyên gia có uy tín trong xã hội, các cơ quan quản lý chính sách… nhằm gợi mở những giải pháp an toàn, hiệu quả trong việc sử dụng tiền và thanh toán dịp Tết.
VỮNG BƯỚC DƯỚI CỜ ĐẢNG

VỮNG BƯỚC DƯỚI CỜ ĐẢNG

Trân trọng giới thiệu bài viết "VỮNG BƯỚC DƯỚI CỜ ĐẢNG" của Tổng Bí thư Tô Lâm nhân dịp kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2026).
Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: TIẾN LÊN! TOÀN THẮNG ẮT VỀ TA!

Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: TIẾN LÊN! TOÀN THẮNG ẮT VỀ TA!

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: TIẾN LÊN! TOÀN THẮNG ẮT VỀ TA!
Xem thêm
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Bài viết chỉ ra rằng, căng thẳng Trung Đông thông qua cú sốc giá năng lượng và logistics, có thể khuếch đại áp lực lạm phát, tỉ giá và tăng trưởng của Việt Nam, qua đó đặt ra yêu cầu điều hành chính sách vĩ mô linh hoạt nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột Trung Đông đầu năm 2026, chỉ ra các áp lực ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò hạ tầng chiến lược của hệ thống ngân hàng và gợi mở các giải pháp chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Chiều 02/4/2026, tại Hà Nội, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới”, kết hợp Hội nghị Cộng tác viên và Hội đồng biên tập Tạp chí Ngân hàng.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, làm rõ những chuyển biến trong khung chính sách và thực tiễn triển khai trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần định hướng dòng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành