Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Sự kiện
Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
aa

Tóm tắt: Sau 40 năm đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã chuyển đổi căn bản từ mô hình một cấp sang hai cấp, đóng vai trò trung tâm trong ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Bài viết này phân tích tiến trình hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam qua các giai đoạn cải cách, làm rõ những thành tựu nổi bật và thách thức trong từng giai đoạn. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng phát triển hệ thống ngân hàng trong kỷ nguyên số, với trọng tâm là tín dụng xanh, chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trụ cột của ngành Ngân hàng trong hành trình đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển nhanh, bền vững.

Từ khóa: Đổi mới, hệ thống ngân hàng, kỷ nguyên số, phát triển bền vững.

ACHIEVEMENTS AFTER 40 YEARS OF RENOVATION AND THE DEVELOPMENT ORIENTATION
OF VIETNAM’S BANKING SYSTEM IN THE DIGITAL ERA

Abstract: After 40 years of renovation, Vietnam’s banking system has undergone a fundamental transformation from a single-tier model to a two-tier system, playing a central role in macroeconomic stability, inflation control, and the promotion of national economic growth. This article analyzes the formation and development of Vietnam’s banking system through different stages of reform, highlighting major achievements and challenges in each period. On that basis, the article proposes development orientations for the banking system in the digital era, with a focus on green credit and digital transformation, thereby affirming the banking sector’s role as a key pillar in Vietnam’s journey toward fast and sustainable development.

Keywords: Renovation, banking system, digital era, sustainable development.

1. Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam

Lịch sử hình thành, phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam phản ánh trực tiếp tiến trình vận động và tư duy kinh tế của Đảng qua các kỳ Đại hội từ sau Cách mạng tháng Tám. Ngay từ giai đoạn 1945 - 1954, khi nền tài chính quốc gia bắt đầu hình thành, tư duy chi phối hoạt động ngân hàng gắn chặt với mục tiêu bảo vệ nền độc lập chính trị và chủ quyền tiền tệ. Sắc lệnh số 15/SL ngày 06/5/1951 của Chủ tịch nước về việc thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam - tiền thân của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thể hiện rõ nhận thức coi tiền tệ là công cụ trung tâm phục vụ kháng chiến và kiến quốc, đặt nền móng cho một thiết chế tài chính thống nhất dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Nhà nước.

Trong giai đoạn đất nước bị chia cắt (1954 - 1975), hệ thống ngân hàng miền Bắc vận hành theo định hướng phục vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, tập trung cấp vốn cho công nghiệp nặng và nông nghiệp tập thể. Những cải cách tài chính đặc thù như Quỹ ngoại tệ đặc biệt B29 hay Ban Tài chính đặc biệt N2683 cho thấy khả năng linh hoạt của hệ thống ngân hàng trong điều kiện chiến tranh, phản ánh tư duy coi tài chính là công cụ chiến lược của cách mạng Việt Nam.

Sau khi đất nước thống nhất, giai đoạn 1975 - 1985 chứng kiến việc duy trì mô hình ngân hàng một cấp trong điều kiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung. NHNN vừa thực hiện chức năng quản lý vừa thực hiện cấp phát vốn theo chỉ tiêu hành chính. Tuy nhiên, việc coi ngân hàng như thủ quỹ của ngân sách đã triệt tiêu các tín hiệu thị trường, tạo nên sự mất cân đối vĩ mô như GDP tăng trưởng khiêm tốn, trong khi đó lạm phát tăng cao… qua đó tạo tiền đề cho yêu cầu đổi mới tư duy tại Đại hội Đảng lần thứ VI (Hình 1).

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đánh dấu bước ngoặt căn bản trong nhận thức về vai trò của thị trường và hệ thống tài chính. Nghị định số 53-HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức bộ máy NHNN cùng các Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 khẳng định quan điểm đổi mới tư duy, tách bạch chức năng quản lý tiền tệ và chức năng kinh doanh ngân hàng. Mô hình hai cấp hình thành với NHNN giữ vai trò ngân hàng trung ương, các ngân hàng thương mại (NHTM) hoạt động theo nguyên tắc hạch toán, phù hợp với định hướng phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được xác lập tại Đại hội Đảng lần thứ VI và được củng cố tại Đại hội Đảng lần thứ VII. Đặc biệt, quan hệ với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và WB được khôi phục năm 1993 mở ra kênh vốn quốc tế quan trọng, thúc đẩy hiện đại hóa hạ tầng tài chính Việt Nam (IMF, 1996).

Giai đoạn từ sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 đặt hệ thống ngân hàng Việt Nam trước phép thử đầu tiên trong môi trường hội nhập khu vực. Mặc dù mức độ mở cửa tài khoản vốn còn hạn chế, áp lực tỉ giá và tình trạng nợ xấu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước bộc lộ rõ. Đại hội Đảng lần thứ VIII và IX phản ánh sự điều chỉnh tư duy, nhấn mạnh nhiệm vụ lành mạnh hóa tài chính quốc gia. Luật NHNN năm 1997 và Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 tạo khung pháp lý tiệm cận kinh tế thị trường, đặt nền móng cho quá trình đa dạng hóa kênh huy động vốn và hình thành thị trường chứng khoán.

Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 đưa hệ thống ngân hàng vào giai đoạn tăng trưởng nhanh chưa từng có. Tín dụng mở rộng mạnh mẽ, phản ánh kỳ vọng cao vào hội nhập quốc tế. Cảnh báo của IMF về rủi ro bong bóng tài sản và lạm phát cho thấy khoảng cách giữa tốc độ mở rộng tín dụng và năng lực quản trị rủi ro nội tại (IMF, 2007). Hệ quả của giai đoạn này là bất ổn vĩ mô năm 2011, buộc Đại hội Đảng lần thứ XI phải điều chỉnh ưu tiên sang ổn định kinh tế và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Đặc biệt, Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) được thành lập năm 2013 cho thấy cách tiếp cận xử lý nợ xấu mang tính chuyển tiếp, tạo dư địa cho phục hồi hệ thống.

Trong giai đoạn 2016 - 2020, tư duy điều hành hoạt động ngân hàng đã chuyển mạnh sang định hướng ổn định dài hạn. Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu và Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng, góp phần tăng cường năng lực xử lý nợ xấu, củng cố an toàn hệ thống và nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng. Đồng thời, các bước chuẩn bị triển khai Basel II, Basel III cho thấy sự tiệm cận ngày càng rõ nét với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

Giai đoạn 2021 - 2025 đặt hệ thống ngân hàng trước thách thức chưa từng có từ đại dịch Covid-19 và những biến động toàn cầu. Định hướng Đại hội Đảng lần thứ XIII coi ổn định vĩ mô là nền tảng đã được cụ thể hóa thông qua điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt. Kiểm soát lạm phát trong bối cảnh thế giới biến động mạnh phản ánh năng lực điều phối chính sách ngày càng trưởng thành của NHNN. Quá trình xử lý ngân hàng yếu kém và các vụ việc vi phạm nghiêm trọng cho thấy quyết tâm làm sạch hệ thống, đồng thời đặt ra yêu cầu chuyển đổi sang giám sát dựa trên dữ liệu và công nghệ. Đặc biệt, định hướng phát triển giai đoạn sau năm 2025 với trọng tâm là tài chính xanh, chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng tiếp tục khẳng định vai trò của ngành Ngân hàng là trụ cột dẫn dắt tăng trưởng kinh tế bền vững.

Bảng 1 khái quát chiến lược phát triển ngành Ngân hàng qua một số giai đoạn gắn với định hướng chỉ đạo của các kỳ Đại hội Đảng, thể hiện nhất quán tư duy về phát triển kinh tế - xã hội và điều hành vĩ mô của Đảng, đồng thời phản ánh rõ sự chuyển dịch từ mô hình quản lý hành chính sang quản trị theo nguyên tắc thị trường và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

2. Thành tựu và thách thức đối với hệ thống ngân hàng trong giai đoạn 2021 - 2025

Giai đoạn 2021 - 2025 đặt hệ thống ngân hàng Việt Nam trước sức ép lớn nhất kể từ sau đổi mới, khi môi trường kinh tế toàn cầu biến động mạnh do đại dịch Covid-19, xung đột địa chính trị và chu kỳ thắt chặt tiền tệ lan rộng. Định hướng Đại hội Đảng lần thứ XIII xác lập ổn định kinh tế vĩ mô là trụ cột then chốt đã tạo cơ sở tư duy cho điều hành chính sách tiền tệ mang tính linh hoạt cao. NHNN triển khai các công cụ điều tiết cung tiền, lãi suất và tỉ giá với cường độ điều chỉnh nhanh, phản ánh mức độ trưởng thành rõ rệt của năng lực điều hành so với các giai đoạn khủng hoảng trước đó.

Kết quả kiểm soát lạm phát giai đoạn 2021 - 2025 trong khoảng 1,84 - 3,63%, thể hiện hiệu quả phối hợp chính sách giữa tiền tệ và tài khóa, trong đó các biện pháp giảm thuế, phí đóng vai trò hỗ trợ cầu nội địa, còn chính sách tiền tệ duy trì định hướng thận trọng nhằm hạn chế rủi ro kỳ vọng lạm phát lan rộng theo xu hướng toàn cầu (IMF, 2025).

Năm 2023 đánh dấu bước đi mang tính lựa chọn chiến lược khi NHNN chủ động giảm lãi suất điều hành bốn lần với tổng biên độ 0,5 - 2,0%, trái ngược xu hướng tăng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Quyết định này chấp nhận áp lực điều chỉnh tỉ giá trong ngắn hạn nhằm ưu tiên duy trì dòng vốn tín dụng cho khu vực sản xuất, kinh doanh. Đến năm 2025, tăng trưởng GDP đạt 8,02% cùng mức lạm phát 3,21% phản ánh hiệu quả của định hướng ưu tiên kinh tế thực, đồng thời khẳng định vai trò trung tâm của chính sách tiền tệ trong điều tiết chu kỳ kinh tế tại Việt Nam (IMF, 2025).

Song song điều hành vĩ mô, tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng trở thành nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng. Kết quả tái cơ cấu thể hiện rõ qua quá trình chuyển giao bắt buộc các ngân hàng yếu kém như: Chuyển giao NHTM Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Xây dựng Việt Nam (CB) cho NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank); NHTM Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đại Dương (OceanBank) cho NHTM cổ phần Quân đội (MB).

Bên cạnh đó, chuyển dịch tín dụng xanh trở thành điểm nhấn cấu trúc của giai đoạn 2021 - 2025, gắn với cam kết Net Zero năm 2050 tại COP26. Dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 750.000 tỉ đồng vào cuối năm 2025 cho thấy thay đổi rõ rệt về định hướng phân bổ vốn (NHNN, 2025). Gói hỗ trợ lãi suất 2% cho các dự án năng lượng tái tạo, nông nghiệp bền vững và công nghệ môi trường phản ánh vai trò dẫn dắt của chính sách công trong điều chỉnh dòng vốn theo mục tiêu phát triển dài hạn. Xu hướng này phù hợp với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, nhấn mạnh hiệu quả công nghệ và giảm phụ thuộc tài nguyên.

Đặc biệt, chuyển đổi số và hạ tầng thanh toán ghi nhận tốc độ lan tỏa nhanh nhất trong lịch sử ngành Ngân hàng. Đề án 06 về dữ liệu dân cư tạo nền tảng cho triển khai eKYC trên diện rộng, góp phần nâng tỉ lệ giao dịch số hóa vượt 90% tại nhiều ngân hàng. Thanh toán không dùng tiền mặt phát triển mạnh thông qua QR Code và nền tảng di động, phản ánh sự hội tụ giữa công nghệ tài chính (Fintech) và nhu cầu tiêu dùng số của xã hội. IMF đánh giá cao khả năng chống chịu của kinh tế Việt Nam trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời ghi nhận tiến bộ rõ rệt trong năng lực điều hành chính sách tiền tệ của NHNN (IMF, 2024).

3. Định hướng phát triển chiến lược trong kỷ nguyên xanh và kỷ nguyên số

Văn kiện Đại hội XIV khẳng định giai đoạn 2026 - 2030 là bản lề để Việt Nam bước sang nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Tư duy phát triển hệ thống ngân hàng chuyển dịch rõ rệt từ cách tiếp cận quản lý dựa trên mệnh lệnh hành chính sang mô hình quản trị quốc gia dựa trên kiến tạo, dẫn dắt và chuẩn mực, mở ra yêu cầu điều chỉnh sâu sắc về công cụ điều hành, trong đó vai trò của các biện pháp thị trường và các chuẩn mực an toàn vốn quốc tế được đề cao. Các công cụ mang tính hành chính như trần tín dụng hay trần lãi suất được xem xét thu hẹp dần, nhường chỗ cho khuôn khổ điều hành dựa trên quản trị rủi ro, minh bạch thông tin và kỷ luật thị trường, phù hợp với định hướng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được khẳng định trong các văn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ XIV.

Việt Nam cũng định hướng hình thành Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh với cơ chế thử nghiệm chính sách vượt trội, hướng tới thu hút các định chế tài chính toàn cầu về Fintech và tài chính xanh. Trung tâm tài chính quốc tế là hạt nhân kết nối thị trường tài chính Việt Nam với mạng lưới khu vực, góp phần nâng cao vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị tài chính châu Á.

Ngoài ra, chuyển đổi xanh là chiến lược dài hạn của ngành Ngân hàng trong thập kỷ tới. Kế hoạch hành động quốc gia về kinh tế tuần hoàn được ban hành theo Quyết định số 222/QĐ-TTg ngày 23/01/2025 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định rõ nhu cầu vốn rất lớn cho năng lượng tái tạo, điện từ chất thải, tiết kiệm năng lượng và nâng cao hiệu quả tài nguyên. Ngành Ngân hàng được giao vai trò trung tâm trong huy động và phân bổ nguồn lực thông qua các công cụ tài chính mới như trái phiếu xanh và tín dụng chuỗi cung ứng bền vững.

Chuyển đổi số tiếp tục là trụ cột không thể tách rời của quá trình hiện đại hóa ngân hàng. Chiến lược phát triển Ngành đến năm 2030 đặt mục tiêu số hóa toàn diện quy trình nghiệp vụ, khai thác trí tuệ nhân tạo trong chấm điểm tín dụng nhằm mở rộng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dữ liệu là tài sản chiến lược giúp thay đổi căn bản mô hình kinh doanh ngân hàng, từ trung gian tài chính truyền thống sang nền tảng dịch vụ tài chính số. Nghiên cứu và triển khai tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) là bước đi chiến lược nhằm bảo vệ chủ quyền tiền tệ trong không gian số. Nghiên cứu về kinh nghiệm quốc tế cho thấy CBDC nâng cao hiệu quả thanh toán bán lẻ và hỗ trợ thực thi chính sách tiền tệ thông qua khả năng truyền dẫn nhanh và chính xác hơn (Nguyễn Đình Thọ, 2025). Đối với Việt Nam, CBDC được đặt trong mối liên hệ trực tiếp với yêu cầu phòng ngừa rủi ro từ các loại tiền kỹ thuật số tư nhân, đồng thời tăng cường khả năng quản lý dòng tiền trong nền kinh tế số đang phát triển nhanh.

Đặc biệt, định hướng vươn ra khu vực ASEAN tiếp tục được cụ thể hóa thông qua mục tiêu nâng cao quy mô và năng lực cạnh tranh của các NHTM. Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2030 nhấn mạnh yêu cầu hình thành các định chế có quy mô tài sản lớn, quản trị theo chuẩn mực

Basel II, Basel III và đủ năng lực cung ứng dịch vụ xuyên biên giới. Kiểm soát đô la hóa tiếp tục được xác định là trụ cột của ổn định tiền tệ, với mục tiêu đưa tỉ lệ tiền gửi ngoại tệ xuống dưới 5% và chuyển hẳn sang quan hệ mua - bán ngoại tệ theo cơ chế thị trường, qua đó củng cố niềm tin vào đồng Việt Nam. Trong bối cảnh tăng trưởng xuất khẩu đối mặt nhiều bất định, IMF nhấn mạnh trọng tâm tái cơ cấu thể chế gắn với ổn định khu vực tài chính. Đồng thời, việc tuân thủ các chuẩn mực về phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố được coi là điều kiện tiên quyết để hệ thống ngân hàng Việt Nam duy trì kết nối với mạng lưới tài chính toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh dòng vốn quốc tế dịch chuyển nhanh và khó lường (IMF, 2025).

4. Kết luận

Sau 40 năm đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có bước chuyển đổi căn bản, từ mô hình quản lý hành chính sang vận hành theo nguyên tắc thị trường, từng bước tiệm cận các chuẩn mực quốc tế và khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng. Trong kỷ nguyên mới, với trọng tâm là chuyển đổi số, tài chính xanh và hội nhập sâu rộng, ngành Ngân hàng tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong huy động, phân bổ nguồn lực cho phát triển kinh tế, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao trong khu vực và toàn cầu.

Tài liệu tham khảo:

1. IMF (1996 - 2025), Vietnam: Article IV Consultation: Staff Report, International Monetary Fund.

2. Nguyễn Đình Thọ (2025), Nghiên cứu triển khai CBDC: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách, Tạp chí Ngân hàng, https://tapchinganhang.gov.vn/nghien-cuu-trien-khai-tien-ky-thuat-so-ngan-hang-trung-uong-kinh-nghiem-quoc-te-va-ham-y-chinh-sach-16805.html

3. Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 04/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh.

4. Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

5. Soo-Nam Oh (1998), Financial deepening in the banking sector -Viet Nam, Asian Development Bank.

6. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam.

PGS.,TS. Nguyễn Đình Thọ
Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường - Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Tin bài khác

Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW

Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW

Sáng 30/6/2026, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp các Trưởng đoàn tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp các Trưởng đoàn tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026

Trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi tiếp các Trưởng đoàn tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 chiều ngày 09/6/2026.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: ASEAN cần hướng tới ba tầm vóc chiến lược

Thủ tướng Lê Minh Hưng: ASEAN cần hướng tới ba tầm vóc chiến lược

Sáng 09/6/2026, tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng dự và có bài phát biểu quan trọng tại phiên khai mạc Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 (ASEAN Future Forum - AFF 2026) với chủ đề: "Cùng định hình tương lai chung: Hòa bình, thịnh vượng, lấy người dân làm trung tâm".
Xây dựng tư duy số, văn hóa số và tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn ngành Ngân hàng

Xây dựng tư duy số, văn hóa số và tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn ngành Ngân hàng

Sáng 22/5/2026, Hội thi “Chuyển đổi số ngành Ngân hàng” năm 2026 với chủ đề “Chủ động số hóa - Bứt phá tương lai” nhằm chào mừng 75 năm thành lập Ngân hàng Việt Nam (06/5/1951 - 06/5/2026) và hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (11/5/2026) do Công đoàn Ngân hàng Việt Nam tổ chức chính thức khai mạc.
Dòng vốn ngân hàng "mở đường" cho mục tiêu tăng trưởng cao

Dòng vốn ngân hàng "mở đường" cho mục tiêu tăng trưởng cao

Trong bối cảnh áp lực lạm phát, tỉ giá và biến động tài chính quốc tế gia tăng, ngành Ngân hàng đang triển khai hàng loạt giải pháp nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng vẫn bảo đảm an toàn hệ thống tín dụng. Đây là những nội dung các chuyên gia, nhà khoa học thảo luận tại Tọa đàm “Vai trò của ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” do Thời báo Ngân hàng tổ chức ngày 08/5/2026.
Infographic: Các thành viên Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031

Infographic: Các thành viên Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031

Sáng 08/4, Quốc hội biểu quyết thông qua các Nghị quyết về phê chuẩn việc bổ nhiệm Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Ông Phạm Đức Ấn giữ chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Ông Phạm Đức Ấn giữ chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Sáng 08/4/2026, trong khuôn khổ Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm các thành viên của Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031, trong đó ông Phạm Đức Ấn được phê chuẩn giữ chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm 6 Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên Chính phủ

Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm 6 Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên Chính phủ

Với 100% đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội đã biểu quyết thông qua các Nghị quyết về phê chuẩn việc bổ nhiệm 6 Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và các thành viên của Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Xem thêm
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam