Khơi thông nguồn lực tài chính cho lộ trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp

Sự kiện
Trước áp lực kép từ biến động địa chính trị năng lượng và các rào cản thương mại xanh khắt khe, chuyển đổi xanh đã không còn là câu chuyện của tương lai mà trở thành yêu cầu cấp bách để kiến tạo sức chống chịu cho nền kinh tế. Trong khuôn khổ Tọa đàm “Chuyển đổi xanh - chìa khoá tiết kiệm nguồn lực” do Thời báo Ngân hàng tổ chức sáng 27/3/2026 tại Hà Nội, các chuyên gia quản lý và kinh tế đã cùng nhận diện những “điểm nghẽn” về vốn, công nghệ, dữ liệu. Đồng thời, nhiều đề xuất quan trọng về việc hoàn thiện Danh mục phân loại xanh, cơ chế hỗ trợ lãi suất từ ngân sách đã được gợi mở, nhằm khơi thông dòng vốn tín dụng, giúp ngành Ngân hàng thực hiện tốt vai trò dẫn dắt nền kinh tế hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.
aa

Năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm đầu tiên triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Đây là giai đoạn mở đầu cho một chu kỳ phát triển mới, với yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và tính bền vững của nền kinh tế. Tuy nhiên, những tháng đầu năm 2026 cũng đang đặt ra nhiều thách thức cho nền kinh tế, đặc biệt cuộc xung đột tại Trung Đông hiện tại đang đẩy giá nhiên liệu tăng cao, buộc các quốc gia trên thế giới phải khẩn trương ứng phó. Giá dầu tăng cao một mặt gây nhiều trở ngại cho tăng trưởng kinh tế, mặt khác tạo áp lực lớn đến lạm phát. Cuộc xung đột này càng nhấn mạnh thêm một yêu cầu cấp thiết hiện nay, đó là việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên nói chung, năng lượng hóa thạch nói riêng. Bởi chỉ có như vậy thì nền kinh tế mới có thể tăng trưởng và phát triển bền vững.

Ông Nguyễn Xuân Hải, Phó Tổng Biên tập Thời báo Ngân hàng tại Tọa đàm
Ông Nguyễn Xuân Hải, Phó Tổng Biên tập Thời báo Ngân hàng tại Tọa đàm

Nhận diện rõ thách thức này, ngày 20/8/2025, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó nhấn mạnh: “Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia là nền tảng, là tiền đề quan trọng để phát triển đất nước, là bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia”. Để hiện thực hóa mục tiêu này, một trong những giải pháp quan trọng được Nghị quyết số 70-NQ/TW đề ra là “đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, thực hiện linh hoạt cam kết quốc tế về giảm phát thải…”.

Điều này đòi hỏi không chỉ nền kinh tế, mà từng doanh nghiệp phải thay đổi tư duy phát triển, chuyển sang mô hình sản xuất - kinh doanh tiết kiệm năng lượng, tối ưu chi phí và từng bước chuyển đổi xanh. Chuyển đổi xanh, vì thế, không còn là câu chuyện của tương lai, mà đã trở thành yêu cầu cấp bách trong hiện tại, nhưng đồng thời cũng là cơ hội để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững hơn.

Trong tiến trình này, ngành Ngân hàng giữ vai trò đặc biệt quan trọng với tư cách là kênh dẫn vốn quan trọng cho nền kinh tế. Thời gian qua, hệ thống ngân hàng đã tích cực triển khai tín dụng xanh, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển năng lượng tái tạo, sản xuất sạch và thân thiện với môi trường. Đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng xanh đã đạt gần 780 nghìn tỉ đồng, chiếm khoảng 4,19% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Dù tỉ trọng này còn khiêm tốn, nhưng xu hướng tăng trưởng là rất tích cực, với tốc độ tăng năm sau cao hơn năm trước (năm 2024 tăng 9,5%; năm 2025 tăng 14,62%), cho thấy tín dụng xanh đang từng bước trở thành một dòng vốn quan trọng giúp nền kinh tế chuyển đổi xanh.

Trong thời gian tới, nhu cầu vốn cho tăng trưởng xanh của Việt Nam là rất lớn. Theo các ước tính, nhu cầu tài chính để thực hiện các cam kết giảm phát thải đến năm 2030 có thể lên tới gần 69 tỉ USD. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với hệ thống tài chính - ngân hàng trong việc mở rộng nguồn lực, hoàn thiện cơ chế và nâng cao hiệu quả phân bổ vốn cho các dự án xanh.

Trước những vấn đề cấp thiết đặt ra, Tọa đàm được tổ chức nhằm tạo diễn đàn trao đổi đa chiều giữa các nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng (TCTD). Qua đó, làm rõ thực trạng chuyển đổi xanh của nền kinh tế nói chung và cộng đồng doanh nghiệp nói riêng, nhận diện những khó khăn, thách thức trong quá trình triển khai; đồng thời thảo luận các giải pháp thúc đẩy tín dụng xanh, huy động hiệu quả các nguồn lực cho tăng trưởng bền vững. Với sự tham gia của các nhà khoa học, nhà quản lý và đại diện doanh nghiệp, Tọa đàm mang lại nhiều góc nhìn thiết thực, góp phần gợi mở các giải pháp chính sách để thúc đẩy tiến trình chuyển đổi xanh trong trong thời gian tới.

TS. Phạm Phan Dũng, chuyên gia kinh tế năng lượng (Bộ Công Thương): Hoàn thiện chính sách, khơi thông nguồn lực và đổi mới công nghệ cho chuyển đổi xanh

TS. Phạm Phan Dũng cho biết, trong bối cảnh giá năng lượng liên tục biến động và có xu hướng tăng cao, doanh nghiệp đang phải đối mặt với áp lực kép: Chi phí đầu vào gia tăng, trong khi các tiêu chuẩn “xanh” từ thị trường xuất khẩu ngày càng khắt khe. Điều này khiến chuyển đổi xanh không còn là lựa chọn, mà đã trở thành điều kiện bắt buộc để duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Thực tế cho thấy, các giải pháp tiết kiệm năng lượng mang lại hiệu quả rõ rệt trên ba phương diện: Giảm chi phí vận hành, nâng cao năng suất - chất lượng sản phẩm và cắt giảm phát thải. Quan trọng hơn, đây là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp duy trì khả năng tiếp cận các thị trường quốc tế, đặc biệt là những thị trường có tiêu chuẩn môi trường cao như Liên minh châu Âu (EU).

TS. Phạm Phan Dũng, chuyên gia kinh tế năng lượng (Bộ Công Thương) chia sẻ tại Tọa đàm
TS. Phạm Phan Dũng, chuyên gia kinh tế năng lượng (Bộ Công Thương) phát biểu tại Tọa đàm

Từ góc độ thực tiễn, chuyển đổi xanh không chỉ dừng lại ở việc thay đổi nguồn năng lượng, mà còn bao gồm đổi mới công nghệ, tối ưu hóa quy trình sản xuất và tăng cường thu hồi năng lượng. Những giải pháp cụ thể như chuyển đổi sang hệ thống chiếu sáng LED, sử dụng điều hòa inverter hay thu hồi nhiệt trong dây chuyền công nghiệp cho thấy, quá trình chuyển đổi hoàn toàn có thể bắt đầu từ những thay đổi nhỏ, song mang lại hiệu quả tích lũy lớn trong dài hạn.

Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở nguồn lực tài chính. Nhu cầu chuyển đổi là rõ ràng, nhưng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn hạn chế. Việc đầu tư đổi mới công nghệ, sử dụng năng lượng sạch hay tối ưu hóa hệ thống sản xuất đòi hỏi chi phí lớn, thời gian hoàn vốn dài, trong khi nguồn vốn trung và dài hạn còn thiếu.

Trong bối cảnh đó, nếu chỉ dựa vào nỗ lực tự thân của doanh nghiệp, quá trình chuyển đổi sẽ diễn ra chậm và thiếu đồng bộ. Do vậy, chính sách cần đóng vai trò dẫn dắt và kích hoạt thị trường, tập trung vào ba trụ cột chính: Hỗ trợ đổi mới công nghệ, hỗ trợ tài chính và hoàn thiện hành lang pháp lý. Đặc biệt, việc ưu tiên tín dụng xanh, định hướng dòng vốn vào các dự án chuyển đổi năng lượng, cùng với xây dựng danh mục ngành, nghề ưu tiên là những yếu tố then chốt để hệ thống ngân hàng có cơ sở triển khai.

Một khía cạnh quan trọng khác là mối liên hệ giữa chuyển đổi năng lượng và khả năng chống chịu của nền kinh tế. Trong bối cảnh biến động địa chính trị và nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng, sự phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu như than, dầu, khí tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do đó, phát triển năng lượng tái tạo, đa dạng hóa nguồn cung và đầu tư hạ tầng như trạm sạc xe điện không chỉ là yêu cầu về môi trường, mà còn là chiến lược bảo đảm an ninh kinh tế dài hạn. Như vậy, chuyển đổi năng lượng không chỉ xuất phát từ sức ép thị trường, mà còn gắn với mục tiêu nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế. Tuy nhiên, để hiện thực hóa các mục tiêu này, bài toán nguồn lực - đặc biệt là nguồn lực tài chính - có ý nghĩa quyết định.

Để dòng vốn xanh phát huy hiệu quả, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Các ngân hàng thương mại không thể đơn phương gánh vác vai trò hỗ trợ, nhất là trong việc giảm lãi suất cho các dự án xanh. Việc hỗ trợ lãi suất cần có sự tham gia từ ngân sách nhà nước, thay vì chỉ dựa vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Trong bối cảnh đó, đề xuất xây dựng Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được xem là hướng đi phù hợp. Theo đó, Quỹ sẽ huy động nguồn lực từ ngân sách và các tổ chức quốc tế, sau đó ủy thác qua hệ thống ngân hàng thương mại để giải ngân. Cách tiếp cận này vừa tận dụng được năng lực thẩm định và mạng lưới của ngân hàng, vừa góp phần giảm chi phí vốn, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn tài chính thuận lợi hơn.

Thực tế, nhiều tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), EU và các quỹ khí hậu đã sẵn sàng cung cấp nguồn vốn quy mô lớn cho các chương trình chuyển đổi xanh. Điều này cho thấy, chuyển đổi xanh không chỉ là vấn đề nội tại, mà còn nằm trong xu thế toàn cầu, nơi dòng vốn xanh đang trở thành một “dòng chảy” quan trọng của hệ thống tài chính quốc tế.

Nhìn tổng thể, vấn đề cốt lõi hiện nay là sự thiếu đồng bộ giữa nhu cầu chuyển đổi và khả năng tài chính để thực hiện chuyển đổi. Trong khi doanh nghiệp chịu áp lực phải thay đổi, thì cơ chế hỗ trợ chưa đủ mạnh để tạo cú hích cần thiết. Khoảng trống này nếu không được lấp đầy có thể làm chậm quá trình chuyển đổi xanh, thậm chí ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Đối với ngành Ngân hàng, đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội. Thách thức nằm ở việc cân bằng giữa mục tiêu lợi nhuận và yêu cầu hỗ trợ nền kinh tế; trong khi cơ hội đến từ việc mở rộng thị trường tín dụng xanh - một lĩnh vực được dự báo sẽ tăng trưởng mạnh trong thời gian tới. Điều quan trọng là cần một cơ chế chính sách đủ rõ ràng, ổn định để ngân hàng yên tâm triển khai, đồng thời thu hút hiệu quả dòng vốn quốc tế. Chuyển đổi xanh là bài toán liên ngành, trong đó tài chính - ngân hàng giữ vai trò trung tâm trong việc dẫn dắt dòng vốn. Để quá trình này thực sự hiệu quả, cần huy động tổng thể các nguồn lực thông qua hệ thống chính sách đồng bộ: Từ tín dụng ưu đãi, hỗ trợ lãi suất đến các cơ chế huy động vốn trong và ngoài nước.

Nguồn lực cho chuyển đổi xanh không phải là một “khoản tiền lớn” có sẵn, mà được hình thành từ nhiều kênh và chính sách khác nhau. Do đó, bên cạnh việc tiết kiệm, điều quan trọng hơn là sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả, nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm thân thiện môi trường và hình thành mô hình sản xuất tuần hoàn. Đây chính là nền tảng để chuyển đổi xanh đi vào thực chất và tạo ra giá trị bền vững cho nền kinh tế.

PGS., TS. Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Áp lực đa chiều tạo cơ hội tái cấu trúc mô hình tăng trưởng

Theo PGS., TS. Nguyễn Đình Thọ, áp lực đầu tiên đến từ sự cạn kiệt “vốn tự nhiên”. Theo các báo cáo quốc tế về dấu chân sinh thái, nền kinh tế Việt Nam hiện đang thâm hụt khoảng 220% năng lực hệ sinh thái. Điều này đồng nghĩa với việc mức độ khai thác và sử dụng tài nguyên đã vượt xa khả năng tái tạo và chịu tải của môi trường. Cùng với xu thế toàn cầu khi khoảng 40% diện tích đất đai đã bị suy thoái, Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy này. Trong bối cảnh đó, bài toán sử dụng đất trở thành một “trò chơi tổng bằng không” - mở rộng công nghiệp, đô thị đồng nghĩa với thu hẹp đất nông nghiệp và đất rừng. Quá trình công nghiệp hóa kéo dài nhiều thập kỷ và dự kiến tiếp tục tăng tốc trong thời gian tới càng làm gia tăng sức ép lên tài nguyên.

Bên cạnh đó, an ninh năng lượng nổi lên như một thách thức mang tính cốt tử. Thực tế cho thấy, với mỗi 1% tăng trưởng GDP, nhu cầu năng lượng có thể tăng tới 1,7 - 2 lần, tương đương mức tăng 12 - 14%/năm khi nền kinh tế tăng trưởng khoảng 7%. Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng cao hơn, áp lực này càng trở nên rõ nét. Những biến động địa chính trị toàn cầu, như các sự kiện tại eo biển Hormuz hay xung đột Nga - Ukraine, đã cho thấy mức độ nhạy cảm và dễ tổn thương của hệ thống năng lượng. Năng lượng hóa thạch tuy có chi phí thấp nhưng tiềm ẩn rủi ro lớn về an ninh và ổn định nguồn cung. Vì vậy, phát triển năng lượng tái tạo không chỉ là xu hướng mà là con đường tất yếu nhằm giảm thiểu các cú sốc và đứt gãy chuỗi cung ứng năng lượng.

PGS.,TS. Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường phát biểu tại Tọa đàm
PGS.,TS. Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phát biểu tại Tọa đàm

Ở một khía cạnh khác, các rào cản thương mại xanh đang ngày càng gia tăng và trở thành “luật chơi mới” trong thương mại toàn cầu. Các cơ chế như điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), quy định chống phá rừng hay các tiêu chuẩn môi trường khắt khe từ các thị trường nhập khẩu lớn đã và đang tạo ra áp lực trực tiếp đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Ngay cả khi còn trong giai đoạn chuyển tiếp, yêu cầu báo cáo phát thải cũng đã là gánh nặng đáng kể đối với doanh nghiệp. Đáng chú ý, các rào cản này không chỉ xuất phát từ mục tiêu môi trường mà còn mang yếu tố bảo hộ thương mại, buộc các quốc gia xuất khẩu phải thích ứng nếu không muốn bị loại khỏi chuỗi giá trị toàn cầu.

Song song với đó, sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng cũng đang thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh. Người tiêu dùng ngày càng đề cao trách nhiệm môi trường, coi việc lựa chọn sản phẩm thân thiện với sinh thái và đa dạng sinh học là một chuẩn mực đạo đức. Những sản phẩm không đáp ứng các tiêu chí này có nguy cơ bị tẩy chay, qua đó tạo sức ép trực tiếp lên doanh nghiệp.

Đặc biệt, các cam kết chính trị quốc tế của Việt Nam đã đặt ra những mục tiêu cụ thể và đầy thách thức. Từ cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” (Net Zero), thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) với mức giảm phát thải 15,8% không điều kiện và 43,5% có điều kiện vào năm 2030, đến mục tiêu bảo vệ 30% diện tích đất liền và biển (30 x 30), hay lộ trình đạt đỉnh phát thải điện than vào năm 2030 trong khuôn khổ Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP), tất cả đều tạo ra áp lực chuyển đổi sâu rộng đối với nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp.

Dù đối mặt với nhiều thách thức, chuyển đổi xanh đồng thời tạo ra những động lực mới để nâng cao hiệu quả kinh tế. Việc giảm cường độ phát thải và tiêu hao năng lượng trên mỗi đồng GDP không chỉ là cam kết chính trị (Net Zero, NDC) mà còn là giải pháp tiết kiệm trực tiếp cho từng hộ gia đình và doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, dù kinh tế tăng trưởng nhưng tốc độ tăng tiêu thụ năng lượng đã thấp hơn các năm trước, mở ra cơ hội tăng trưởng bền vững hơn.

Bên cạnh đó, việc áp dụng các tiêu chuẩn công trình xanh như LEED (do Hội đồng Công trình xanh Hoa Kỳ - USGBC phát triển), Lotus (do Hội đồng Công trình Xanh Việt Nam - VGBC phát triển)… đã giúp doanh nghiệp giảm đáng kể chi phí vận hành về điện, nước và vật liệu, từ đó trực tiếp nâng cao biên lợi nhuận và năng lực cạnh tranh lâu dài. Kinh tế tuần hoàn cũng mở ra không gian phát triển mới khi biến chất thải thành tài nguyên. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mô hình này, cần một cuộc cải cách đồng bộ về hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và cơ chế pháp lý.

Thực tế cho thấy, nhiều loại chất thải công nghiệp như tro xỉ, xỉ than hoàn toàn có thể tái sử dụng làm vật liệu xây dựng, nhưng vẫn gặp rào cản về thủ tục và quy định. Đồng thời, những mô hình như mua bán điện trực tiếp (DPPA), phát triển hệ sinh thái năng lượng áp mái, hay sự kết hợp giữa hệ thống lưu trữ điện mặt trời và hạ tầng xe điện sẽ tạo ra các giá trị kinh tế mới, giúp tận dụng tối đa nguồn lực sẵn có trong dân cư và doanh nghiệp.

Nhìn tổng thể, chuyển đổi xanh đặt ra những thách thức chưa từng có, từ nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng đến rủi ro đối với sự tồn tại của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu được tiếp cận đúng hướng, đây cũng chính là cơ hội để tái cấu trúc mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng phát triển và củng cố năng lực cạnh tranh quốc gia. Vấn đề cốt lõi không nằm ở việc có chuyển đổi hay không, mà là chuyển đổi như thế nào để vừa đáp ứng yêu cầu quốc tế, vừa đảm bảo lợi ích lâu dài của nền kinh tế.

Trong lộ trình hiện thực hóa các cam kết về khí hậu, việc xây dựng một bộ tiêu chí thống nhất để định danh các dự án bền vững là yêu cầu cấp thiết. Việt Nam đã đạt được những bước tiến quan trọng trong việc xây dựng Danh mục phân loại xanh, một công cụ then chốt để các tổ chức tài chính quốc tế và trong nước nhận diện, hỗ trợ tín dụng cho các dự án bảo vệ môi trường.

Quá trình xây dựng danh mục này là một thách thức lớn, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành và tham chiếu khắt khe từ các tổ chức quốc tế như Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ), Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), WB. Bộ tiêu chí của Việt Nam được thiết kế để đảm bảo tính hài hòa với các tiêu chuẩn của EU và ASEAN. Điều này có ý nghĩa sống còn: Khi Việt Nam xác nhận một dự án đạt chuẩn "xanh", các định chế tài chính toàn cầu cũng sẽ công nhận tương đương, từ đó giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn quốc tế thuận lợi hơn.

Điểm mới trong các chính sách hiện nay là sự mở rộng từ tiêu chí "xanh" thuần túy sang các mô hình kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi xanh. Thay vì chỉ tập trung vào các dự án mới hoàn toàn sạch, danh mục này còn mở đường cho các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực phát thải cao (như thép, xi măng, hóa chất) thực hiện lộ trình chuyển đổi thông qua việc áp dụng công nghệ thu hồi nhiệt thải, khí thải và tuần hoàn nguồn nước. Hiện nay, dù tỉ trọng tín dụng xanh mới chỉ chiếm khoảng 4,2% nền kinh tế, nhưng với tốc độ tăng trưởng từ 12 - 14% mỗi năm, đây chính là động lực mới cho cấu trúc tăng trưởng bền vững.

Dù đã có những thành công nhất định, thách thức lớn nhất hiện nay nằm ở việc xây dựng bộ tiêu chí ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) cấp độ doanh nghiệp. Khác với việc định danh một dự án cụ thể vốn khá trực quan, việc đánh giá tính "xanh" của cả một tập đoàn đa ngành là bài toán phức tạp. Do đó, sự phối hợp giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong việc "nội luật hóa" các tiêu chuẩn quốc tế là điều kiện tiên quyết để xây dựng một hệ sinh thái tài chính minh bạch.

Việc sớm ban hành và thực thi Danh mục phân loại xanh không chỉ là thực hiện trách nhiệm chính trị mà còn là giải pháp bảo vệ doanh nghiệp trước các rào cản thương mại xanh như cơ chế CBAM của EU, đồng thời tạo đà để Việt Nam thu hút các nguồn lực đầu tư thế hệ mới trong tương lai.

Bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN: Ngành Ngân hàng ưu tiên phân bổ vốn cho các ngành, lĩnh vực mang lại lợi ích môi trường

Theo bà Phạm Thị Thanh Tùng, chuyển đổi xanh và tăng trưởng xanh không còn là khái niệm mới, song yêu cầu đối với nội hàm “xanh” ngày càng được nâng cao, cụ thể hóa theo từng giai đoạn phát triển của kinh tế thế giới. Trong bối cảnh hiện nay, phát triển bền vững đã trở thành yêu cầu cấp thiết, đồng thời là định hướng chiến lược của hầu hết các quốc gia.

Tại Việt Nam, định hướng này đã được xác lập từ sớm thông qua Chiến lược tăng trưởng xanh giai đoạn 2011 - 2020 và tiếp tục được kế thừa, nâng tầm trong Chiến lược tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Việc triển khai các chiến lược này đòi hỏi nguồn lực tài chính rất lớn, được huy động từ nhiều kênh, trong đó tín dụng ngân hàng giữ vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là khi hệ thống ngân hàng là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế.

Nhận thức rõ vai trò này, ngành Ngân hàng đã tham gia thúc đẩy tài chính xanh từ khá sớm. Ngay từ năm 2015, NHNN đã ban hành các văn bản định hướng thúc đẩy tín dụng xanh, đồng thời yêu cầu các TCTD tăng cường quản lý rủi ro môi trường - xã hội trong hoạt động cấp tín dụng. Nội dung này tiếp tục được lồng ghép trong các chiến lược phát triển của ngành như Đề án phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Đề án ngân hàng xanh và các chương trình tái cơ cấu hệ thống TCTD.

Theo đó, các TCTD được định hướng ưu tiên phân bổ vốn cho các lĩnh vực năng lượng tái tạo, sử dụng năng lượng tiết kiệm, cũng như các ngành mang lại lợi ích môi trường. Đồng thời, nhiều chương trình tín dụng cụ thể đã được triển khai, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp như sản xuất sạch, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ và kinh tế tuần hoàn, với các cơ chế ưu đãi về lãi suất, tài sản bảo đảm và quản lý rủi ro.

Bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN cho biết, Ngành Ngân hàng ưu tiên phân bổ vốn cho các ngành, lĩnh vực mang lại lợi ích môi trường
Bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN phát biểu tại Tọa đàm

Một ví dụ điển hình là chương trình tín dụng hỗ trợ phát triển 1 triệu ha lúa phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long, với mức lãi suất thấp hơn khoảng 1% so với thông thường. Chương trình không chỉ góp phần giảm chi phí đầu vào mà còn nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm phát thải.

Cùng với việc định hướng dòng vốn, khung khổ pháp lý về quản lý rủi ro môi trường - xã hội trong hoạt động tín dụng cũng từng bước được hoàn thiện. Nếu như trước đây các quy định chủ yếu mang tính khuyến khích, thì từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực, yêu cầu này đã được luật hóa, buộc 100% TCTD phải xây dựng quy trình nội bộ nhằm kiểm soát rủi ro đối với các dự án có tác động tiêu cực đến môi trường, qua đó tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế.

Sau hơn một thập kỷ triển khai, nhận thức và hành động của các TCTD đã có sự chuyển biến rõ rệt. Quy mô và tốc độ tăng trưởng tín dụng xanh gia tăng mạnh mẽ. Nếu năm 2017 chỉ có 15 TCTD tham gia cho vay xanh, thì đến nay con số này đã tăng lên 78 TCTD. Dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 780 nghìn tỉ đồng, chiếm 4,2% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, với tốc độ tăng trưởng bình quân 22 - 23%/năm. Dòng vốn này tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực như nông nghiệp xanh, năng lượng tái tạo, công trình xanh và giao thông vận tải xanh.

Về cơ chế chính sách, ngành Ngân hàng không áp dụng hạn mức riêng đối với tín dụng xanh, mà xác định đây là một trong những động lực tăng trưởng mới, qua đó ưu tiên bố trí nguồn lực phù hợp. Tuy nhiên, trong thời gian qua, các TCTD chủ yếu sử dụng nguồn lực của chính mình để giảm lãi suất, hỗ trợ doanh nghiệp, trong khi cơ chế hỗ trợ từ ngân sách nhà nước còn hạn chế.

Theo định hướng mới, vai trò của Nhà nước trong hỗ trợ tài chính cho chuyển đổi xanh sẽ được tăng cường rõ nét hơn. Các chính sách gần đây đã đề cập đến việc hỗ trợ lãi suất khoảng 2% đối với các doanh nghiệp, hộ kinh doanh triển khai dự án xanh, kinh tế tuần hoàn hoặc đáp ứng tiêu chuẩn ESG. Hiện nay, NHNN đang hoàn thiện khung pháp lý để triển khai chính sách này, sau khi các danh mục phân loại xanh và tiêu chí ESG được ban hành đầy đủ.

Tuy nhiên, một trong những thách thức lớn hiện nay là việc xác định chính xác đối tượng thụ hưởng chính sách. Việc phân loại dự án xanh, dự án tuần hoàn hay ESG vốn đã phức tạp, trong khi yêu cầu sử dụng nguồn lực ngân sách đòi hỏi tính minh bạch và chính xác cao. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc hoàn thiện các danh mục, tiêu chí rõ ràng, làm cơ sở để hệ thống ngân hàng triển khai chính sách đúng đối tượng, hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiện.

Bên cạnh đó, cơ chế hỗ trợ lãi suất thông qua hệ thống ngân hàng cũng bộc lộ một số bất cập trong thực tiễn. Việc ngân hàng vừa thực hiện cho vay, vừa tạm ứng nguồn lực để hỗ trợ lãi suất, sau đó chờ ngân sách nhà nước cấp bù, đã tạo áp lực tài chính nhất định cho các TCTD, nhất là khi việc hoàn trả còn chậm trễ.

Trước thực tế này, NHNN đang xây dựng và trình Chính phủ một cơ chế mới theo hướng phân định rõ vai trò giữa ngân hàng và ngân sách nhà nước. Theo đó, các TCTD sẽ thực hiện đúng chức năng cốt lõi là thẩm định và cho vay, trong khi việc hỗ trợ lãi suất sẽ do ngân sách nhà nước thực hiện thông qua hệ thống kho bạc. Đồng thời, chính quyền địa phương sẽ chủ động sử dụng ngân sách địa phương, kết hợp với hỗ trợ từ ngân sách trung ương, để lựa chọn và hỗ trợ các doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu thực tiễn trên địa bàn. Cách tiếp cận này không chỉ giúp giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng, mà còn nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, bảo đảm chính sách đi vào thực chất và đúng đối tượng thụ hưởng.

Trong thời gian tới, NHNN sẽ tập trung vào hai trọng tâm chính: Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý về tín dụng xanh, đặc biệt là các quy định liên quan đến hỗ trợ lãi suất và xác định danh mục đối tượng thụ hưởng. Thứ hai, tiếp tục nghiên cứu, tham mưu các cơ chế hỗ trợ cho các TCTD thông qua các công cụ chính sách như tái cấp vốn, chiết khấu, điều chỉnh tỉ lệ dự trữ bắt buộc… nhằm tạo thêm nguồn lực cho hoạt động cho vay xanh.

Có thể thấy, trong bối cảnh các điều kiện về thể chế, tiêu chuẩn và chính sách ngày càng được hoàn thiện, tín dụng xanh đang đứng trước cơ hội phát triển mạnh mẽ. Khi các “điểm nghẽn” về cơ chế được tháo gỡ, dòng vốn ngân hàng sẽ tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những động lực then chốt, thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh và phát triển bền vững của nền kinh tế.

TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường đào tạo cán bộ, Phó Trưởng ban Ban chỉ đạo ESG của Agribank: Không chỉ doanh nghiệp, các TCTD cũng phải thích ứng với chuyển đổi xanh

TS. Nguyễn Thị Thu Hà cho biết, là ngân hàng thương mại nhà nước hoạt động chủ lực trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, Agribank xác định rõ vai trò trong thực hiện các cam kết lớn của Chính phủ như mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, cũng như giảm phát thải mê-tan trong nông nghiệp. Trong bối cảnh đó, ngân hàng đã chủ động xây dựng nhiều chương trình tín dụng phục vụ chuyển đổi xanh.

Ngay từ cuối năm 2016, Agribank đã triển khai chương trình cho vay nông nghiệp sạch, ứng dụng công nghệ cao với quy mô 50.000 tỉ đồng, lãi suất thấp hơn từ 0,5 - 1,5% so với mức thông thường. Đây là một trong những chương trình tín dụng xanh quy mô lớn được triển khai sớm trong hệ thống ngân hàng.

Bên cạnh đó, Agribank tiếp tục tham gia các chương trình tín dụng gắn với định hướng phát triển bền vững của ngành nông nghiệp. Một điểm nhấn là việc tham gia dự án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp, với gói tín dụng 30.000 tỉ đồng, áp dụng mức ưu đãi lãi suất tương tự. Ngoài ra, Agribank cũng triển khai các gói tín dụng cho lĩnh vực hạ tầng như điện, giao thông với quy mô 60.000 tỉ đồng; đồng thời có các sản phẩm tín dụng phục vụ nhu cầu tiêu dùng xanh.

TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường đào tạo cán bộ, Phó Trưởng ban Ban chỉ đạo ESG của Agribank phát biểu tại Tọa đàm
TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường đào tạo cán bộ, Phó Trưởng ban Ban chỉ đạo ESG của Agribank phát biểu tại Tọa đàm

Không chỉ dừng lại ở cung cấp vốn, Agribank còn đẩy mạnh hoạt động kết nối, truyền thông và làm việc trực tiếp với doanh nghiệp. Gần đây, ngân hàng đã tổ chức hội nghị khách hàng doanh nghiệp xanh tại Thành phố Hồ Chí Minh, qua đó ký kết khoảng hơn 700 tỉ đồng cho các dự án liên quan đến nông nghiệp xanh và ứng phó biến đổi khí hậu .

Tuy nhiên, kết quả triển khai tín dụng xanh vẫn còn nhiều khó khăn. Mặc dù nhiều gói tín dụng đã được đưa ra, lãi suất ưu đãi và nguồn vốn sẵn sàng, nhưng tỉ lệ giải ngân thực tế vẫn thấp. Từ năm 2017 đến nay, số doanh nghiệp đáp ứng được điều kiện vay vốn còn hạn chế. Nguyên nhân trước hết đến từ phía doanh nghiệp, đại diện Agribank chỉ ra nhiều doanh nghiệp chưa chủ động chuyển đổi do lo ngại chi phí cao, trong khi các dự án xanh thường có thời gian thu hồi vốn dài. Bên cạnh đó, các điều kiện, thủ tục và yêu cầu về chứng nhận “xanh” cũng là rào cản khiến doanh nghiệp khó tiếp cận vốn.

Một khó khăn khác là vấn đề công nghệ và nhân lực. Việc áp dụng công nghệ mới trong sản xuất xanh đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư cả về kỹ thuật lẫn nguồn nhân lực, trong khi đây vẫn là điểm yếu của nhiều doanh nghiệp hiện nay. Đáng chú ý, cả ngân hàng và doanh nghiệp đều gặp vướng mắc liên quan đến dữ liệu. Việc đo lường, theo dõi và so sánh các chỉ tiêu về môi trường cần có dữ liệu tích hợp trong nhiều năm, trong khi hệ thống dữ liệu hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu.

Về phía ngân hàng, khó khăn không chỉ nằm ở việc thẩm định mà còn ở cơ chế triển khai. Đối với các chương trình hỗ trợ lãi suất, ngân hàng phải ứng vốn trước, sau đó mới thực hiện thủ tục hoàn trả, trong khi quy trình hồ sơ còn phức tạp. Đồng thời, trách nhiệm đối với các khoản vay này cũng cao hơn so với tín dụng thông thường, khiến quá trình triển khai gặp nhiều áp lực.

Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, bối cảnh đã có những thay đổi rõ rệt. Theo đại diện Agribank, sự vào cuộc mạnh mẽ của Chính phủ, NHNN và các bộ, ngành, cùng với việc Luật Bảo vệ môi trường có hiệu lực từ năm 2022, đã tạo ra áp lực và động lực mới đối với doanh nghiệp trong chuyển đổi xanh

Bên cạnh đó, các quy định từ thị trường quốc tế, đặc biệt là EU, đang trở thành yếu tố thúc đẩy trực tiếp. Các yêu cầu như quy định chống phá rừng, cơ chế điều chỉnh biên giới carbon, tiêu chuẩn về bao bì, tái chế, thiết kế sản phẩm xanh hay quy định liên quan đến “chống tẩy xanh” buộc doanh nghiệp phải thay đổi nếu muốn duy trì thị trường xuất khẩu, mở rộng sản xuất và thu hút nhà đầu tư.

Để thúc đẩy tín dụng xanh, Agribank sẽ tiếp tục triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, từ việc xây dựng các gói tín dụng chuyên biệt, tăng cường truyền thông, đến chủ động làm việc với doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận vốn. Đồng thời, ngân hàng cũng phối hợp với các cơ quan quản lý và tổ chức quốc tế trong việc triển khai các chương trình lớn, vừa hỗ trợ nguồn vốn, vừa bổ sung yếu tố kỹ thuật.

Thực tiễn tại Agribank cho thấy, bài toán tín dụng xanh không chỉ nằm ở phía cung vốn mà phụ thuộc lớn vào khả năng hấp thụ của doanh nghiệp. Khi các rào cản về chi phí, công nghệ, dữ liệu và thủ tục từng bước được tháo gỡ, dòng vốn xanh mới có thể phát huy hiệu quả, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh của nền kinh tế.

Bà Đỗ Kim Tuyến, CFO An Việt Group: Chuyển đổi xanh theo hướng tích hợp đa lĩnh vực

Theo bà Đỗ Kim Tuyến, hành trình giảm phát thải và chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh không chỉ đặt ra nhiều thách thức, mà đồng thời mở ra những lợi ích rõ rệt về tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả vận hành và gia tăng năng lực cạnh tranh.

Xuất phát từ nhu cầu môi trường ngày càng cấp thiết, An Việt Group đã triển khai các giải pháp theo hướng tích hợp đa lĩnh vực, gồm công nghệ thông tin, nông nghiệp và thực phẩm, với tổng cộng 13 doanh nghiệp thành viên. Trong đó, điểm nhấn nằm ở việc ứng dụng công nghệ sinh học và công nghệ môi trường vào thực tiễn sản xuất.

Một trong những mô hình tiêu biểu là sản phẩm xử lý ô nhiễm dầu bằng công nghệ sinh học. Giải pháp này đã được triển khai thực tế tại Cam Ranh (Khánh Hòa), cho thấy hiệu quả rõ rệt khi biến những khu vực nước ô nhiễm nặng thành môi trường trong sạch, hệ sinh thái phục hồi. Theo ghi nhận, trước khi xử lý, nguồn nước bị nhiễm dầu có màu vàng đục, cây cối xung quanh héo úa. Sau một thời gian áp dụng công nghệ, nước trở nên trong như nước lọc, thảm thực vật phục hồi xanh tốt. Không dừng lại ở đó, doanh nghiệp đang hướng tới mở rộng ứng dụng giải pháp này trên quy mô lớn, trong đó có kế hoạch triển khai tại hệ thống cửa hàng xăng dầu trên toàn quốc.

An Việt Group cũng tiếp nhận và triển khai công nghệ xử lý chất thải chăn nuôi từ Nhật Bản. Khác với phương pháp biogas truyền thống, công nghệ này cho phép xử lý toàn bộ chất thải thành nước sạch có thể tái sử dụng, thậm chí dùng cho con người và vật nuôi. Không chỉ giải quyết bài toán môi trường, hệ thống còn tạo ra sản phẩm phụ có thể dùng làm chế phẩm sinh học, hỗ trợ cây trồng và cải thiện tiêu hóa. Những mô hình này cho thấy, chuyển đổi xanh không chỉ dừng lại ở việc giảm phát thải, mà còn tạo ra giá trị gia tăng mới, mở rộng chuỗi sản phẩm và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Bà Đỗ Kim Tuyến, CFO An Việt Group phát biểu tại Tọa đàm
Bà Đỗ Kim Tuyến, CFO An Việt Group phát biểu tại Tọa đàm

Bên cạnh các giải pháp môi trường, yếu tố công nghệ cũng được doanh nghiệp tận dụng để tối ưu hóa hoạt động sản xuất - kinh doanh, qua đó gián tiếp giảm phát thải. Trong lĩnh vực cung cấp thực phẩm cho trường học, An Việt Group phải vận hành đội xe giao vận lớn, kéo theo chi phí nhân sự và năng lượng đáng kể. Để giải bài toán này, doanh nghiệp đã phát triển phần mềm quản lý vận tải, cho phép giám sát hành trình, tiến độ giao hàng theo thời gian thực.

Thay vì phụ thuộc vào phương thức điều hành thủ công, doanh nghiệp có thể kiểm soát toàn bộ hệ thống chỉ từ văn phòng. Giải pháp này không chỉ giúp tiết kiệm nhân lực mà còn tối ưu hóa lộ trình vận chuyển, giảm tiêu hao nhiên liệu và nâng cao chất lượng dịch vụ. Đây là minh chứng rõ nét cho việc chuyển đổi số có thể trở thành công cụ quan trọng trong quá trình chuyển đổi xanh. Không nhất thiết phải đầu tư lớn vào công nghệ sản xuất ngay từ đầu, doanh nghiệp hoàn toàn có thể bắt đầu từ việc cải thiện hiệu quả vận hành, logistics và quản trị.

Tuy nhiên, từ thực tiễn triển khai, bà Đỗ Kim Tuyến cũng cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay vẫn là vấn đề vốn. Trong bối cảnh chi phí đầu vào, đặc biệt là giá xăng dầu, biến động mạnh, doanh nghiệp chịu áp lực gia tăng chi phí, trong khi đầu ra khó điều chỉnh tương ứng. Bên cạnh đó, lãi suất vay vốn tăng cũng làm thu hẹp khả năng đầu tư cho các dự án xanh.

Đối với các mô hình công nghệ mới, dù hiệu quả rõ ràng, việc triển khai vẫn gặp khó khăn do hạn chế về nguồn lực tài chính. Vì vậy, để thúc đẩy chuyển đổi xanh ở quy mô lớn, cần có sự đồng hành mạnh mẽ hơn từ phía chính sách, đặc biệt là cơ chế tài chính dành riêng cho các dự án xanh. Những cơ chế này không chỉ giúp doanh nghiệp giảm áp lực chi phí mà còn tạo động lực để đầu tư vào các mô hình mới, góp phần lan tỏa các giải pháp hiệu quả ra toàn nền kinh tế.

Thông điệp xuyên suốt được đặt ra là sự thống nhất về nhận thức và hành động trong toàn xã hội đối với mục tiêu chuyển đổi xanh. Đây không phải là nhiệm vụ riêng của cơ quan quản lý hay cộng đồng doanh nghiệp, mà đòi hỏi sự tham gia đồng bộ từ chính sách, tổ chức đến từng người dân. Trong đó, công tác truyền thông đóng vai trò then chốt trong việc lan tỏa nhận thức, giúp mọi chủ thể hiểu rõ ý nghĩa và lợi ích của chuyển đổi xanh, từ đó hình thành sự đồng thuận và chủ động hành động. Khi tất cả cùng hướng tới một mục tiêu chung, phát huy tinh thần trách nhiệm và đóng góp trong phạm vi của mình, chuyển đổi xanh sẽ trở thành một hành trình chung của toàn xã hội, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững.

Các vị đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Tọa đàm
Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Tọa đàm
Hương Giang - Văn Lâm - Lê Minh

Tin bài khác

Thanh niên với tương lai đất nước

Thanh niên với tương lai đất nước

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm với tiêu đề: “THANH NIÊN VỚI TƯƠNG LAI ĐẤT NƯỚC”.
Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân

Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm với tiêu đề "Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân".
Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người gieo mầm “Mùa xuân cách mạng”

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người gieo mầm “Mùa xuân cách mạng”

Bài viết khắc họa hành trình gieo mầm và vun trồng “Mùa xuân cách mạng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những dấu mốc lịch sử trọng đại của dân tộc, từ khởi nguồn lý tưởng cứu nước đến khát vọng phát triển trong kỷ nguyên vươn mình hôm nay.
Lan tỏa thông điệp sử dụng tiền văn minh để khơi dậy nét đẹp văn hóa Tết

Lan tỏa thông điệp sử dụng tiền văn minh để khơi dậy nét đẹp văn hóa Tết

Sáng 04/02/2025, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Sử dụng tiền văn minh và thanh toán an toàn trong dịp Tết”. Tọa đàm được tổ chức như một diễn đàn kết nối đa chiều, quy tụ ý kiến của các nhà nghiên cứu văn hóa, các chuyên gia có uy tín trong xã hội, các cơ quan quản lý chính sách… nhằm gợi mở những giải pháp an toàn, hiệu quả trong việc sử dụng tiền và thanh toán dịp Tết.
VỮNG BƯỚC DƯỚI CỜ ĐẢNG

VỮNG BƯỚC DƯỚI CỜ ĐẢNG

Trân trọng giới thiệu bài viết "VỮNG BƯỚC DƯỚI CỜ ĐẢNG" của Tổng Bí thư Tô Lâm nhân dịp kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2026).
Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: TIẾN LÊN! TOÀN THẮNG ẮT VỀ TA!

Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: TIẾN LÊN! TOÀN THẮNG ẮT VỀ TA!

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: TIẾN LÊN! TOÀN THẮNG ẮT VỀ TA!
Xem thêm
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Bài viết phân tích toàn diện khung pháp lý về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại các tổ chức tín dụng, đánh giá khả năng triển khai trong thực tiễn hoạt động ngân hàng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm tính khả thi, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực tín dụng có tài sản bảo đảm.
Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Bài viết phân tích các quy định mới của Nghị định số 06/2026/NĐ-CP ngày 10/01/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), qua đó làm rõ vai trò của việc hoàn thiện khung pháp lý trong nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách, thúc đẩy tài chính toàn diện và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Bài viết phân tích thực trạng khung pháp lý thúc đẩy Môi trường - Xã hội - Quản trị (ESG) trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị hoàn thiện chính sách nhằm tăng cường quản trị rủi ro bền vững và định hướng dòng vốn theo mục tiêu phát triển xanh.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành