Chính sách tiền tệ, tín dụng thúc đẩy chuyển đổi xanh và bền vững cho khu vực hợp tác xã

Hoạt động ngân hàng
Mặc dù quá trình chuyển đổi số, chuyển đổi xanh tại các hợp tác xã còn tồn tại nhiều hạn chế, đặc biệt về nguồn lực tài chính, hạ tầng công nghệ và năng lực con người. Tuy nhiên, từ những tín hiệu tích cực như số lượng hợp tác xã áp dụng tiêu chuẩn chất lượng tăng đều qua các năm, hay sự vào cuộc tích cực của các cơ quan trung ương và địa phương trong ban hành cơ chế hỗ trợ hợp tác xã, có thể khẳng định tiềm năng đổi mới, phát triển của khu vực này vẫn rất lớn nếu được đầu tư bài bản, định hướng đúng đắn và hỗ trợ kịp thời.
aa

Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, biến đổi khí hậu và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững là xu thế tất yếu, đặc biệt với các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam. Trong bối cảnh này, các hợp tác xã - nhân tố quan trọng trong tái cơ cấu nông nghiệp, ổn định xã hội và phát triển cộng đồng - đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải đổi mới toàn diện. Theo đó, chính sách tiền tệ và tín dụng xanh đóng vai trò then chốt, là kênh dẫn vốn chiến lược giúp hợp tác xã có nguồn lực đầu tư, cải tiến công nghệ và phát triển bền vững. Bài viết này phân tích, đánh giá vai trò của chính sách tiền tệ, tín dụng đối với khu vực hợp tác xã, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy hợp tác xã phát triển theo hướng xanh và bền vững.

Từ khóa: Hợp tác xã, chuyển đổi xanh, chính sách tiền tệ.

THE MONETARY AND CREDIT POLICIES PROMOTE GREEN AND SUSTAINABLE TRANSFORMATION IN COOPERATIVE SECTOR

Abstract: In the context of globalization, climate change, and the accelerating Fourth Industrial Revolution, transitioning to a green and sustainable growth model has become an inevitable trend, especially for developing economies like Vietnam. In this context, the cooperatives, which are key factors in agricultural restructuring, social stability, and community development, are now facing an urgent need for comprehensive transformation. Accordingly, monetary and green credit policies play pivotal role as strategic financial channels, that enable cooperatives to access resources for investment, technological upgrades, and sustainable development. This article analyzes the current situation and evaluates the role of monetary and credit policies in relation to the cooperative sector, thereby proposing feasible solutions to promote green and sustainable for the cooperatives.

Keywords: Cooperative, green transition, monetary policies.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Tổng quan về tình hình phát triển khu vực hợp tác xã tại Việt Nam

1.1. Vai trò của khu vực hợp tác trong phát triển kinh tế nông nghiệp

Trong những năm gần đây, khu vực hợp tác xã ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là tại khu vực nông thôn, miền núi và vùng sâu, vùng xa. Theo thống kê của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, tính đến cuối năm 2024, cả nước có trên 33.500 hợp tác xã đang hoạt động, thu hút sự tham gia của hơn 6,1 triệu thành viên - phần lớn là các hộ nông dân, tiểu thương và lao động nông thôn. Trong tổng số hợp tác xã này, hợp tác xã nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng lớn, đóng vai trò trung tâm trong việc tổ chức sản xuất nông sản, bảo đảm sinh kế bền vững cho hàng triệu người dân, đồng thời góp phần quan trọng vào quá trình tái cơ cấu nông nghiệp và phát triển nông thôn mới.

Khu vực hợp tác xã không chỉ góp phần giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động mà còn nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất thông qua mô hình liên kết - hỗ trợ - chia sẻ giữa các thành viên. Thông qua việc tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và tiếp cận công nghệ, nhiều hợp tác xã đã giúp các hộ thành viên vượt qua tình trạng sản xuất manh mún, tự phát, từ đó từng bước hình thành chuỗi giá trị nông sản bền vững. Ngoài ra, hợp tác xã còn đóng vai trò là cầu nối giữa nông dân và doanh nghiệp, giúp mở rộng thị trường tiêu thụ, thúc đẩy chuyển giao khoa học kỹ thuật và nâng cao năng lực quản trị cho người sản xuất. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, chuyển đổi xanh và hội nhập sâu rộng, hợp tác xã chính là mô hình tổ chức kinh tế tập thể linh hoạt, thích ứng và mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng.

Cùng với quá trình chuyển đổi số và phát triển kinh tế tuần hoàn trong cả nước, các hợp tác xã kiểu mới đang trở thành cầu nối quan trọng giữa hộ sản xuất nhỏ lẻ với thị trường nội địa cũng như quốc tế, từ đó nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cho sản phẩm nông nghiệp Việt Nam. Việc thúc đẩy khu vực hợp tác xã phát triển theo hướng bền vững là một trong những giải pháp chiến lược nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm và giảm nghèo bền vững. Thời gian qua, khu vực hợp tác xã cũng đang tích cực tham gia vào quá trình chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong cả nước. Số lượng hợp tác xã áp dụng tiêu chuẩn chất lượng tăng đều qua các năm, hay sự vào cuộc tích cực của các cơ quan trung ương, địa phương trong ban hành cơ chế hỗ trợ hợp tác xã đã khẳng định tiềm năng đổi mới, phát triển của khu vực này.

1.2. Một số khó khăn trong phát triển khu vực hợp tác xã

Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực, thực tiễn cũng cho thấy phần lớn các hợp tác xã vẫn đang vận hành theo mô hình truyền thống, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, trình độ tổ chức, quản trị còn đơn giản và thiếu chuyên nghiệp. Năng suất lao động tại nhiều hợp tác xã còn thấp, thiếu tính liên kết ngang - dọc trong chuỗi giá trị và chưa hình thành được các mô hình kinh tế tập thể hiện đại đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Đặc biệt, khả năng tiếp cận tài chính của hợp tác xã hiện vẫn còn nhiều rào cản. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tại Diễn đàn hợp tác xã quốc gia 2025: “Chuyển đổi xanh cho phát triển bền vững” ngày 11/4/2025 tại Hà Nội, mặc dù các tổ chức tín dụng (TCTD) đã tích cực triển khai các chính sách ưu đãi, tuy nhiên tỉ trọng dư nợ tín dụng dành cho khu vực hợp tác xã vẫn ở mức khá khiêm tốn. Đến cuối tháng 01/2025, dư nợ cho vay đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đạt 6.428 tỉ đồng, giảm 6,23% so với cuối năm 2024, chiếm 0,04% tổng dư nợ nền kinh tế. Thực tế này phản ánh rõ sự khó khăn của hợp tác xã trong việc tiếp cận các nguồn vốn vay chính thức. Nguyên nhân chủ yếu là do nhiều hợp tác xã không có tài sản bảo đảm, hoạt động tài chính thiếu minh bạch, chưa xây dựng được phương án sản xuất, kinh doanh rõ ràng và hiệu quả. Mô hình tổ chức còn lỏng lẻo, hệ thống kế toán, kiểm toán chưa được chuẩn hóa, năng lực quản trị của đội ngũ lãnh đạo hợp tác xã còn yếu, trình độ hạn chế trong xây dựng chiến lược phát triển dài hạn. Những yếu tố này khiến cho các TCTD gặp khó khăn trong việc thẩm định và đánh giá rủi ro, từ đó e ngại trong việc cung cấp tín dụng, đặc biệt là tín dụng không có tài sản bảo đảm.

Song song với khó khăn về vốn, quá trình chuyển đổi xanh, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số tại các hợp tác xã vẫn còn đang ở giai đoạn khởi đầu, diễn ra chậm và thiếu đồng bộ. Khảo sát của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam thực hiện trong năm 2023 - 2024 cho thấy, chỉ khoảng 24% hợp tác xã áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất an toàn như VietGAP, GlobalGAP hay ISO22000. Điều này cho thấy trình độ công nghệ của các hợp tác xã còn thấp và chưa theo kịp yêu cầu của thị trường, ngay cả thị trường nội địa. Hầu hết các hợp tác xã vẫn sử dụng quy trình sản xuất thủ công, thiết bị lạc hậu, chưa áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải hay thân thiện với môi trường, trong khi đây là những điều kiện cần thiết để tiến tới mô hình sản xuất tuần hoàn, nông nghiệp hữu cơ hay phát triển bền vững.

Về mức độ chuyển đổi số, kết quả khảo sát dựa trên Bộ tiêu chí đánh giá mức độ chuyển đổi số của Bộ Thông tin và Truyền thông cho thấy, điểm chuyển đổi số trung bình mà các hợp tác xã đạt được năm 2024 chỉ ở mức 95 điểm, tương đương mức 2 trên thang 6 bậc, tức là mới chỉ ở giai đoạn “khởi động” chuyển đổi số. Các ứng dụng công nghệ số hiện có chủ yếu tập trung vào các phần mềm kế toán, email, phần mềm truy xuất nguồn gốc đơn giản hoặc sử dụng mạng xã hội để quảng bá sản phẩm. Rất ít hợp tác xã có chiến lược tổng thể về chuyển đổi số, hoặc đầu tư vào các hệ thống quản trị doanh nghiệp (ERP), thương mại điện tử tích hợp, công nghệ truy xuất thông minh, Internet vạn vật (IoT) hay công nghệ chuỗi khối (Blockchain).

1.3. Một số nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân lý giải cho tình trạng trên. Thứ nhất, nguồn lực đầu tư cho đổi mới công nghệ còn hạn chế, phần lớn các hợp tác xã không đủ vốn để đầu tư trang thiết bị hiện đại, cũng như chưa có cơ chế tài chính phù hợp để khuyến khích đổi mới sáng tạo. Thứ hai, trình độ nhân lực yếu, nhất là trong việc tiếp cận và vận hành các công nghệ mới. Đa phần cán bộ quản lý hợp tác xã chưa được đào tạo bài bản về công nghệ số, trong khi các hợp tác xã cũng không có cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin. Hạ tầng kỹ thuật tại nhiều địa phương, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, còn nhiều bất cập như thiếu đường truyền Internet ổn định, thiết bị vi tính, điện thoại thông minh hoặc phần mềm phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế. Thứ ba, về rào cản nhận thức còn khá lớn do nhiều hợp tác xã chưa thấy được tầm quan trọng và lợi ích của việc chuyển đổi số, chưa chủ động tiếp cận các chương trình hỗ trợ hay đề xuất lộ trình cải tiến cụ thể.

2. Chính sách tiền tệ, tín dụng thúc đẩy khu vực hợp tác xã chuyển đổi xanh và bền vững

Trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang hướng xanh, bền vững, chính sách tiền tệ, tín dụng đóng vai trò như một “đòn bẩy tài chính” quan trọng để khơi thông nguồn lực, thúc đẩy đầu tư vào các mô hình sản xuất tuần hoàn, thân thiện môi trường. Với vai trò là cơ quan điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, NHNN đã thể hiện cam kết mạnh mẽ thông qua việc thiết kế, hoàn thiện và tổ chức thực thi nhiều chính sách đồng bộ nhằm hỗ trợ khu vực kinh tế tập thể, đặc biệt là các hợp tác xã tiếp cận nguồn vốn tín dụng thuận lợi, an toàn và hiệu quả hơn.

Trên nền tảng phát triển bền vững và yêu cầu thực tiễn ngày càng khắt khe từ thị trường, NHNN đã chú trọng hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp xanh, năng lượng tái tạo, ứng phó với biến đổi khí hậu, từ đó tạo điều kiện để các hợp tác xã nâng cao năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ và mở rộng quy mô hoạt động. Theo số liệu thống kê của NHNN, tính đến hết tháng 5/2025, dư nợ tín dụng nông nghiệp nông thôn tăng 5,31% so với cuối năm 2024, chiếm 23,16% dư nợ tín dụng nền kinh tế (cuối năm 2024 tăng 11,27%)1. Đặc biệt, phát triển tín dụng xanh cho khu vực nông nghiệp, nông thôn nói chung, khu vực hợp tác xã nói riêng là một trong những trụ cột quan trọng trong chính sách tiền tệ, tín dụng của NHNN. Theo đó, NHNN đã tập trung xây dựng hành lang pháp lý rõ ràng, tạo cơ sở vững chắc cho các TCTD triển khai các sản phẩm tài chính thân thiện môi trường.

Ngày 07/8/2018, Thống đốc NHNN ban hành Quyết định số 1604/QĐ-NHNN phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam, Quyết định này được điều chỉnh theo Quyết định số 1663/QĐ-NHNN ngày 06/8/2024 của Thống đốc NHNN. Đề án đã định hình khung chính sách chung cho hoạt động ngân hàng hướng đến mô hình phát triển bền vững, đồng thời khuyến khích các TCTD chủ động xây dựng danh mục sản phẩm tín dụng xanh, ưu tiên tài trợ cho các dự án có yếu tố bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng và phát triển nông nghiệp sinh thái.

Thông tư số 17/2022/TT-NHNN được Thống đốc NHNN ban hành ngày 23/12/2022 về hướng dẫn thực hiện quản lý rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã đặt ra yêu cầu cho các TCTD tăng cường công tác quản lý rủi ro môi trường trong hoạt động cấp tín dụng. Điều này không chỉ góp phần tăng cường khả năng quản trị rủi ro cho hệ thống ngân hàng, mà còn tạo ra áp lực tích cực buộc các doanh nghiệp và hợp tác xã phải nâng cao trách nhiệm môi trường nếu muốn tiếp cận nguồn vốn.

Bên cạnh đó, Chỉ thị số 03/CT-NHNN ngày 24/3/2015 của Thống đốc NHNN về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng cũng được triển khai mạnh mẽ, theo đó đã hướng dẫn cụ thể các ngân hàng thương mại xây dựng danh mục sản phẩm tín dụng xanh, đồng thời khuyến khích mở rộng tín dụng với các điều kiện ưu đãi cho các dự án thân thiện môi trường. Thông qua các chính sách này, dòng vốn tín dụng ngày càng được định hướng rõ rệt vào các lĩnh vực như nông nghiệp sạch, năng lượng tái tạo, mô hình liên kết sản xuất phát thải thấp, mà điển hình là Đề án phát triển 1 triệu ha lúa chất lượng cao vùng Đồng bằng sông Cửu Long, qua đó, vừa góp phần bảo vệ môi trường, vừa nâng cao năng lực cạnh tranh ngành hàng chủ lực là sản xuất và xuất khẩu lúa gạo.

Không dừng lại ở định hướng tín dụng xanh, Chính phủ và NHNN đã ban hành hàng loạt chính sách tín dụng ưu đãi dành riêng cho khu vực nông nghiệp và hợp tác xã, đặc biệt là các mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao, kinh tế tuần hoàn và sản xuất bền vững. Cụ thể, Chính phủ ban hành Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và các nghị định sửa đổi, bổ sung như Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018, cho phép các hợp tác xã được vay vốn mà không cần tài sản bảo đảm với hạn mức có thể lên tới 3 tỉ đồng, điều này đặc biệt ý nghĩa trong bối cảnh nhiều hợp tác xã gặp khó khăn về thế chấp tài sản. Đối với các hợp tác xã triển khai mô hình sản xuất công nghệ cao, mức vay không có tài sản bảo đảm có thể lên tới 70 - 80% giá trị phương án sản xuất, giúp khơi thông nguồn vốn cho đầu tư công nghệ, cải tiến quy trình và mở rộng thị trường.

Mới đây nhất, ngày 16/6/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 156/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Theo đó, từ ngày 01/7/2025, hợp tác xã nông nghiệp sẽ được TCTD xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm với hạn mức cao hơn trước, cụ thể là hợp tác xã có thể được vay tối đa 5 tỉ đồng mà không cần tài sản bảo đảm.

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, ngành Ngân hàng đã triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn nhằm hỗ trợ hợp tác xã trong các ngành nông - lâm - ngư nghiệp. Chương trình tín dụng 100.000 tỉ đồng hỗ trợ sản xuất lúa gạo chất lượng cao, thủy sản và lâm sản là một ví dụ điển hình, với lãi suất thấp hơn từ 1 - 2%/năm so với mức thông thường, mang lại hiệu quả thiết thực trong việc giảm chi phí vốn cho người sản xuất. Ngoài ra, các chính sách giảm lãi suất 2%/năm thuộc chương trình phục hồi kinh tế - xã hội hay gói tín dụng đặc biệt từ Ngân hàng Chính sách xã hội cũng giúp hợp tác xã và thành viên hợp tác xã tiếp cận vốn với điều kiện linh hoạt, phù hợp với đặc thù hoạt động sản xuất nông nghiệp và mô hình phát triển kinh tế cộng đồng.

Dù có nhiều chính sách ưu đãi, thực tế cho thấy khả năng tiếp cận tín dụng của các hợp tác xã vẫn còn nhiều trở ngại, đặc biệt là trong khâu thẩm định hồ sơ, chứng minh năng lực tài chính và khả năng trả nợ. Trước tình hình đó, NHNN đã và đang chỉ đạo toàn hệ thống ngân hàng từng bước tháo gỡ những rào cản này thông qua việc cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình cấp tín dụng và nâng cao khả năng đánh giá tín nhiệm khách hàng không có tài sản bảo đảm.

Đồng thời, Thống đốc NHNN đã ban hành các Thông tư số 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023 về việc TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn; được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 06/2024/TT-NHNN ngày 18/6/2024 và Thông tư số 53/2024/TT-NHNN ngày 04/12/2024 quy định về việc TCTD cơ cấu lại thời hạn trả nợ khách hàng gặp khó khăn do bão số 3. Trong đó, hợp tác xã được coi là đối tượng ưu tiên, nhờ đó có thể duy trì hoạt động sản xuất trong giai đoạn bất ổn mà không bị rơi vào tình trạng mất khả năng tiếp cận tài chính trong tương lai.

Không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ tài chính trực tiếp, ngành Ngân hàng còn chú trọng đồng hành cùng hợp tác xã trong quá trình xây dựng phương án sản xuất, tăng cường kỹ năng quản trị và minh bạch tài chính, những yếu tố then chốt giúp nâng cao mức tín nhiệm và giảm thiểu rủi ro tín dụng. Mặt khác, việc mở rộng cơ chế bảo lãnh tín dụng, phát triển các sản phẩm tín dụng vi mô, tổ chức các chương trình kết nối ngân hàng - hợp tác xã cũng đang được triển khai đồng bộ ở nhiều địa phương nhằm tạo môi trường tín dụng cởi mở, thân thiện, hiệu quả hơn.

3. Một số kiến nghị trong việc thúc đẩy hợp tác xã phát triển xanh và bền vững

Để khu vực hợp tác xã có thể tham gia một cách sâu rộng vào tiến trình chuyển đổi xanh và bền vững, cần thiết phải triển khai các giải pháp một cách đồng bộ, toàn diện, xuyên suốt. Những giải pháp này không chỉ đến từ phía Nhà nước hay ngành Ngân hàng, mà còn đòi hỏi sự chủ động từ chính các hợp tác xã, cũng như vai trò kết nối, hỗ trợ từ các tổ chức trung gian như Liên minh Hợp tác xã Việt Nam. Mỗi chủ thể cần đóng góp một phần trách nhiệm để tạo thành một mạng lưới phối hợp nhịp nhàng, đưa hợp tác xã tiến lên một nấc thang phát triển mới - hiện đại, chuyên nghiệp và bền vững. Một số khuyến nghị cụ thể như sau:

3.1. Đối với NHNN và hệ thống các TCTD

Thứ nhất, với vai trò là đầu mối điều phối dòng chảy vốn trong nền kinh tế, NHNN cần tiếp tục đổi mới chính sách, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hợp tác xã tiếp cận nguồn vốn tín dụng xanh, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ và các mô hình kinh tế tuần hoàn. Bên cạnh đó, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các chính sách tín dụng phù hợp với mô hình hợp tác xã kiểu mới, có tính liên kết sản xuất và áp dụng công nghệ cao. Các sản phẩm tín dụng nên được thiết kế linh hoạt hơn, không cứng nhắc theo mô hình doanh nghiệp truyền thống, mà phù hợp với đặc thù quản trị tập thể của hợp tác xã.

Thứ hai, các TCTD cần mở rộng phạm vi tín dụng xanh đến các lĩnh vực có nhiều tiềm năng nhưng chưa được khai thác đầy đủ như hợp tác xã sản xuất phân bón sinh học, hợp tác xã phát triển năng lượng tái tạo quy mô nhỏ, mô hình hợp tác xã trồng rừng bền vững… nhằm nhân rộng những mô hình vừa hiệu quả kinh tế vừa gắn với trách nhiệm môi trường.

Thứ ba, các TCTD cần linh hoạt hơn điều kiện cho vay, theo đó, cần giảm bớt những rào cản như yêu cầu tài sản bảo đảm phức tạp trong đánh giá, thẩm định tín dụng. Thay vào đó, nên áp dụng các phương án đánh giá tín nhiệm dựa trên chuỗi liên kết, tiềm năng phương án sản xuất, hoặc dòng tiền dự kiến của các hồ sơ vay vốn.

Thứ tư, NHNN và các TCTD cần tăng cường công tác truyền thông, tập huấn cho các hợp tác xã về tài chính xanh, quản trị rủi ro môi trường, xã hội, các khung tiêu chuẩn quốc tế như ESG. Khi hợp tác xã hiểu rõ mình cần thay đổi ra sao, thì mới có thể chủ động chuẩn bị điều kiện để đón nhận dòng vốn một cách hiệu quả và bền vững.

3.2. Đối với các bộ, ban, ngành và chính quyền địa phương

Một là, xây dựng hệ thống tiêu chí, hướng dẫn cụ thể cho hợp tác xã về phát triển xanh và chuyển đổi số, phù hợp với từng lĩnh vực ngành, nghề và trình độ phát triển của từng vùng miền. Những tiêu chí này sẽ là căn cứ quan trọng để đánh giá, phân loại và hỗ trợ hợp tác xã có lộ trình cải thiện rõ ràng.

Hai là, ưu tiên nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia như xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi để hỗ trợ hợp tác xã tiếp cận máy móc, thiết bị công nghệ, phần mềm quản lý cũng như chi phí đào tạo, tư vấn kỹ thuật.

Ba là, tăng cường vai trò của các quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã bằng cách bổ sung ngân sách, mở rộng phạm vi bảo lãnh tín dụng, kết nối với các tổ chức tài chính vi mô và tổ chức quốc tế. Đây sẽ là "đòn bẩy" tài chính quan trọng để hợp tác xã có thể vượt qua rào cản về vốn ban đầu trong giai đoạn đổi mới.

Bốn là, cần tạo điều kiện thuận lợi hơn về tiếp cận đất đai, cơ sở hạ tầng sản xuất và quyền sở hữu tài sản như nhà kính, nhà lưới, hệ thống tưới tiêu thông minh… Việc sớm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên đất sẽ giúp hợp tác xã dễ dàng hơn trong việc thế chấp vay vốn và mở rộng đầu tư.

3.3. Đối với Liên minh Hợp tác xã Việt Nam

Là tổ chức đại diện và đồng hành cùng hợp tác xã, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam cần tiếp tục khẳng định vai trò là cầu nối hiệu quả giữa hợp tác xã và các nguồn lực bên ngoài, thông qua các giải pháp:

Thứ nhất, hướng dẫn và tư vấn cho hợp tác xã xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh theo định hướng xanh và số hóa, từ việc lập kế hoạch sản xuất - tài chính đến xây dựng chiến lược tiếp cận thị trường, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả đầu tư.

Thứ hai, tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về quản lý, điều hành hợp tác xã theo mô hình mới, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa giá trị tập thể và khả năng cạnh tranh thị trường. Đây là nền tảng để ban quản trị hợp tác xã thay đổi tư duy, tiếp cận công nghệ và cải tiến quy trình quản trị.

Thứ ba, kết nối và huy động các dự án hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế, viện nghiên cứu, doanh nghiệp lớn để đưa các sáng kiến công nghệ, mô hình thử nghiệm và chương trình tài chính vi mô đến gần hơn với hợp tác xã. Đồng thời tổ chức các diễn đàn giao lưu, hội chợ công nghệ và xúc tiến thương mại để hợp tác xã học hỏi và mở rộng hợp tác.

3.4. Đối với các hợp tác xã

Một là, nâng cao năng lực quản trị nội tại, cải tiến cơ chế minh bạch tài chính, bảo đảm uy tín và sự tin cậy đối với các TCTD, đối tác và thành viên. Việc quản lý tốt dòng tiền, thực hiện đầy đủ báo cáo tài chính, và bảo đảm tính pháp lý trong hoạt động là tiền đề để tiếp cận nguồn lực bên ngoài.

Hai là, hợp tác xã cần chủ động tiếp cận, học hỏi và ứng dụng các công nghệ mới phù hợp với quy mô và đặc thù hoạt động của mình. Đồng thời mở rộng liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, hợp tác chặt chẽ với doanh nghiệp và các tổ chức trung gian để tạo thế đứng vững chắc trên thị trường.

Ba là, quan trọng nhất là xây dựng mô hình sản xuất theo hướng xanh, tuần hoàn và số hóa, nghĩa là chú trọng đến hiệu quả sinh thái - kinh tế - xã hội trong từng bước sản xuất, từ đầu vào đến tiêu thụ sản phẩm. Việc chuyển đổi này không chỉ giúp hợp tác xã tăng sức cạnh tranh, mà còn góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia trong dài hạn.

Chuyển đổi xanh và bền vững là xu hướng không thể đảo ngược trong phát triển hợp tác xã hiện nay. Chính sách tiền tệ, tín dụng và ứng dụng khoa học công nghệ chính là hai động lực then chốt để hợp tác xã thực hiện hành trình này. Do vậy, sự phối hợp chặt chẽ giữa NHNN, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, các bộ, ngành, địa phương và chính bản thân hợp tác xã sẽ là nền tảng các hợp tác xã thực sự “chuyển mình”, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển bền vững và hiện đại hóa đất nước trong kỷ nguyên mới.

1 NHNN (2025). Báo cáo kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ, giải pháp cuối năm 2025.

Tài liệu tham khảo:

1. NHNN (2025). Báo cáo kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ, giải pháp cuối năm 2025.

2. Nghị định số 156/2025/NĐ-CP ngày 16/6/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn

3. Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn

4. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

5. Quyết định số 1658/QĐ-TTG ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050

6. Quyết định số 882/QĐ-TTG ngày 22/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ về kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh 2021 - 2030.

7. Quyết định số 1604/QĐ-NHNN ngày 07/8/2018 của Thống đốc NHNN phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam - Tham luận của NHNN tại Diễn đàn Hợp tác xã Quốc gia năm 2025: “Chuyển đổi xanh cho phát triển bền vững” ngày 11/4/2025 tại Hà Nội.

8. Tham luận của Bộ Tài chính tại Diễn đàn Hợp tác xã Quốc gia năm 2025: “Chuyển đổi xanh cho phát triển bền vững” ngày 11/4/2025 tại Hà Nội.

Hải Thanh

Tin bài khác

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
Tác động của tín dụng số ngắn hạn đến hành vi vay và rủi ro tín dụng của khách hàng Gen Z tại Việt Nam

Tác động của tín dụng số ngắn hạn đến hành vi vay và rủi ro tín dụng của khách hàng Gen Z tại Việt Nam

Trên cơ sở phân tích thực tiễn hoạt động tín dụng số ngắn hạn tại Việt Nam, bài viết đánh giá tác động của loại hình tín dụng này đến hành vi vay và rủi ro nợ của người tiêu dùng trẻ, đồng thời đưa ra một số hàm ý đối với công tác quản trị rủi ro và xây dựng chính sách.
ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

Bài viết phân tích thực trạng triển khai tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) tại các ngân hàng Việt Nam, làm rõ tác động của ESG đối với hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển ngân hàng bền vững và tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu của ngành Ngân hàng, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đang khẳng định vai trò hạt nhân trong việc kết nối, phát triển nền tảng số dùng chung và hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nâng cao năng lực quản trị, mở rộng dịch vụ tài chính số, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển bền vững khu vực kinh tế hợp tác.
Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Ngày 03/7/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức Hội nghị Sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị nhằm sơ kết, đánh giá những kết quả trong điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời nhận diện những cơ hội, thách thức, khó khăn, đề ra giải pháp, định hướng thời gian tới. Thống đốc Phạm Đức Ấn và Ban Lãnh đạo NHNN điều hành Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có lãnh đạo các đơn vị Vụ, Cục thuộc NHNN, lãnh đạo các tổ chức, Hiệp hội trong Ngành, các tổ chức tín dụng (TCTD) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới điểm cầu NHNN chi nhánh các khu vực.
Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Những tháng đầu năm 2026, nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng, thúc đẩy tín dụng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ngành Ngân hàng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp và đạt được những kết quả tích cực. Tính đến ngày 29/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 20 triệu tỉ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025. Về cơ bản, cơ cấu tín dụng theo đúng định hướng, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong đó cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế. Vốn tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
Xem thêm
Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, hiện đại hóa hoạt động thanh tra ngân hàng theo hướng ứng dụng dữ liệu và công nghệ hiện đại đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả giám sát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Bài viết này phân tích những điều chỉnh trong khuôn khổ điều tiết các tỷ lệ bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng, qua đó đánh giá tác động đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng, hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Sự phát triển của ngân hàng số và định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro an ninh mạng. Trong môi trường tài chính số có tính kết nối cao, các rủi ro như tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu tài chính, rủi ro từ điện toán đám mây, thiên kiến thuật toán hay gian lận Deepfake có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích các rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số, đồng thời đánh giá khung pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quản trị công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành nền tảng pháp lý cho quản trị rủi ro an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng số, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường khả năng chống chịu hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị công nghệ và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính số trong bối cảnh vận hành IFC tại Việt Nam.
Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Bài viết phân tích xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam và yêu cầu định hình không gian phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh thế giới đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của hậu quả đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê cũng như thuê nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách về vốn, lãi suất nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đối với phân khúc nhà ở cho thuê cần những giải pháp đồng bộ khác từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng nguồn cung đối với thị trường này.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.
Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Trước yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, Trung Quốc đang đẩy mạnh cải cách cấu trúc hệ thống tài chính và hiện đại hóa điều hành chính sách tiền tệ, qua đó mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy