Chính sách tiền tệ, tín dụng thúc đẩy chuyển đổi xanh và bền vững cho khu vực hợp tác xã

Hoạt động ngân hàng
Mặc dù quá trình chuyển đổi số, chuyển đổi xanh tại các hợp tác xã còn tồn tại nhiều hạn chế, đặc biệt về nguồn lực tài chính, hạ tầng công nghệ và năng lực con người. Tuy nhiên, từ những tín hiệu tích cực như số lượng hợp tác xã áp dụng tiêu chuẩn chất lượng tăng đều qua các năm, hay sự vào cuộc tích cực của các cơ quan trung ương và địa phương trong ban hành cơ chế hỗ trợ hợp tác xã, có thể khẳng định tiềm năng đổi mới, phát triển của khu vực này vẫn rất lớn nếu được đầu tư bài bản, định hướng đúng đắn và hỗ trợ kịp thời.
aa

Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, biến đổi khí hậu và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững là xu thế tất yếu, đặc biệt với các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam. Trong bối cảnh này, các hợp tác xã - nhân tố quan trọng trong tái cơ cấu nông nghiệp, ổn định xã hội và phát triển cộng đồng - đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải đổi mới toàn diện. Theo đó, chính sách tiền tệ và tín dụng xanh đóng vai trò then chốt, là kênh dẫn vốn chiến lược giúp hợp tác xã có nguồn lực đầu tư, cải tiến công nghệ và phát triển bền vững. Bài viết này phân tích, đánh giá vai trò của chính sách tiền tệ, tín dụng đối với khu vực hợp tác xã, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy hợp tác xã phát triển theo hướng xanh và bền vững.

Từ khóa: Hợp tác xã, chuyển đổi xanh, chính sách tiền tệ.

THE MONETARY AND CREDIT POLICIES PROMOTE GREEN AND SUSTAINABLE TRANSFORMATION IN COOPERATIVE SECTOR

Abstract: In the context of globalization, climate change, and the accelerating Fourth Industrial Revolution, transitioning to a green and sustainable growth model has become an inevitable trend, especially for developing economies like Vietnam. In this context, the cooperatives, which are key factors in agricultural restructuring, social stability, and community development, are now facing an urgent need for comprehensive transformation. Accordingly, monetary and green credit policies play pivotal role as strategic financial channels, that enable cooperatives to access resources for investment, technological upgrades, and sustainable development. This article analyzes the current situation and evaluates the role of monetary and credit policies in relation to the cooperative sector, thereby proposing feasible solutions to promote green and sustainable for the cooperatives.

Keywords: Cooperative, green transition, monetary policies.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Tổng quan về tình hình phát triển khu vực hợp tác xã tại Việt Nam

1.1. Vai trò của khu vực hợp tác trong phát triển kinh tế nông nghiệp

Trong những năm gần đây, khu vực hợp tác xã ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là tại khu vực nông thôn, miền núi và vùng sâu, vùng xa. Theo thống kê của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, tính đến cuối năm 2024, cả nước có trên 33.500 hợp tác xã đang hoạt động, thu hút sự tham gia của hơn 6,1 triệu thành viên - phần lớn là các hộ nông dân, tiểu thương và lao động nông thôn. Trong tổng số hợp tác xã này, hợp tác xã nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng lớn, đóng vai trò trung tâm trong việc tổ chức sản xuất nông sản, bảo đảm sinh kế bền vững cho hàng triệu người dân, đồng thời góp phần quan trọng vào quá trình tái cơ cấu nông nghiệp và phát triển nông thôn mới.

Khu vực hợp tác xã không chỉ góp phần giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động mà còn nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất thông qua mô hình liên kết - hỗ trợ - chia sẻ giữa các thành viên. Thông qua việc tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và tiếp cận công nghệ, nhiều hợp tác xã đã giúp các hộ thành viên vượt qua tình trạng sản xuất manh mún, tự phát, từ đó từng bước hình thành chuỗi giá trị nông sản bền vững. Ngoài ra, hợp tác xã còn đóng vai trò là cầu nối giữa nông dân và doanh nghiệp, giúp mở rộng thị trường tiêu thụ, thúc đẩy chuyển giao khoa học kỹ thuật và nâng cao năng lực quản trị cho người sản xuất. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, chuyển đổi xanh và hội nhập sâu rộng, hợp tác xã chính là mô hình tổ chức kinh tế tập thể linh hoạt, thích ứng và mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng.

Cùng với quá trình chuyển đổi số và phát triển kinh tế tuần hoàn trong cả nước, các hợp tác xã kiểu mới đang trở thành cầu nối quan trọng giữa hộ sản xuất nhỏ lẻ với thị trường nội địa cũng như quốc tế, từ đó nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cho sản phẩm nông nghiệp Việt Nam. Việc thúc đẩy khu vực hợp tác xã phát triển theo hướng bền vững là một trong những giải pháp chiến lược nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm và giảm nghèo bền vững. Thời gian qua, khu vực hợp tác xã cũng đang tích cực tham gia vào quá trình chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong cả nước. Số lượng hợp tác xã áp dụng tiêu chuẩn chất lượng tăng đều qua các năm, hay sự vào cuộc tích cực của các cơ quan trung ương, địa phương trong ban hành cơ chế hỗ trợ hợp tác xã đã khẳng định tiềm năng đổi mới, phát triển của khu vực này.

1.2. Một số khó khăn trong phát triển khu vực hợp tác xã

Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực, thực tiễn cũng cho thấy phần lớn các hợp tác xã vẫn đang vận hành theo mô hình truyền thống, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, trình độ tổ chức, quản trị còn đơn giản và thiếu chuyên nghiệp. Năng suất lao động tại nhiều hợp tác xã còn thấp, thiếu tính liên kết ngang - dọc trong chuỗi giá trị và chưa hình thành được các mô hình kinh tế tập thể hiện đại đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Đặc biệt, khả năng tiếp cận tài chính của hợp tác xã hiện vẫn còn nhiều rào cản. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tại Diễn đàn hợp tác xã quốc gia 2025: “Chuyển đổi xanh cho phát triển bền vững” ngày 11/4/2025 tại Hà Nội, mặc dù các tổ chức tín dụng (TCTD) đã tích cực triển khai các chính sách ưu đãi, tuy nhiên tỉ trọng dư nợ tín dụng dành cho khu vực hợp tác xã vẫn ở mức khá khiêm tốn. Đến cuối tháng 01/2025, dư nợ cho vay đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đạt 6.428 tỉ đồng, giảm 6,23% so với cuối năm 2024, chiếm 0,04% tổng dư nợ nền kinh tế. Thực tế này phản ánh rõ sự khó khăn của hợp tác xã trong việc tiếp cận các nguồn vốn vay chính thức. Nguyên nhân chủ yếu là do nhiều hợp tác xã không có tài sản bảo đảm, hoạt động tài chính thiếu minh bạch, chưa xây dựng được phương án sản xuất, kinh doanh rõ ràng và hiệu quả. Mô hình tổ chức còn lỏng lẻo, hệ thống kế toán, kiểm toán chưa được chuẩn hóa, năng lực quản trị của đội ngũ lãnh đạo hợp tác xã còn yếu, trình độ hạn chế trong xây dựng chiến lược phát triển dài hạn. Những yếu tố này khiến cho các TCTD gặp khó khăn trong việc thẩm định và đánh giá rủi ro, từ đó e ngại trong việc cung cấp tín dụng, đặc biệt là tín dụng không có tài sản bảo đảm.

Song song với khó khăn về vốn, quá trình chuyển đổi xanh, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số tại các hợp tác xã vẫn còn đang ở giai đoạn khởi đầu, diễn ra chậm và thiếu đồng bộ. Khảo sát của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam thực hiện trong năm 2023 - 2024 cho thấy, chỉ khoảng 24% hợp tác xã áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất an toàn như VietGAP, GlobalGAP hay ISO22000. Điều này cho thấy trình độ công nghệ của các hợp tác xã còn thấp và chưa theo kịp yêu cầu của thị trường, ngay cả thị trường nội địa. Hầu hết các hợp tác xã vẫn sử dụng quy trình sản xuất thủ công, thiết bị lạc hậu, chưa áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải hay thân thiện với môi trường, trong khi đây là những điều kiện cần thiết để tiến tới mô hình sản xuất tuần hoàn, nông nghiệp hữu cơ hay phát triển bền vững.

Về mức độ chuyển đổi số, kết quả khảo sát dựa trên Bộ tiêu chí đánh giá mức độ chuyển đổi số của Bộ Thông tin và Truyền thông cho thấy, điểm chuyển đổi số trung bình mà các hợp tác xã đạt được năm 2024 chỉ ở mức 95 điểm, tương đương mức 2 trên thang 6 bậc, tức là mới chỉ ở giai đoạn “khởi động” chuyển đổi số. Các ứng dụng công nghệ số hiện có chủ yếu tập trung vào các phần mềm kế toán, email, phần mềm truy xuất nguồn gốc đơn giản hoặc sử dụng mạng xã hội để quảng bá sản phẩm. Rất ít hợp tác xã có chiến lược tổng thể về chuyển đổi số, hoặc đầu tư vào các hệ thống quản trị doanh nghiệp (ERP), thương mại điện tử tích hợp, công nghệ truy xuất thông minh, Internet vạn vật (IoT) hay công nghệ chuỗi khối (Blockchain).

1.3. Một số nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân lý giải cho tình trạng trên. Thứ nhất, nguồn lực đầu tư cho đổi mới công nghệ còn hạn chế, phần lớn các hợp tác xã không đủ vốn để đầu tư trang thiết bị hiện đại, cũng như chưa có cơ chế tài chính phù hợp để khuyến khích đổi mới sáng tạo. Thứ hai, trình độ nhân lực yếu, nhất là trong việc tiếp cận và vận hành các công nghệ mới. Đa phần cán bộ quản lý hợp tác xã chưa được đào tạo bài bản về công nghệ số, trong khi các hợp tác xã cũng không có cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin. Hạ tầng kỹ thuật tại nhiều địa phương, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, còn nhiều bất cập như thiếu đường truyền Internet ổn định, thiết bị vi tính, điện thoại thông minh hoặc phần mềm phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế. Thứ ba, về rào cản nhận thức còn khá lớn do nhiều hợp tác xã chưa thấy được tầm quan trọng và lợi ích của việc chuyển đổi số, chưa chủ động tiếp cận các chương trình hỗ trợ hay đề xuất lộ trình cải tiến cụ thể.

2. Chính sách tiền tệ, tín dụng thúc đẩy khu vực hợp tác xã chuyển đổi xanh và bền vững

Trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang hướng xanh, bền vững, chính sách tiền tệ, tín dụng đóng vai trò như một “đòn bẩy tài chính” quan trọng để khơi thông nguồn lực, thúc đẩy đầu tư vào các mô hình sản xuất tuần hoàn, thân thiện môi trường. Với vai trò là cơ quan điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, NHNN đã thể hiện cam kết mạnh mẽ thông qua việc thiết kế, hoàn thiện và tổ chức thực thi nhiều chính sách đồng bộ nhằm hỗ trợ khu vực kinh tế tập thể, đặc biệt là các hợp tác xã tiếp cận nguồn vốn tín dụng thuận lợi, an toàn và hiệu quả hơn.

Trên nền tảng phát triển bền vững và yêu cầu thực tiễn ngày càng khắt khe từ thị trường, NHNN đã chú trọng hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp xanh, năng lượng tái tạo, ứng phó với biến đổi khí hậu, từ đó tạo điều kiện để các hợp tác xã nâng cao năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ và mở rộng quy mô hoạt động. Theo số liệu thống kê của NHNN, tính đến hết tháng 5/2025, dư nợ tín dụng nông nghiệp nông thôn tăng 5,31% so với cuối năm 2024, chiếm 23,16% dư nợ tín dụng nền kinh tế (cuối năm 2024 tăng 11,27%)1. Đặc biệt, phát triển tín dụng xanh cho khu vực nông nghiệp, nông thôn nói chung, khu vực hợp tác xã nói riêng là một trong những trụ cột quan trọng trong chính sách tiền tệ, tín dụng của NHNN. Theo đó, NHNN đã tập trung xây dựng hành lang pháp lý rõ ràng, tạo cơ sở vững chắc cho các TCTD triển khai các sản phẩm tài chính thân thiện môi trường.

Ngày 07/8/2018, Thống đốc NHNN ban hành Quyết định số 1604/QĐ-NHNN phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam, Quyết định này được điều chỉnh theo Quyết định số 1663/QĐ-NHNN ngày 06/8/2024 của Thống đốc NHNN. Đề án đã định hình khung chính sách chung cho hoạt động ngân hàng hướng đến mô hình phát triển bền vững, đồng thời khuyến khích các TCTD chủ động xây dựng danh mục sản phẩm tín dụng xanh, ưu tiên tài trợ cho các dự án có yếu tố bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng và phát triển nông nghiệp sinh thái.

Thông tư số 17/2022/TT-NHNN được Thống đốc NHNN ban hành ngày 23/12/2022 về hướng dẫn thực hiện quản lý rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã đặt ra yêu cầu cho các TCTD tăng cường công tác quản lý rủi ro môi trường trong hoạt động cấp tín dụng. Điều này không chỉ góp phần tăng cường khả năng quản trị rủi ro cho hệ thống ngân hàng, mà còn tạo ra áp lực tích cực buộc các doanh nghiệp và hợp tác xã phải nâng cao trách nhiệm môi trường nếu muốn tiếp cận nguồn vốn.

Bên cạnh đó, Chỉ thị số 03/CT-NHNN ngày 24/3/2015 của Thống đốc NHNN về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng cũng được triển khai mạnh mẽ, theo đó đã hướng dẫn cụ thể các ngân hàng thương mại xây dựng danh mục sản phẩm tín dụng xanh, đồng thời khuyến khích mở rộng tín dụng với các điều kiện ưu đãi cho các dự án thân thiện môi trường. Thông qua các chính sách này, dòng vốn tín dụng ngày càng được định hướng rõ rệt vào các lĩnh vực như nông nghiệp sạch, năng lượng tái tạo, mô hình liên kết sản xuất phát thải thấp, mà điển hình là Đề án phát triển 1 triệu ha lúa chất lượng cao vùng Đồng bằng sông Cửu Long, qua đó, vừa góp phần bảo vệ môi trường, vừa nâng cao năng lực cạnh tranh ngành hàng chủ lực là sản xuất và xuất khẩu lúa gạo.

Không dừng lại ở định hướng tín dụng xanh, Chính phủ và NHNN đã ban hành hàng loạt chính sách tín dụng ưu đãi dành riêng cho khu vực nông nghiệp và hợp tác xã, đặc biệt là các mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao, kinh tế tuần hoàn và sản xuất bền vững. Cụ thể, Chính phủ ban hành Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và các nghị định sửa đổi, bổ sung như Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018, cho phép các hợp tác xã được vay vốn mà không cần tài sản bảo đảm với hạn mức có thể lên tới 3 tỉ đồng, điều này đặc biệt ý nghĩa trong bối cảnh nhiều hợp tác xã gặp khó khăn về thế chấp tài sản. Đối với các hợp tác xã triển khai mô hình sản xuất công nghệ cao, mức vay không có tài sản bảo đảm có thể lên tới 70 - 80% giá trị phương án sản xuất, giúp khơi thông nguồn vốn cho đầu tư công nghệ, cải tiến quy trình và mở rộng thị trường.

Mới đây nhất, ngày 16/6/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 156/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Theo đó, từ ngày 01/7/2025, hợp tác xã nông nghiệp sẽ được TCTD xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm với hạn mức cao hơn trước, cụ thể là hợp tác xã có thể được vay tối đa 5 tỉ đồng mà không cần tài sản bảo đảm.

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, ngành Ngân hàng đã triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn nhằm hỗ trợ hợp tác xã trong các ngành nông - lâm - ngư nghiệp. Chương trình tín dụng 100.000 tỉ đồng hỗ trợ sản xuất lúa gạo chất lượng cao, thủy sản và lâm sản là một ví dụ điển hình, với lãi suất thấp hơn từ 1 - 2%/năm so với mức thông thường, mang lại hiệu quả thiết thực trong việc giảm chi phí vốn cho người sản xuất. Ngoài ra, các chính sách giảm lãi suất 2%/năm thuộc chương trình phục hồi kinh tế - xã hội hay gói tín dụng đặc biệt từ Ngân hàng Chính sách xã hội cũng giúp hợp tác xã và thành viên hợp tác xã tiếp cận vốn với điều kiện linh hoạt, phù hợp với đặc thù hoạt động sản xuất nông nghiệp và mô hình phát triển kinh tế cộng đồng.

Dù có nhiều chính sách ưu đãi, thực tế cho thấy khả năng tiếp cận tín dụng của các hợp tác xã vẫn còn nhiều trở ngại, đặc biệt là trong khâu thẩm định hồ sơ, chứng minh năng lực tài chính và khả năng trả nợ. Trước tình hình đó, NHNN đã và đang chỉ đạo toàn hệ thống ngân hàng từng bước tháo gỡ những rào cản này thông qua việc cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình cấp tín dụng và nâng cao khả năng đánh giá tín nhiệm khách hàng không có tài sản bảo đảm.

Đồng thời, Thống đốc NHNN đã ban hành các Thông tư số 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023 về việc TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn; được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 06/2024/TT-NHNN ngày 18/6/2024 và Thông tư số 53/2024/TT-NHNN ngày 04/12/2024 quy định về việc TCTD cơ cấu lại thời hạn trả nợ khách hàng gặp khó khăn do bão số 3. Trong đó, hợp tác xã được coi là đối tượng ưu tiên, nhờ đó có thể duy trì hoạt động sản xuất trong giai đoạn bất ổn mà không bị rơi vào tình trạng mất khả năng tiếp cận tài chính trong tương lai.

Không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ tài chính trực tiếp, ngành Ngân hàng còn chú trọng đồng hành cùng hợp tác xã trong quá trình xây dựng phương án sản xuất, tăng cường kỹ năng quản trị và minh bạch tài chính, những yếu tố then chốt giúp nâng cao mức tín nhiệm và giảm thiểu rủi ro tín dụng. Mặt khác, việc mở rộng cơ chế bảo lãnh tín dụng, phát triển các sản phẩm tín dụng vi mô, tổ chức các chương trình kết nối ngân hàng - hợp tác xã cũng đang được triển khai đồng bộ ở nhiều địa phương nhằm tạo môi trường tín dụng cởi mở, thân thiện, hiệu quả hơn.

3. Một số kiến nghị trong việc thúc đẩy hợp tác xã phát triển xanh và bền vững

Để khu vực hợp tác xã có thể tham gia một cách sâu rộng vào tiến trình chuyển đổi xanh và bền vững, cần thiết phải triển khai các giải pháp một cách đồng bộ, toàn diện, xuyên suốt. Những giải pháp này không chỉ đến từ phía Nhà nước hay ngành Ngân hàng, mà còn đòi hỏi sự chủ động từ chính các hợp tác xã, cũng như vai trò kết nối, hỗ trợ từ các tổ chức trung gian như Liên minh Hợp tác xã Việt Nam. Mỗi chủ thể cần đóng góp một phần trách nhiệm để tạo thành một mạng lưới phối hợp nhịp nhàng, đưa hợp tác xã tiến lên một nấc thang phát triển mới - hiện đại, chuyên nghiệp và bền vững. Một số khuyến nghị cụ thể như sau:

3.1. Đối với NHNN và hệ thống các TCTD

Thứ nhất, với vai trò là đầu mối điều phối dòng chảy vốn trong nền kinh tế, NHNN cần tiếp tục đổi mới chính sách, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hợp tác xã tiếp cận nguồn vốn tín dụng xanh, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ và các mô hình kinh tế tuần hoàn. Bên cạnh đó, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các chính sách tín dụng phù hợp với mô hình hợp tác xã kiểu mới, có tính liên kết sản xuất và áp dụng công nghệ cao. Các sản phẩm tín dụng nên được thiết kế linh hoạt hơn, không cứng nhắc theo mô hình doanh nghiệp truyền thống, mà phù hợp với đặc thù quản trị tập thể của hợp tác xã.

Thứ hai, các TCTD cần mở rộng phạm vi tín dụng xanh đến các lĩnh vực có nhiều tiềm năng nhưng chưa được khai thác đầy đủ như hợp tác xã sản xuất phân bón sinh học, hợp tác xã phát triển năng lượng tái tạo quy mô nhỏ, mô hình hợp tác xã trồng rừng bền vững… nhằm nhân rộng những mô hình vừa hiệu quả kinh tế vừa gắn với trách nhiệm môi trường.

Thứ ba, các TCTD cần linh hoạt hơn điều kiện cho vay, theo đó, cần giảm bớt những rào cản như yêu cầu tài sản bảo đảm phức tạp trong đánh giá, thẩm định tín dụng. Thay vào đó, nên áp dụng các phương án đánh giá tín nhiệm dựa trên chuỗi liên kết, tiềm năng phương án sản xuất, hoặc dòng tiền dự kiến của các hồ sơ vay vốn.

Thứ tư, NHNN và các TCTD cần tăng cường công tác truyền thông, tập huấn cho các hợp tác xã về tài chính xanh, quản trị rủi ro môi trường, xã hội, các khung tiêu chuẩn quốc tế như ESG. Khi hợp tác xã hiểu rõ mình cần thay đổi ra sao, thì mới có thể chủ động chuẩn bị điều kiện để đón nhận dòng vốn một cách hiệu quả và bền vững.

3.2. Đối với các bộ, ban, ngành và chính quyền địa phương

Một là, xây dựng hệ thống tiêu chí, hướng dẫn cụ thể cho hợp tác xã về phát triển xanh và chuyển đổi số, phù hợp với từng lĩnh vực ngành, nghề và trình độ phát triển của từng vùng miền. Những tiêu chí này sẽ là căn cứ quan trọng để đánh giá, phân loại và hỗ trợ hợp tác xã có lộ trình cải thiện rõ ràng.

Hai là, ưu tiên nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia như xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi để hỗ trợ hợp tác xã tiếp cận máy móc, thiết bị công nghệ, phần mềm quản lý cũng như chi phí đào tạo, tư vấn kỹ thuật.

Ba là, tăng cường vai trò của các quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã bằng cách bổ sung ngân sách, mở rộng phạm vi bảo lãnh tín dụng, kết nối với các tổ chức tài chính vi mô và tổ chức quốc tế. Đây sẽ là "đòn bẩy" tài chính quan trọng để hợp tác xã có thể vượt qua rào cản về vốn ban đầu trong giai đoạn đổi mới.

Bốn là, cần tạo điều kiện thuận lợi hơn về tiếp cận đất đai, cơ sở hạ tầng sản xuất và quyền sở hữu tài sản như nhà kính, nhà lưới, hệ thống tưới tiêu thông minh… Việc sớm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên đất sẽ giúp hợp tác xã dễ dàng hơn trong việc thế chấp vay vốn và mở rộng đầu tư.

3.3. Đối với Liên minh Hợp tác xã Việt Nam

Là tổ chức đại diện và đồng hành cùng hợp tác xã, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam cần tiếp tục khẳng định vai trò là cầu nối hiệu quả giữa hợp tác xã và các nguồn lực bên ngoài, thông qua các giải pháp:

Thứ nhất, hướng dẫn và tư vấn cho hợp tác xã xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh theo định hướng xanh và số hóa, từ việc lập kế hoạch sản xuất - tài chính đến xây dựng chiến lược tiếp cận thị trường, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả đầu tư.

Thứ hai, tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về quản lý, điều hành hợp tác xã theo mô hình mới, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa giá trị tập thể và khả năng cạnh tranh thị trường. Đây là nền tảng để ban quản trị hợp tác xã thay đổi tư duy, tiếp cận công nghệ và cải tiến quy trình quản trị.

Thứ ba, kết nối và huy động các dự án hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế, viện nghiên cứu, doanh nghiệp lớn để đưa các sáng kiến công nghệ, mô hình thử nghiệm và chương trình tài chính vi mô đến gần hơn với hợp tác xã. Đồng thời tổ chức các diễn đàn giao lưu, hội chợ công nghệ và xúc tiến thương mại để hợp tác xã học hỏi và mở rộng hợp tác.

3.4. Đối với các hợp tác xã

Một là, nâng cao năng lực quản trị nội tại, cải tiến cơ chế minh bạch tài chính, bảo đảm uy tín và sự tin cậy đối với các TCTD, đối tác và thành viên. Việc quản lý tốt dòng tiền, thực hiện đầy đủ báo cáo tài chính, và bảo đảm tính pháp lý trong hoạt động là tiền đề để tiếp cận nguồn lực bên ngoài.

Hai là, hợp tác xã cần chủ động tiếp cận, học hỏi và ứng dụng các công nghệ mới phù hợp với quy mô và đặc thù hoạt động của mình. Đồng thời mở rộng liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, hợp tác chặt chẽ với doanh nghiệp và các tổ chức trung gian để tạo thế đứng vững chắc trên thị trường.

Ba là, quan trọng nhất là xây dựng mô hình sản xuất theo hướng xanh, tuần hoàn và số hóa, nghĩa là chú trọng đến hiệu quả sinh thái - kinh tế - xã hội trong từng bước sản xuất, từ đầu vào đến tiêu thụ sản phẩm. Việc chuyển đổi này không chỉ giúp hợp tác xã tăng sức cạnh tranh, mà còn góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia trong dài hạn.

Chuyển đổi xanh và bền vững là xu hướng không thể đảo ngược trong phát triển hợp tác xã hiện nay. Chính sách tiền tệ, tín dụng và ứng dụng khoa học công nghệ chính là hai động lực then chốt để hợp tác xã thực hiện hành trình này. Do vậy, sự phối hợp chặt chẽ giữa NHNN, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, các bộ, ngành, địa phương và chính bản thân hợp tác xã sẽ là nền tảng các hợp tác xã thực sự “chuyển mình”, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển bền vững và hiện đại hóa đất nước trong kỷ nguyên mới.

1 NHNN (2025). Báo cáo kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ, giải pháp cuối năm 2025.

Tài liệu tham khảo:

1. NHNN (2025). Báo cáo kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ, giải pháp cuối năm 2025.

2. Nghị định số 156/2025/NĐ-CP ngày 16/6/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn

3. Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn

4. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

5. Quyết định số 1658/QĐ-TTG ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050

6. Quyết định số 882/QĐ-TTG ngày 22/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ về kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh 2021 - 2030.

7. Quyết định số 1604/QĐ-NHNN ngày 07/8/2018 của Thống đốc NHNN phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam - Tham luận của NHNN tại Diễn đàn Hợp tác xã Quốc gia năm 2025: “Chuyển đổi xanh cho phát triển bền vững” ngày 11/4/2025 tại Hà Nội.

8. Tham luận của Bộ Tài chính tại Diễn đàn Hợp tác xã Quốc gia năm 2025: “Chuyển đổi xanh cho phát triển bền vững” ngày 11/4/2025 tại Hà Nội.

Hải Thanh

Tin bài khác

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Bài viết phân tích những cơ hội và thách thức đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) trong quá trình tái cơ cấu gắn với chuyển đổi số, đồng thời đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao năng lực quản trị, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững của hệ thống trong giai đoạn tới.
Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành. Tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là: Chuyển đổi số phải đi cùng an toàn; khai thác dữ liệu phải đi cùng bảo vệ dữ liệu; ứng dụng AI phải đi cùng quản trị rủi ro; đổi mới sáng tạo phải đi cùng tuân thủ, kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Sự hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đặt ra yêu cầu thiết kế thể chế mới: Dịch vụ ngân hàng số phục vụ IFC không thể được đồng nhất với các tiện ích số bán lẻ vốn đã phát triển nhanh trong thập kỷ qua. Trên cơ sở phân tích đối chứng giữa Singapore và Hồng Kông, bài viết xây dựng khung năng lực vận hành gồm bốn lớp hạ tầng (gia nhập thị trường, giao dịch, tuân thủ, niềm tin thị trường) và chỉ ra rằng sức mạnh của một IFC phụ thuộc vào độ sâu và khả năng liên thông của các lớp dịch vụ ở cấp độ tổ chức, không phải vào quy mô dịch vụ bán lẻ. Trên nền tảng đó, nghiên cứu đề xuất lộ trình ba giai đoạn cho IFC Việt Nam: (1) Chuẩn hóa định danh điện tử (eKYC) cho khách hàng phi cư trú, tài khoản đa tiền tệ và thanh toán xuyên biên giới theo chuẩn ISO 20022 trong giai đoạn 2026 - 2027; (2) Phát triển ngoại hối tổ chức, tài trợ thương mại số và lưu ký số trong giai đoạn 2027 - 2029; (3) Hoàn thiện công nghệ giám sát (SupTech), tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) bán buôn và cơ chế tường lửa tài chính từ năm 2029.
Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính theo hướng hiện đại, an toàn, minh bạch và có khả năng kết nối quốc tế. Trong bối cảnh đó, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số giữ vai trò then chốt; không chỉ hỗ trợ thanh toán, quản lý dòng tiền, giao dịch ngoại hối, tài trợ thương mại, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường tài chính, cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế số.
Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
Xem thêm
Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng chịu tác động bởi những rủi ro mới và yêu cầu quản trị ngày càng cao, kiểm toán nội bộ giữ vai trò quan trọng trong củng cố hệ thống kiểm soát, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh tài chính khu vực, đồng thời đòi hỏi những đột phá về thể chế, hạ tầng, địa kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 44/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2025/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí

Thông tư số 43/2026/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối