Để đồng thuận xã hội chuyển đổi thuế hộ kinh doanh

Chính sách
Quán triệt Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Thủ tướng Phạm Minh Chính kêu gọi tạo động lực làm giàu trong toàn dân để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo Nghị quyết, từ năm 2026, Việt Nam sẽ chấm dứt cơ chế thuế khoán với hộ kinh doanh, chuyển sang cơ chế tự kê khai và nộp thuế theo doanh thu thực tế, đồng thời đẩy mạnh thu thuế điện tử.
aa

Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh cần tạo động lực, truyền cảm hứng cho các thương nhân và phát động phong trào toàn dân thi đua làm giàu trên phạm vi cả nước, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nghị quyết số 68-NQ/TW thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy và nhận thức về vai trò của kinh tế tư nhân
Nghị quyết số 68-NQ/TW thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy và nhận thức về vai trò của kinh tế tư nhân (Nguồn ảnh: Internet)

1. Chuyển đổi thuế là cần thiết và hữu ích

Theo Nghị quyết số 68-NQ/TW, Việt Nam hiện có trên 5 triệu hộ kinh doanh, tạo ra hàng chục triệu việc làm, tương đương với khối công ty tư nhân, chiếm vai trò động lực chính trong phát triển nhiều ngành, lĩnh vực, nhất là nông nghiệp và thương mại, dịch vụ. Trước đây, phần lớn hộ kinh doanh thực hiện nghĩa vụ thuế theo hình thức khoán, tức là cơ quan thuế ấn định mức doanh thu và tính thuế theo tỉ lệ nhất định, dao động từ 1,5 - 4,5% tùy ngành nghề. Phương pháp này tuy thiếu chính xác, nhưng bảo đảm tính ổn định trong thu ngân sách và đơn giản, phù hợp với đặc thù giao dịch tiền mặt, quản lý sổ sách thủ công của hộ kinh doanh nhỏ lẻ.

Theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW và quy định mới của ngành thuế, từ năm 2026, Việt Nam sẽ chính thức chấm dứt cơ chế thuế khoán đối với hộ kinh doanh, thay bằng tự kê khai, nộp thuế theo doanh thu thực tế; đồng thời, mở rộng cơ sở tính thuế, nhất là thu thuế điện tử khởi tạo từ máy tính tiền.

Theo Thông tư số 32/2025/TT-BTC ngày 31/5/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Quản lý thuế ngày 13/6/2019, Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về hóa đơn, chứng từ, Nghị định số 70/2025/NĐ-CP ngày 20/3/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2020/NĐ-CP, từ ngày 01/6/2025, hộ kinh doanh có doanh thu trên 1 tỉ đồng/năm và thuộc một số lĩnh vực như ăn uống, bán lẻ, khách sạn, vận tải… sẽ được khuyến khích sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế. Nếu hộ kinh doanh đã đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử trước ngày 01/6 thì không bắt buộc phải chuyển sang dùng máy tính tiền, mà tiếp tục sử dụng hình thức hóa đơn điện tử hiện tại.

Cải cách quản lý thuế này phù hợp với xu thế chuyển đổi số và tiến gần hơn đến các chuẩn mực quản lý thuế hiện đại của thế giới, góp phần tăng minh bạch và công bằng, giảm gian lận và thất thu thuế, thúc đẩy tinh thần trách nhiệm của người nộp thuế, mở ra cơ hội nâng tầm hộ kinh doanh trở thành doanh nghiệp và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân.

Thành công của cải cách này không chỉ phụ thuộc vào thể chế, công nghệ, mà còn cần sự đồng hành, ủng hộ của toàn xã hội, đặc biệt là chính quyền cơ sở và sự đồng thuận cao của bản thân người nộp thuế.

Trên thực tế, Bộ Tài chính đã và đang triển khai 7 nhóm giải pháp đồng bộ, từ pháp lý, công nghệ cho đến hỗ trợ thực tiễn: (1) Sửa đổi Luật Quản lý thuế, trong đó bỏ hoàn toàn cơ chế thuế khoán đối với hộ, cá nhân kinh doanh và áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp đi kèm yêu cầu ghi sổ kế toán, lập hóa đơn như doanh nghiệp và điều chỉnh Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế giá trị gia tăng để quy định mức doanh thu không chịu thuế, bảo vệ nhóm hộ kinh doanh nhỏ; (2) Tổ chức lại bộ máy cơ quan thuế theo hướng tinh gọn, hiệu quả; (3) Quản lý hộ kinh doanh chuyển từ chức năng sang theo đối tượng, bám sát địa bàn, từ đó cá thể hóa trách nhiệm của từng cán bộ thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ, tránh thất thu ngân sách; (4) Đơn giản hóa sổ sách kế toán, hóa đơn và cung cấp miễn phí phần mềm kế toán - hóa đơn dùng chung, giúp hộ kinh doanh dễ tiếp cận và tuân thủ, đồng thời giảm gánh nặng thủ tục; (5) Phát triển hệ thống kê khai điện tử tự động, cho phép hệ thống tự tính toán nghĩa vụ thuế dựa trên dữ liệu hóa đơn; (6) Nhờ đó, hộ kinh doanh chỉ cần xác nhận thay vì phải khai tay từng khoản; (7) Các phần mềm còn có chức năng nhắc thời hạn kê khai, cảnh báo sai sót…

Đồng thời, Bộ Tài chính đang tích cực triển khai hóa đơn điện tử từ máy tính tiền. Từ 01/7/2022, hóa đơn điện tử được áp dụng toàn quốc. Từ 15/12/2022, Bộ Tài chính đã triển khai thêm hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền, công cụ giúp hộ kinh doanh xuất hóa đơn ngay tại điểm bán. Từ tháng 6/2025, hộ kinh doanh doanh thu trên 1 tỉ đồng/năm trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống, khách sạn, bán lẻ, vận tải hành khách, thẩm mỹ, vui chơi giải trí… buộc phải áp dụng hình thức này để giúp cơ quan thuế nắm được chính xác doanh thu thực tế, giảm thất thu thuế. Chủ hộ kinh doanh có doanh thu trên 1 tỉ đồng không sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền kết nối chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan thuế có thể bị phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng về hành vi không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho người mua theo quy định tại khoản 5 Điều 24 Nghị định 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn. Trường hợp lập hóa đơn điện tử từ máy tính tiền không có kết nối, chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan thuế thì bị phạt tiền từ 4 - 8 triệu đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 24 Nghị định 125/2020/NĐ-CP.

Việc đưa nhóm hộ kinh doanh lớn áp dụng hóa đơn điện tử từ máy tính tiền được kỳ vọng sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa xuống các hộ nhỏ hơn, tiến tới bao phủ toàn bộ khu vực kinh doanh cá thể trong hệ thống quản lý thuế hiện đại do mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh như tiết kiệm thời gian, chi phí khi cho phép người bán hàng xuất hóa đơn ngay tại thời điểm giao dịch, giảm thiểu độ trễ giữa thời điểm thanh toán và thời điểm lập hóa đơn. Dữ liệu hóa đơn được chuyển đến cơ quan thuế thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ nhận, truyền, lưu trữ dữ liệu điện tử, đảm bảo tính chính xác và kịp thời. Việc này còn cảnh báo người tiêu dùng về rủi ro lập hóa đơn của người bán đang thuộc đối tượng ngừng sử dụng hóa đơn điện tử, nâng cao uy tín của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, thể hiện sự chuyên nghiệp, hiện đại. Từ dữ liệu hóa đơn, dòng tiền, thu nhập thực tế, cơ quan thuế có thể phát hiện nhanh các dấu hiệu rủi ro, trốn thuế, ngược lại, hộ nào tuân thủ tốt sẽ được ưu tiên hỗ trợ…

Đồng thời, cơ quan thuế đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn, hỗ trợ kỹ thuật cho hộ kinh doanh trong giai đoạn chuyển tiếp và tăng cường giám sát tuân thủ. Các hộ sẽ được nhắc nhở, hỗ trợ cài đặt máy tính tiền, phần mềm hóa đơn, thậm chí được hỗ trợ tài chính nếu khó khăn. Bộ Tài chính cũng tích cực số hóa và kết nối dữ liệu với các bộ ngành, ngân hàng, cơ quan thị trường; đề nghị chính quyền địa phương chủ động phối hợp, ban hành chính sách hỗ trợ thêm để giúp hộ kinh doanh yên tâm chuyển đổi.

2. Nhận diện những quan ngại và tác động trái chiều

Trên thực tế, một số hộ kinh doanh đã tích cực hợp tác, chủ động tuân thủ yêu cầu chuyển đổi thuế và được cơ quan chức năng tích cực hỗ trợ. Song, vẫn còn không ít băn khoăn, quan ngại và bất đồng trước yêu cầu và tác động hai mặt của chuyển đổi công tác quản lý thuế, tập trung ở một số vấn đề sau:

Trước hết, các hộ kinh doanh lo bị truy thu sau khi bỏ thuế khoán

Hiện nhiều người dân thắc mắc và lo ngại về mục đích việc cơ quan thuế hướng dẫn các cá nhân kinh doanh online khi đến cơ quan thuế đăng ký tài khoản nộp thuế phải sao kê tài khoản ngân hàng từ năm 2019 đến nay để xác định lại mức doanh thu và tiến hành truy thu thuế thu nhập cá nhân nếu có doanh thu vượt quá 100 triệu đồng/năm và phạt chậm thu 0,05%/ngày chậm nộp. Người dân quan ngại rằng, việc hồi tố chính sách thu thuế này là không phù hợp thực tiễn chính sách thời kỳ Covid-19.

Đặc biệt, từ 01/6/2025, các hộ kinh doanh có doanh thu trên 1 tỉ đồng sử dụng hóa đơn điện tử cho từng lần bán, nếu doanh thu tăng đột biến, ngành thuế có thể truy thu những tháng trước đây của họ hay không trong khi tình hình thị trường biến động thất thường giai đoạn trong và hậu Covid-19.

Theo ông Mai Sơn - Phó Cục trưởng Cục Thuế, Bộ Tài chính, cơ quan thuế sẽ không truy thu các tháng trước đây với điều kiện doanh thu theo xuất hóa đơn của hộ, cá nhân kinh doanh tương đương với mức khoán. Trường hợp hộ khoán có thay đổi quy mô kinh doanh (diện tích kinh doanh, lao động, doanh thu...), họ phải thông báo, điều chỉnh tờ khai. Cơ quan thuế căn cứ vào tờ khai, cơ sở dữ liệu và nếu xác định doanh thu khoán thay đổi từ 50% trở lên, sẽ thông báo thay đổi mức thuế khoán cho hộ kinh doanh.

Thứ hai, nhiều hộ kinh doanh lo lắng về hóa đơn đầu vào và kỹ năng sử dụng công nghệ và giấy tờ sổ sách phức tạp

Hiện nhiều người dân và hộ kinh doanh bị lúng túng trước các quy định yêu cầu kê khai doanh thu thực tế và xuất hóa đơn cho từng giao dịch vì thiếu hệ thống ghi chép hiện đại và hàng hóa không có hóa đơn đầu vào, khi thể chế yêu cầu tính chuẩn nhưng thực tiễn chưa được chuẩn hóa. Bởi thông lệ nhiều hàng hóa trong chợ đầu mối, đại lý nhỏ, hoặc các kênh phân phối truyền thống thường không đi kèm hóa đơn chính thức, thậm chí việc mua bán chỉ dựa trên “lòng tin” và giấy viết tay.

Theo quy định mới, muốn xuất hóa đơn điện tử thì hàng hóa phải có nguồn gốc hợp lệ, chứng minh được qua hóa đơn đầu vào. Như vậy, những mặt hàng từng nhập về không hóa đơn sẽ nằm trong “vùng xám” pháp lý.

Bên cạnh đó, nhiều người dân và hộ kinh doanh ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa bày tỏ lo lắng không chỉ tốn thêm chi phí mua sắm, lắp đặt và bảo trì công nghệ cho hệ thống máy tính, phần mềm liên quan; mà còn ngại ngần vì phần mềm hóa đơn điện tử có thiết kế thiếu thân thiện và thuận lợi với người lớn tuổi, nhất là về giao diện hiển thị.

Thứ ba, áp lực giảm thanh toán không dùng tiền mặt và tăng giá hàng

Lo ngại bị truy thu thuế này khiến làn sóng dùng tiền mặt xuất hiện trở lại khi nhiều cơ sở kinh doanh từ chối nhận chuyển khoản. Một số nơi nhận chuyển khoản, nhưng đề nghị khách hàng không ghi các nội dung như mua, tiền cọc, tiền hàng, mà sử dụng nội dung thanh toán mập mờ, như “trả tiền mượn”, “tiền ship”, “tiền cafe”... hoặc thu thêm phụ phí khi khách chọn trả qua ngân hàng.

Đặc biệt, xu hướng né thuế cũng khiến các hộ kinh doanh thu hẹp quy mô hoặc chuyển sang hoạt động ngầm, phi chính thức và suy giảm tiềm năng đóng góp dài hạn, khiến ngân sách nhà nước bị thất thu, làm chậm tiến trình số hóa, khiến Việt Nam bị tụt hậu so với các quốc gia khác trong khu vực về mức độ hiện đại hóa tài chính. Nếu không được kiểm soát, xu hướng này còn làm suy yếu tính công bằng và minh bạch của thể chế thuế. Ngoài ra, chi phí nộp thuế tăng sẽ kéo theo giá cả hàng hóa, dịch vụ có thể tăng lên.

3. Cần chính sách đồng bộ, lộ trình hợp lý, tăng đồng thuận xã hội

Để giải tỏa quan ngại và gia tăng đồng thuận xã hội về không hồi tố truy thu thuế trước 01/6/2025, đông đảo chuyên gia và người dân đồng tình với đề xuất của bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam: Trong thời gian đầu chuyển đổi, nhà điều hành không truy thu phần chưa kê khai hoặc kê khai thiếu trước đây của hộ kinh doanh. Việc này nhằm tạo ra "điểm khởi đầu mới", khuyến khích người dân trung thực trong kê khai thuế. Sau thời điểm này, cơ quan quản lý có thể đưa ra chính sách phạt với trường hợp không chủ động.

Việc cơ quan thuế sớm khẳng định và truyền thông rộng rãi đề nghị này là cấp thiết nhằm sớm xóa nỗi lo có thực đó cho người dân; khắc phục lối suy diễn áp đặt một chiều thiếu thực tiễn thị trường, đảm bảo sự công bằng trách nhiệm giữa người dân với cơ quan thuế trong xác định mức thuế khoán trước đây; đồng thời, khuyến khích chuyển đổi thuế, giảm thiểu các tác động tiêu cực, mặt trái của kiểu hồi tố chính sách này….

Thực tiễn đòi hỏi mọi chính sách thuế đều phải trên nguyên tắc công bằng, minh bạch, đối thoại hai chiều và có căn cứ thực tiễn, đồng thời đảm bảo mục tiêu khuyến khích toàn dân thi đua làm giàu lành mạnh; tạo động lực khuyến khích hộ kinh doanh mở rộng quy mô, nâng cao hiệu suất, tạo ra doanh thu cao hơn…

Thực tế cho thấy, để quy định mới đi vào cuộc sống một cách hiệu quả, ngoài hỗ trợ kỹ thuật, cơ quan quản lý cần có thêm cơ chế khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi, cũng như truyền thông rõ ràng để người dân hiểu đúng vai trò của hóa đơn điện tử trong việc tạo dựng môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng. Hiện nay, hàng hóa từ chợ đầu mối, đại lý bán buôn vẫn là nơi cung cấp chính cho tiểu thương. Nhưng không phải nơi nào cũng có hóa đơn rõ ràng. Vì thế, nếu không có biện pháp để các nhà cung ứng đầu vào cũng tuân thủ chế độ hóa đơn, người bán lẻ sẽ rơi vào thế khó. Nói cách khác, nếu chỉ áp dụng với người bán, mà không chuẩn hóa cả hệ thống cung ứng, chính sách sẽ khó hiệu quả.

Bởi vậy, ngành thuế cần có lộ trình chuyển đổi hợp lý, bước đi thận trọng, đặt con người làm trung tâm. Thay vì “áp lệnh” một cách đột ngột, ngành thuế cần giãn thêm thời gian triển khai, tạo điều kiện để các hộ kinh doanh nhỏ có thời gian thích nghi và làm quen dần với công nghệ mới, với sự đồng hành thực chất, không chỉ qua văn bản pháp lý, mà bằng hành động cụ thể như tập huấn miễn phí, hỗ trợ cài đặt phần mềm, cung cấp máy tính tiền giá rẻ, tư vấn kê khai…

Trước mắt, cần chú ý xây dựng và cải tiến hệ thống hóa đơn điện tử theo hướng thân thiện, đơn giản, chi phí thấp, kết nối chặt chẽ dữ liệu giữa ngân hàng, ví điện tử, nền tảng số và cơ quan thuế, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn để phát hiện bất thường, mà không cần thanh tra tràn lan. Đồng thời, trong quá trình triển khai cần tăng cường hoạt động hỗ trợ tại chỗ và truyền thông rõ ràng, kịp thời, đầy đủ cho các đối tượng liên quan; linh hoạt kết hợp với ưu đãi thuế, hỗ trợ vốn và chuyển đổi số tạo động lực hợp tác, kê khai trung thực, kết nối hóa đơn.

Những thách thức trong tiến trình chuyển đổi từ nền kinh tế phi chính thức sang nền kinh tế số cần được nhận diện đầy đủ, khách quan và việc xử lý cần có lộ trình, tiếp cận nhân văn và hỗ trợ kịp thời. Nếu không kiểm soát đúng cách, hiện tượng né tránh có thể làm gián đoạn quá trình chuyển đổi số trong ngành thuế và làm suy giảm lòng tin vào hệ thống pháp luật tài chính, cũng như làm dấy lên làn sóng “bất hợp tác” ngầm trong khu vực kinh tế hộ cá thể, vốn chiếm tỉ trọng rất lớn trong GDP phi chính thức tại Việt Nam.

Trên hành trình chuyển đổi thuế, các hộ kinh doanh cần nhận được sự đồng hành, hỗ trợ không chỉ từ cơ quan thuế, mà còn từ các đơn vị công nghệ, các hội ngành nghề, các chương trình hỗ trợ từ chính quyền địa phương trong hệ sinh thái phát triển kinh tế số toàn diện cho khu vực kinh tế hộ; cần xây dựng một hệ thống hỗ trợ kỹ thuật toàn diện cho các hộ kinh doanh, bao gồm tổ tư vấn tại địa phương, tổng đài hướng dẫn và các khóa tập huấn về hóa đơn điện tử, kế toán cơ bản, gồm phần mềm, máy móc, chuẩn dữ liệu thống nhất, cổng kết nối mở, các quy trình xử lý rõ ràng cho các tình huống phổ biến, như đổi trả hàng, chênh lệch thuế suất hay các hình thức thanh toán linh hoạt như COD, chuyển khoản, ví điện tử; coi trọng sự đồng bộ dữ liệu giữa ngành thuế với các hệ thống thanh toán, ngân hàng, bảo hiểm xã hội, thậm chí với sàn thương mại điện tử. Chỉ khi dữ liệu được liên thông, xử lý thống nhất theo thời gian thực, thì hộ kinh doanh mới thực sự được giảm gánh nặng hành chính và đây mới chính là đích đến mà cải cách số hóa đang hướng tới.

Ngoài ra, cần chính sách hỗ trợ tài chính cho hộ kinh doanh, như miễn phí phần mềm hóa đơn, hỗ trợ thiết bị đầu cuối hoặc trợ giá chữ ký số, mở rộng dịch vụ ngân hàng số và cung cấp các giải pháp tài chính vi mô.

Một lộ trình từng bước, kết hợp giữa quản lý chặt chẽ và hỗ trợ hiệu quả sẽ giúp đạt được mục tiêu kép: Vừa tăng niềm tin, tạo động lực và đồng thuận xã hội, nuôi dưỡng khu vực kinh tế tư nhân phát triển theo hướng bền vững, vừa đảm bảo thu đúng, thu đủ cho ngân sách và phát triển nền kinh tế chung của cả nước…

Tài liệu tham khảo:

1. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

2. Nghị định số 70/2025/NĐ-CP ngày 20/3/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2020/NĐ-CP quy định về hóa đơn, chứng từ.

3. https://baochinhphu.vn/xoa-thue-khoan-ho-kinh-doanh-buoc-vao-giai-doan-phat-trien-moi-10225053112100751.htm

4. https://laodong.vn/kinh-doanh/chuyen-doi-so-ho-kinh-doanh-go-kho-tu-phan-mem-den-tam-ly-1515142.ldo

5. https://vnexpress.net/ho-kinh-doanh-lo-bi-truy-thu-sau-khi-bo-thue-khoan-4896895.html

6. https://nhipsongdoanhnghiep.laodongcongdoan.vn/ho-kinh-doanh-ban-khoan-khi-phai-len-so-111641.html

7. https://theleader.vn/ngan-hang-toat-mo-hoi-khi-ho-kinh-doanh-nhan-tien-mat-de-ne-thue-d40645.html

TS. Nguyễn Minh Phong

Tin bài khác

Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Bài viết này phân tích những điều chỉnh trong khuôn khổ điều tiết các tỷ lệ bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng, qua đó đánh giá tác động đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng, hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Sự phát triển của ngân hàng số và định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro an ninh mạng. Trong môi trường tài chính số có tính kết nối cao, các rủi ro như tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu tài chính, rủi ro từ điện toán đám mây, thiên kiến thuật toán hay gian lận Deepfake có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích các rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số, đồng thời đánh giá khung pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quản trị công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành nền tảng pháp lý cho quản trị rủi ro an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng số, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường khả năng chống chịu hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị công nghệ và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính số trong bối cảnh vận hành IFC tại Việt Nam.
Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Bài viết phân tích xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam và yêu cầu định hình không gian phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh thế giới đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của hậu quả đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê cũng như thuê nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách về vốn, lãi suất nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đối với phân khúc nhà ở cho thuê cần những giải pháp đồng bộ khác từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng nguồn cung đối với thị trường này.
Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bất định chính sách thương mại của Hoa Kỳ không chỉ tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu mà còn ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam, đặt ra yêu cầu tăng cường năng lực ứng phó trước các cú sốc từ môi trường kinh tế quốc tế và nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính - ngân hàng.
Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Bài viết phân tích thực trạng an toàn tài chính vĩ mô tại Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời đề xuất các giải pháp củng cố nền tảng tài chính, nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế và hướng tới tăng trưởng bền vững.
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Xem thêm
Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Bài viết này phân tích những điều chỉnh trong khuôn khổ điều tiết các tỷ lệ bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng, qua đó đánh giá tác động đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng, hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Sự phát triển của ngân hàng số và định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro an ninh mạng. Trong môi trường tài chính số có tính kết nối cao, các rủi ro như tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu tài chính, rủi ro từ điện toán đám mây, thiên kiến thuật toán hay gian lận Deepfake có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích các rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số, đồng thời đánh giá khung pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quản trị công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành nền tảng pháp lý cho quản trị rủi ro an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng số, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường khả năng chống chịu hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị công nghệ và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính số trong bối cảnh vận hành IFC tại Việt Nam.
Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Bài viết phân tích xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam và yêu cầu định hình không gian phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh thế giới đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của hậu quả đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê cũng như thuê nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách về vốn, lãi suất nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đối với phân khúc nhà ở cho thuê cần những giải pháp đồng bộ khác từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng nguồn cung đối với thị trường này.
Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bất định chính sách thương mại của Hoa Kỳ không chỉ tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu mà còn ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam, đặt ra yêu cầu tăng cường năng lực ứng phó trước các cú sốc từ môi trường kinh tế quốc tế và nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính - ngân hàng.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.
Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Trước yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, Trung Quốc đang đẩy mạnh cải cách cấu trúc hệ thống tài chính và hiện đại hóa điều hành chính sách tiền tệ, qua đó mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy