Để đồng thuận xã hội chuyển đổi thuế hộ kinh doanh

Chính sách
Quán triệt Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Thủ tướng Phạm Minh Chính kêu gọi tạo động lực làm giàu trong toàn dân để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo Nghị quyết, từ năm 2026, Việt Nam sẽ chấm dứt cơ chế thuế khoán với hộ kinh doanh, chuyển sang cơ chế tự kê khai và nộp thuế theo doanh thu thực tế, đồng thời đẩy mạnh thu thuế điện tử.
aa

Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh cần tạo động lực, truyền cảm hứng cho các thương nhân và phát động phong trào toàn dân thi đua làm giàu trên phạm vi cả nước, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nghị quyết số 68-NQ/TW thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy và nhận thức về vai trò của kinh tế tư nhân
Nghị quyết số 68-NQ/TW thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy và nhận thức về vai trò của kinh tế tư nhân (Nguồn ảnh: Internet)

1. Chuyển đổi thuế là cần thiết và hữu ích

Theo Nghị quyết số 68-NQ/TW, Việt Nam hiện có trên 5 triệu hộ kinh doanh, tạo ra hàng chục triệu việc làm, tương đương với khối công ty tư nhân, chiếm vai trò động lực chính trong phát triển nhiều ngành, lĩnh vực, nhất là nông nghiệp và thương mại, dịch vụ. Trước đây, phần lớn hộ kinh doanh thực hiện nghĩa vụ thuế theo hình thức khoán, tức là cơ quan thuế ấn định mức doanh thu và tính thuế theo tỉ lệ nhất định, dao động từ 1,5 - 4,5% tùy ngành nghề. Phương pháp này tuy thiếu chính xác, nhưng bảo đảm tính ổn định trong thu ngân sách và đơn giản, phù hợp với đặc thù giao dịch tiền mặt, quản lý sổ sách thủ công của hộ kinh doanh nhỏ lẻ.

Theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW và quy định mới của ngành thuế, từ năm 2026, Việt Nam sẽ chính thức chấm dứt cơ chế thuế khoán đối với hộ kinh doanh, thay bằng tự kê khai, nộp thuế theo doanh thu thực tế; đồng thời, mở rộng cơ sở tính thuế, nhất là thu thuế điện tử khởi tạo từ máy tính tiền.

Theo Thông tư số 32/2025/TT-BTC ngày 31/5/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Quản lý thuế ngày 13/6/2019, Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về hóa đơn, chứng từ, Nghị định số 70/2025/NĐ-CP ngày 20/3/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2020/NĐ-CP, từ ngày 01/6/2025, hộ kinh doanh có doanh thu trên 1 tỉ đồng/năm và thuộc một số lĩnh vực như ăn uống, bán lẻ, khách sạn, vận tải… sẽ được khuyến khích sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế. Nếu hộ kinh doanh đã đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử trước ngày 01/6 thì không bắt buộc phải chuyển sang dùng máy tính tiền, mà tiếp tục sử dụng hình thức hóa đơn điện tử hiện tại.

Cải cách quản lý thuế này phù hợp với xu thế chuyển đổi số và tiến gần hơn đến các chuẩn mực quản lý thuế hiện đại của thế giới, góp phần tăng minh bạch và công bằng, giảm gian lận và thất thu thuế, thúc đẩy tinh thần trách nhiệm của người nộp thuế, mở ra cơ hội nâng tầm hộ kinh doanh trở thành doanh nghiệp và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân.

Thành công của cải cách này không chỉ phụ thuộc vào thể chế, công nghệ, mà còn cần sự đồng hành, ủng hộ của toàn xã hội, đặc biệt là chính quyền cơ sở và sự đồng thuận cao của bản thân người nộp thuế.

Trên thực tế, Bộ Tài chính đã và đang triển khai 7 nhóm giải pháp đồng bộ, từ pháp lý, công nghệ cho đến hỗ trợ thực tiễn: (1) Sửa đổi Luật Quản lý thuế, trong đó bỏ hoàn toàn cơ chế thuế khoán đối với hộ, cá nhân kinh doanh và áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp đi kèm yêu cầu ghi sổ kế toán, lập hóa đơn như doanh nghiệp và điều chỉnh Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế giá trị gia tăng để quy định mức doanh thu không chịu thuế, bảo vệ nhóm hộ kinh doanh nhỏ; (2) Tổ chức lại bộ máy cơ quan thuế theo hướng tinh gọn, hiệu quả; (3) Quản lý hộ kinh doanh chuyển từ chức năng sang theo đối tượng, bám sát địa bàn, từ đó cá thể hóa trách nhiệm của từng cán bộ thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ, tránh thất thu ngân sách; (4) Đơn giản hóa sổ sách kế toán, hóa đơn và cung cấp miễn phí phần mềm kế toán - hóa đơn dùng chung, giúp hộ kinh doanh dễ tiếp cận và tuân thủ, đồng thời giảm gánh nặng thủ tục; (5) Phát triển hệ thống kê khai điện tử tự động, cho phép hệ thống tự tính toán nghĩa vụ thuế dựa trên dữ liệu hóa đơn; (6) Nhờ đó, hộ kinh doanh chỉ cần xác nhận thay vì phải khai tay từng khoản; (7) Các phần mềm còn có chức năng nhắc thời hạn kê khai, cảnh báo sai sót…

Đồng thời, Bộ Tài chính đang tích cực triển khai hóa đơn điện tử từ máy tính tiền. Từ 01/7/2022, hóa đơn điện tử được áp dụng toàn quốc. Từ 15/12/2022, Bộ Tài chính đã triển khai thêm hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền, công cụ giúp hộ kinh doanh xuất hóa đơn ngay tại điểm bán. Từ tháng 6/2025, hộ kinh doanh doanh thu trên 1 tỉ đồng/năm trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống, khách sạn, bán lẻ, vận tải hành khách, thẩm mỹ, vui chơi giải trí… buộc phải áp dụng hình thức này để giúp cơ quan thuế nắm được chính xác doanh thu thực tế, giảm thất thu thuế. Chủ hộ kinh doanh có doanh thu trên 1 tỉ đồng không sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền kết nối chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan thuế có thể bị phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng về hành vi không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho người mua theo quy định tại khoản 5 Điều 24 Nghị định 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn. Trường hợp lập hóa đơn điện tử từ máy tính tiền không có kết nối, chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan thuế thì bị phạt tiền từ 4 - 8 triệu đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 24 Nghị định 125/2020/NĐ-CP.

Việc đưa nhóm hộ kinh doanh lớn áp dụng hóa đơn điện tử từ máy tính tiền được kỳ vọng sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa xuống các hộ nhỏ hơn, tiến tới bao phủ toàn bộ khu vực kinh doanh cá thể trong hệ thống quản lý thuế hiện đại do mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh như tiết kiệm thời gian, chi phí khi cho phép người bán hàng xuất hóa đơn ngay tại thời điểm giao dịch, giảm thiểu độ trễ giữa thời điểm thanh toán và thời điểm lập hóa đơn. Dữ liệu hóa đơn được chuyển đến cơ quan thuế thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ nhận, truyền, lưu trữ dữ liệu điện tử, đảm bảo tính chính xác và kịp thời. Việc này còn cảnh báo người tiêu dùng về rủi ro lập hóa đơn của người bán đang thuộc đối tượng ngừng sử dụng hóa đơn điện tử, nâng cao uy tín của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, thể hiện sự chuyên nghiệp, hiện đại. Từ dữ liệu hóa đơn, dòng tiền, thu nhập thực tế, cơ quan thuế có thể phát hiện nhanh các dấu hiệu rủi ro, trốn thuế, ngược lại, hộ nào tuân thủ tốt sẽ được ưu tiên hỗ trợ…

Đồng thời, cơ quan thuế đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn, hỗ trợ kỹ thuật cho hộ kinh doanh trong giai đoạn chuyển tiếp và tăng cường giám sát tuân thủ. Các hộ sẽ được nhắc nhở, hỗ trợ cài đặt máy tính tiền, phần mềm hóa đơn, thậm chí được hỗ trợ tài chính nếu khó khăn. Bộ Tài chính cũng tích cực số hóa và kết nối dữ liệu với các bộ ngành, ngân hàng, cơ quan thị trường; đề nghị chính quyền địa phương chủ động phối hợp, ban hành chính sách hỗ trợ thêm để giúp hộ kinh doanh yên tâm chuyển đổi.

2. Nhận diện những quan ngại và tác động trái chiều

Trên thực tế, một số hộ kinh doanh đã tích cực hợp tác, chủ động tuân thủ yêu cầu chuyển đổi thuế và được cơ quan chức năng tích cực hỗ trợ. Song, vẫn còn không ít băn khoăn, quan ngại và bất đồng trước yêu cầu và tác động hai mặt của chuyển đổi công tác quản lý thuế, tập trung ở một số vấn đề sau:

Trước hết, các hộ kinh doanh lo bị truy thu sau khi bỏ thuế khoán

Hiện nhiều người dân thắc mắc và lo ngại về mục đích việc cơ quan thuế hướng dẫn các cá nhân kinh doanh online khi đến cơ quan thuế đăng ký tài khoản nộp thuế phải sao kê tài khoản ngân hàng từ năm 2019 đến nay để xác định lại mức doanh thu và tiến hành truy thu thuế thu nhập cá nhân nếu có doanh thu vượt quá 100 triệu đồng/năm và phạt chậm thu 0,05%/ngày chậm nộp. Người dân quan ngại rằng, việc hồi tố chính sách thu thuế này là không phù hợp thực tiễn chính sách thời kỳ Covid-19.

Đặc biệt, từ 01/6/2025, các hộ kinh doanh có doanh thu trên 1 tỉ đồng sử dụng hóa đơn điện tử cho từng lần bán, nếu doanh thu tăng đột biến, ngành thuế có thể truy thu những tháng trước đây của họ hay không trong khi tình hình thị trường biến động thất thường giai đoạn trong và hậu Covid-19.

Theo ông Mai Sơn - Phó Cục trưởng Cục Thuế, Bộ Tài chính, cơ quan thuế sẽ không truy thu các tháng trước đây với điều kiện doanh thu theo xuất hóa đơn của hộ, cá nhân kinh doanh tương đương với mức khoán. Trường hợp hộ khoán có thay đổi quy mô kinh doanh (diện tích kinh doanh, lao động, doanh thu...), họ phải thông báo, điều chỉnh tờ khai. Cơ quan thuế căn cứ vào tờ khai, cơ sở dữ liệu và nếu xác định doanh thu khoán thay đổi từ 50% trở lên, sẽ thông báo thay đổi mức thuế khoán cho hộ kinh doanh.

Thứ hai, nhiều hộ kinh doanh lo lắng về hóa đơn đầu vào và kỹ năng sử dụng công nghệ và giấy tờ sổ sách phức tạp

Hiện nhiều người dân và hộ kinh doanh bị lúng túng trước các quy định yêu cầu kê khai doanh thu thực tế và xuất hóa đơn cho từng giao dịch vì thiếu hệ thống ghi chép hiện đại và hàng hóa không có hóa đơn đầu vào, khi thể chế yêu cầu tính chuẩn nhưng thực tiễn chưa được chuẩn hóa. Bởi thông lệ nhiều hàng hóa trong chợ đầu mối, đại lý nhỏ, hoặc các kênh phân phối truyền thống thường không đi kèm hóa đơn chính thức, thậm chí việc mua bán chỉ dựa trên “lòng tin” và giấy viết tay.

Theo quy định mới, muốn xuất hóa đơn điện tử thì hàng hóa phải có nguồn gốc hợp lệ, chứng minh được qua hóa đơn đầu vào. Như vậy, những mặt hàng từng nhập về không hóa đơn sẽ nằm trong “vùng xám” pháp lý.

Bên cạnh đó, nhiều người dân và hộ kinh doanh ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa bày tỏ lo lắng không chỉ tốn thêm chi phí mua sắm, lắp đặt và bảo trì công nghệ cho hệ thống máy tính, phần mềm liên quan; mà còn ngại ngần vì phần mềm hóa đơn điện tử có thiết kế thiếu thân thiện và thuận lợi với người lớn tuổi, nhất là về giao diện hiển thị.

Thứ ba, áp lực giảm thanh toán không dùng tiền mặt và tăng giá hàng

Lo ngại bị truy thu thuế này khiến làn sóng dùng tiền mặt xuất hiện trở lại khi nhiều cơ sở kinh doanh từ chối nhận chuyển khoản. Một số nơi nhận chuyển khoản, nhưng đề nghị khách hàng không ghi các nội dung như mua, tiền cọc, tiền hàng, mà sử dụng nội dung thanh toán mập mờ, như “trả tiền mượn”, “tiền ship”, “tiền cafe”... hoặc thu thêm phụ phí khi khách chọn trả qua ngân hàng.

Đặc biệt, xu hướng né thuế cũng khiến các hộ kinh doanh thu hẹp quy mô hoặc chuyển sang hoạt động ngầm, phi chính thức và suy giảm tiềm năng đóng góp dài hạn, khiến ngân sách nhà nước bị thất thu, làm chậm tiến trình số hóa, khiến Việt Nam bị tụt hậu so với các quốc gia khác trong khu vực về mức độ hiện đại hóa tài chính. Nếu không được kiểm soát, xu hướng này còn làm suy yếu tính công bằng và minh bạch của thể chế thuế. Ngoài ra, chi phí nộp thuế tăng sẽ kéo theo giá cả hàng hóa, dịch vụ có thể tăng lên.

3. Cần chính sách đồng bộ, lộ trình hợp lý, tăng đồng thuận xã hội

Để giải tỏa quan ngại và gia tăng đồng thuận xã hội về không hồi tố truy thu thuế trước 01/6/2025, đông đảo chuyên gia và người dân đồng tình với đề xuất của bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam: Trong thời gian đầu chuyển đổi, nhà điều hành không truy thu phần chưa kê khai hoặc kê khai thiếu trước đây của hộ kinh doanh. Việc này nhằm tạo ra "điểm khởi đầu mới", khuyến khích người dân trung thực trong kê khai thuế. Sau thời điểm này, cơ quan quản lý có thể đưa ra chính sách phạt với trường hợp không chủ động.

Việc cơ quan thuế sớm khẳng định và truyền thông rộng rãi đề nghị này là cấp thiết nhằm sớm xóa nỗi lo có thực đó cho người dân; khắc phục lối suy diễn áp đặt một chiều thiếu thực tiễn thị trường, đảm bảo sự công bằng trách nhiệm giữa người dân với cơ quan thuế trong xác định mức thuế khoán trước đây; đồng thời, khuyến khích chuyển đổi thuế, giảm thiểu các tác động tiêu cực, mặt trái của kiểu hồi tố chính sách này….

Thực tiễn đòi hỏi mọi chính sách thuế đều phải trên nguyên tắc công bằng, minh bạch, đối thoại hai chiều và có căn cứ thực tiễn, đồng thời đảm bảo mục tiêu khuyến khích toàn dân thi đua làm giàu lành mạnh; tạo động lực khuyến khích hộ kinh doanh mở rộng quy mô, nâng cao hiệu suất, tạo ra doanh thu cao hơn…

Thực tế cho thấy, để quy định mới đi vào cuộc sống một cách hiệu quả, ngoài hỗ trợ kỹ thuật, cơ quan quản lý cần có thêm cơ chế khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi, cũng như truyền thông rõ ràng để người dân hiểu đúng vai trò của hóa đơn điện tử trong việc tạo dựng môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng. Hiện nay, hàng hóa từ chợ đầu mối, đại lý bán buôn vẫn là nơi cung cấp chính cho tiểu thương. Nhưng không phải nơi nào cũng có hóa đơn rõ ràng. Vì thế, nếu không có biện pháp để các nhà cung ứng đầu vào cũng tuân thủ chế độ hóa đơn, người bán lẻ sẽ rơi vào thế khó. Nói cách khác, nếu chỉ áp dụng với người bán, mà không chuẩn hóa cả hệ thống cung ứng, chính sách sẽ khó hiệu quả.

Bởi vậy, ngành thuế cần có lộ trình chuyển đổi hợp lý, bước đi thận trọng, đặt con người làm trung tâm. Thay vì “áp lệnh” một cách đột ngột, ngành thuế cần giãn thêm thời gian triển khai, tạo điều kiện để các hộ kinh doanh nhỏ có thời gian thích nghi và làm quen dần với công nghệ mới, với sự đồng hành thực chất, không chỉ qua văn bản pháp lý, mà bằng hành động cụ thể như tập huấn miễn phí, hỗ trợ cài đặt phần mềm, cung cấp máy tính tiền giá rẻ, tư vấn kê khai…

Trước mắt, cần chú ý xây dựng và cải tiến hệ thống hóa đơn điện tử theo hướng thân thiện, đơn giản, chi phí thấp, kết nối chặt chẽ dữ liệu giữa ngân hàng, ví điện tử, nền tảng số và cơ quan thuế, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn để phát hiện bất thường, mà không cần thanh tra tràn lan. Đồng thời, trong quá trình triển khai cần tăng cường hoạt động hỗ trợ tại chỗ và truyền thông rõ ràng, kịp thời, đầy đủ cho các đối tượng liên quan; linh hoạt kết hợp với ưu đãi thuế, hỗ trợ vốn và chuyển đổi số tạo động lực hợp tác, kê khai trung thực, kết nối hóa đơn.

Những thách thức trong tiến trình chuyển đổi từ nền kinh tế phi chính thức sang nền kinh tế số cần được nhận diện đầy đủ, khách quan và việc xử lý cần có lộ trình, tiếp cận nhân văn và hỗ trợ kịp thời. Nếu không kiểm soát đúng cách, hiện tượng né tránh có thể làm gián đoạn quá trình chuyển đổi số trong ngành thuế và làm suy giảm lòng tin vào hệ thống pháp luật tài chính, cũng như làm dấy lên làn sóng “bất hợp tác” ngầm trong khu vực kinh tế hộ cá thể, vốn chiếm tỉ trọng rất lớn trong GDP phi chính thức tại Việt Nam.

Trên hành trình chuyển đổi thuế, các hộ kinh doanh cần nhận được sự đồng hành, hỗ trợ không chỉ từ cơ quan thuế, mà còn từ các đơn vị công nghệ, các hội ngành nghề, các chương trình hỗ trợ từ chính quyền địa phương trong hệ sinh thái phát triển kinh tế số toàn diện cho khu vực kinh tế hộ; cần xây dựng một hệ thống hỗ trợ kỹ thuật toàn diện cho các hộ kinh doanh, bao gồm tổ tư vấn tại địa phương, tổng đài hướng dẫn và các khóa tập huấn về hóa đơn điện tử, kế toán cơ bản, gồm phần mềm, máy móc, chuẩn dữ liệu thống nhất, cổng kết nối mở, các quy trình xử lý rõ ràng cho các tình huống phổ biến, như đổi trả hàng, chênh lệch thuế suất hay các hình thức thanh toán linh hoạt như COD, chuyển khoản, ví điện tử; coi trọng sự đồng bộ dữ liệu giữa ngành thuế với các hệ thống thanh toán, ngân hàng, bảo hiểm xã hội, thậm chí với sàn thương mại điện tử. Chỉ khi dữ liệu được liên thông, xử lý thống nhất theo thời gian thực, thì hộ kinh doanh mới thực sự được giảm gánh nặng hành chính và đây mới chính là đích đến mà cải cách số hóa đang hướng tới.

Ngoài ra, cần chính sách hỗ trợ tài chính cho hộ kinh doanh, như miễn phí phần mềm hóa đơn, hỗ trợ thiết bị đầu cuối hoặc trợ giá chữ ký số, mở rộng dịch vụ ngân hàng số và cung cấp các giải pháp tài chính vi mô.

Một lộ trình từng bước, kết hợp giữa quản lý chặt chẽ và hỗ trợ hiệu quả sẽ giúp đạt được mục tiêu kép: Vừa tăng niềm tin, tạo động lực và đồng thuận xã hội, nuôi dưỡng khu vực kinh tế tư nhân phát triển theo hướng bền vững, vừa đảm bảo thu đúng, thu đủ cho ngân sách và phát triển nền kinh tế chung của cả nước…

Tài liệu tham khảo:

1. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

2. Nghị định số 70/2025/NĐ-CP ngày 20/3/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2020/NĐ-CP quy định về hóa đơn, chứng từ.

3. https://baochinhphu.vn/xoa-thue-khoan-ho-kinh-doanh-buoc-vao-giai-doan-phat-trien-moi-10225053112100751.htm

4. https://laodong.vn/kinh-doanh/chuyen-doi-so-ho-kinh-doanh-go-kho-tu-phan-mem-den-tam-ly-1515142.ldo

5. https://vnexpress.net/ho-kinh-doanh-lo-bi-truy-thu-sau-khi-bo-thue-khoan-4896895.html

6. https://nhipsongdoanhnghiep.laodongcongdoan.vn/ho-kinh-doanh-ban-khoan-khi-phai-len-so-111641.html

7. https://theleader.vn/ngan-hang-toat-mo-hoi-khi-ho-kinh-doanh-nhan-tien-mat-de-ne-thue-d40645.html

TS. Nguyễn Minh Phong

Tin bài khác

Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Ngày 01/01/2026, Văn phòng Quốc hội công bố 10 sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025
Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Đối với Việt Nam, việc ban hành các văn bản pháp luật đã phần nào đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (viết tắt là cơ chế thử nghiệm), đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, để cơ chế thử nghiệm thực sự phát huy hiệu quả, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý tổng thể, thiết lập quy trình minh bạch, cơ chế giám sát rủi ro chặt chẽ và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý, đồng thời cần gắn với mục tiêu phát triển bền vững và chuyển đổi số quốc gia.
Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Bài viết phân tích thực trạng, nguyên nhân và khẳng định sự cần thiết đổi mới đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo hướng áp dụng các chỉ số đo lường hiệu quả công việc (Key Performance Indicators - KPI), đồng thời đề xuất giải pháp triển khai phù hợp với khu vực công.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Bài viết làm rõ triển vọng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, đồng thời chỉ ra những điều kiện then chốt để mô hình này phát triển hiệu quả, bền vững và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Tài chính xanh chỉ có thể phát huy hiệu quả khi dòng vốn được phân bổ đúng địa chỉ, đúng nhu cầu và thực chất, nhằm bảo đảm tín dụng xanh không chỉ là trách nhiệm với cộng đồng mà còn trở thành cơ hội chiến lược để các ngân hàng định vị hướng phát triển bền vững của mình.
Hoàn thiện khung pháp lý về bảo hiểm tiền gửi trong mạng lưới an toàn tài chính quốc gia

Hoàn thiện khung pháp lý về bảo hiểm tiền gửi trong mạng lưới an toàn tài chính quốc gia

Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025, có hiệu lực từ ngày 01/5/2026, đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong khuôn khổ pháp lý bảo vệ người gửi tiền tại Việt Nam. Trong bối cảnh hệ thống tài chính - ngân hàng phát triển theo chiều sâu và rủi ro lan truyền gia tăng, bảo hiểm tiền gửi đang được tái định vị như một công cụ chính sách chủ động nhằm quản trị rủi ro hệ thống và củng cố niềm tin thị trường.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Cải cách chính sách thuế thu nhập cá nhân trong bối cảnh hiện đại hóa quản lý tài chính và kinh tế số

Cải cách chính sách thuế thu nhập cá nhân trong bối cảnh hiện đại hóa quản lý tài chính và kinh tế số

Luật Thuế Thu nhập cá nhân năm 2025 cho thấy cách tiếp cận mới trong xây dựng chính sách thuế, khi không chỉ tập trung mở rộng diện thu và tăng cường quản lý thu nhập mà còn chủ động sử dụng thuế như một công cụ định hướng phát triển kinh tế bền vững.
Xem thêm
Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Ngày 01/01/2026, Văn phòng Quốc hội công bố 10 sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025
Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Đối với Việt Nam, việc ban hành các văn bản pháp luật đã phần nào đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (viết tắt là cơ chế thử nghiệm), đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, để cơ chế thử nghiệm thực sự phát huy hiệu quả, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý tổng thể, thiết lập quy trình minh bạch, cơ chế giám sát rủi ro chặt chẽ và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý, đồng thời cần gắn với mục tiêu phát triển bền vững và chuyển đổi số quốc gia.
Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Bài viết phân tích thực trạng, nguyên nhân và khẳng định sự cần thiết đổi mới đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo hướng áp dụng các chỉ số đo lường hiệu quả công việc (Key Performance Indicators - KPI), đồng thời đề xuất giải pháp triển khai phù hợp với khu vực công.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Bài viết làm rõ triển vọng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, đồng thời chỉ ra những điều kiện then chốt để mô hình này phát triển hiệu quả, bền vững và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Tài chính xanh chỉ có thể phát huy hiệu quả khi dòng vốn được phân bổ đúng địa chỉ, đúng nhu cầu và thực chất, nhằm bảo đảm tín dụng xanh không chỉ là trách nhiệm với cộng đồng mà còn trở thành cơ hội chiến lược để các ngân hàng định vị hướng phát triển bền vững của mình.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Quyết định vay vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài thị trường tài chính thuần túy, trong đó môi trường thông tin và thể chế ngày càng nổi lên như những biến số quan trọng. Trên cơ sở phân tích định lượng, bài viết đánh giá vai trò của tự do ngôn luận trong mối quan hệ giữa tham nhũng và sự nản lòng vay vốn ngân hàng.
Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế  và khuyến nghị đối với Việt Nam

Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa ở Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh xét theo cả quy mô giao dịch và mức độ phổ cập trong đời sống tài chính, yêu cầu hoàn thiện khung phòng, chống rửa tiền trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, bởi các chỉ dấu khách quan cho thấy Việt Nam vừa nằm trong nhóm quốc gia có giá trị giao dịch trên chuỗi rất lớn.
Pháp luật Liên minh châu Âu  về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Pháp luật Liên minh châu Âu về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Dữ liệu cá nhân giữ vai trò nền tảng trong thương mại điện tử, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động tương tác và kinh doanh trên môi trường số. Bài viết phân tích quy định của EU (đặc biệt là GDPR 2016), đánh giá tác động thực thi, so sánh với pháp luật Việt Nam để chỉ ra bất cập và đề xuất hoàn thiện cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng