Để đồng thuận xã hội chuyển đổi thuế hộ kinh doanh

Chính sách
Quán triệt Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Thủ tướng Phạm Minh Chính kêu gọi tạo động lực làm giàu trong toàn dân để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo Nghị quyết, từ năm 2026, Việt Nam sẽ chấm dứt cơ chế thuế khoán với hộ kinh doanh, chuyển sang cơ chế tự kê khai và nộp thuế theo doanh thu thực tế, đồng thời đẩy mạnh thu thuế điện tử.
aa

Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh cần tạo động lực, truyền cảm hứng cho các thương nhân và phát động phong trào toàn dân thi đua làm giàu trên phạm vi cả nước, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nghị quyết số 68-NQ/TW thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy và nhận thức về vai trò của kinh tế tư nhân
Nghị quyết số 68-NQ/TW thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy và nhận thức về vai trò của kinh tế tư nhân (Nguồn ảnh: Internet)

1. Chuyển đổi thuế là cần thiết và hữu ích

Theo Nghị quyết số 68-NQ/TW, Việt Nam hiện có trên 5 triệu hộ kinh doanh, tạo ra hàng chục triệu việc làm, tương đương với khối công ty tư nhân, chiếm vai trò động lực chính trong phát triển nhiều ngành, lĩnh vực, nhất là nông nghiệp và thương mại, dịch vụ. Trước đây, phần lớn hộ kinh doanh thực hiện nghĩa vụ thuế theo hình thức khoán, tức là cơ quan thuế ấn định mức doanh thu và tính thuế theo tỉ lệ nhất định, dao động từ 1,5 - 4,5% tùy ngành nghề. Phương pháp này tuy thiếu chính xác, nhưng bảo đảm tính ổn định trong thu ngân sách và đơn giản, phù hợp với đặc thù giao dịch tiền mặt, quản lý sổ sách thủ công của hộ kinh doanh nhỏ lẻ.

Theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW và quy định mới của ngành thuế, từ năm 2026, Việt Nam sẽ chính thức chấm dứt cơ chế thuế khoán đối với hộ kinh doanh, thay bằng tự kê khai, nộp thuế theo doanh thu thực tế; đồng thời, mở rộng cơ sở tính thuế, nhất là thu thuế điện tử khởi tạo từ máy tính tiền.

Theo Thông tư số 32/2025/TT-BTC ngày 31/5/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Quản lý thuế ngày 13/6/2019, Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về hóa đơn, chứng từ, Nghị định số 70/2025/NĐ-CP ngày 20/3/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2020/NĐ-CP, từ ngày 01/6/2025, hộ kinh doanh có doanh thu trên 1 tỉ đồng/năm và thuộc một số lĩnh vực như ăn uống, bán lẻ, khách sạn, vận tải… sẽ được khuyến khích sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế. Nếu hộ kinh doanh đã đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử trước ngày 01/6 thì không bắt buộc phải chuyển sang dùng máy tính tiền, mà tiếp tục sử dụng hình thức hóa đơn điện tử hiện tại.

Cải cách quản lý thuế này phù hợp với xu thế chuyển đổi số và tiến gần hơn đến các chuẩn mực quản lý thuế hiện đại của thế giới, góp phần tăng minh bạch và công bằng, giảm gian lận và thất thu thuế, thúc đẩy tinh thần trách nhiệm của người nộp thuế, mở ra cơ hội nâng tầm hộ kinh doanh trở thành doanh nghiệp và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân.

Thành công của cải cách này không chỉ phụ thuộc vào thể chế, công nghệ, mà còn cần sự đồng hành, ủng hộ của toàn xã hội, đặc biệt là chính quyền cơ sở và sự đồng thuận cao của bản thân người nộp thuế.

Trên thực tế, Bộ Tài chính đã và đang triển khai 7 nhóm giải pháp đồng bộ, từ pháp lý, công nghệ cho đến hỗ trợ thực tiễn: (1) Sửa đổi Luật Quản lý thuế, trong đó bỏ hoàn toàn cơ chế thuế khoán đối với hộ, cá nhân kinh doanh và áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp đi kèm yêu cầu ghi sổ kế toán, lập hóa đơn như doanh nghiệp và điều chỉnh Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế giá trị gia tăng để quy định mức doanh thu không chịu thuế, bảo vệ nhóm hộ kinh doanh nhỏ; (2) Tổ chức lại bộ máy cơ quan thuế theo hướng tinh gọn, hiệu quả; (3) Quản lý hộ kinh doanh chuyển từ chức năng sang theo đối tượng, bám sát địa bàn, từ đó cá thể hóa trách nhiệm của từng cán bộ thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ, tránh thất thu ngân sách; (4) Đơn giản hóa sổ sách kế toán, hóa đơn và cung cấp miễn phí phần mềm kế toán - hóa đơn dùng chung, giúp hộ kinh doanh dễ tiếp cận và tuân thủ, đồng thời giảm gánh nặng thủ tục; (5) Phát triển hệ thống kê khai điện tử tự động, cho phép hệ thống tự tính toán nghĩa vụ thuế dựa trên dữ liệu hóa đơn; (6) Nhờ đó, hộ kinh doanh chỉ cần xác nhận thay vì phải khai tay từng khoản; (7) Các phần mềm còn có chức năng nhắc thời hạn kê khai, cảnh báo sai sót…

Đồng thời, Bộ Tài chính đang tích cực triển khai hóa đơn điện tử từ máy tính tiền. Từ 01/7/2022, hóa đơn điện tử được áp dụng toàn quốc. Từ 15/12/2022, Bộ Tài chính đã triển khai thêm hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền, công cụ giúp hộ kinh doanh xuất hóa đơn ngay tại điểm bán. Từ tháng 6/2025, hộ kinh doanh doanh thu trên 1 tỉ đồng/năm trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống, khách sạn, bán lẻ, vận tải hành khách, thẩm mỹ, vui chơi giải trí… buộc phải áp dụng hình thức này để giúp cơ quan thuế nắm được chính xác doanh thu thực tế, giảm thất thu thuế. Chủ hộ kinh doanh có doanh thu trên 1 tỉ đồng không sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền kết nối chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan thuế có thể bị phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng về hành vi không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho người mua theo quy định tại khoản 5 Điều 24 Nghị định 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn. Trường hợp lập hóa đơn điện tử từ máy tính tiền không có kết nối, chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan thuế thì bị phạt tiền từ 4 - 8 triệu đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 24 Nghị định 125/2020/NĐ-CP.

Việc đưa nhóm hộ kinh doanh lớn áp dụng hóa đơn điện tử từ máy tính tiền được kỳ vọng sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa xuống các hộ nhỏ hơn, tiến tới bao phủ toàn bộ khu vực kinh doanh cá thể trong hệ thống quản lý thuế hiện đại do mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh như tiết kiệm thời gian, chi phí khi cho phép người bán hàng xuất hóa đơn ngay tại thời điểm giao dịch, giảm thiểu độ trễ giữa thời điểm thanh toán và thời điểm lập hóa đơn. Dữ liệu hóa đơn được chuyển đến cơ quan thuế thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ nhận, truyền, lưu trữ dữ liệu điện tử, đảm bảo tính chính xác và kịp thời. Việc này còn cảnh báo người tiêu dùng về rủi ro lập hóa đơn của người bán đang thuộc đối tượng ngừng sử dụng hóa đơn điện tử, nâng cao uy tín của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, thể hiện sự chuyên nghiệp, hiện đại. Từ dữ liệu hóa đơn, dòng tiền, thu nhập thực tế, cơ quan thuế có thể phát hiện nhanh các dấu hiệu rủi ro, trốn thuế, ngược lại, hộ nào tuân thủ tốt sẽ được ưu tiên hỗ trợ…

Đồng thời, cơ quan thuế đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn, hỗ trợ kỹ thuật cho hộ kinh doanh trong giai đoạn chuyển tiếp và tăng cường giám sát tuân thủ. Các hộ sẽ được nhắc nhở, hỗ trợ cài đặt máy tính tiền, phần mềm hóa đơn, thậm chí được hỗ trợ tài chính nếu khó khăn. Bộ Tài chính cũng tích cực số hóa và kết nối dữ liệu với các bộ ngành, ngân hàng, cơ quan thị trường; đề nghị chính quyền địa phương chủ động phối hợp, ban hành chính sách hỗ trợ thêm để giúp hộ kinh doanh yên tâm chuyển đổi.

2. Nhận diện những quan ngại và tác động trái chiều

Trên thực tế, một số hộ kinh doanh đã tích cực hợp tác, chủ động tuân thủ yêu cầu chuyển đổi thuế và được cơ quan chức năng tích cực hỗ trợ. Song, vẫn còn không ít băn khoăn, quan ngại và bất đồng trước yêu cầu và tác động hai mặt của chuyển đổi công tác quản lý thuế, tập trung ở một số vấn đề sau:

Trước hết, các hộ kinh doanh lo bị truy thu sau khi bỏ thuế khoán

Hiện nhiều người dân thắc mắc và lo ngại về mục đích việc cơ quan thuế hướng dẫn các cá nhân kinh doanh online khi đến cơ quan thuế đăng ký tài khoản nộp thuế phải sao kê tài khoản ngân hàng từ năm 2019 đến nay để xác định lại mức doanh thu và tiến hành truy thu thuế thu nhập cá nhân nếu có doanh thu vượt quá 100 triệu đồng/năm và phạt chậm thu 0,05%/ngày chậm nộp. Người dân quan ngại rằng, việc hồi tố chính sách thu thuế này là không phù hợp thực tiễn chính sách thời kỳ Covid-19.

Đặc biệt, từ 01/6/2025, các hộ kinh doanh có doanh thu trên 1 tỉ đồng sử dụng hóa đơn điện tử cho từng lần bán, nếu doanh thu tăng đột biến, ngành thuế có thể truy thu những tháng trước đây của họ hay không trong khi tình hình thị trường biến động thất thường giai đoạn trong và hậu Covid-19.

Theo ông Mai Sơn - Phó Cục trưởng Cục Thuế, Bộ Tài chính, cơ quan thuế sẽ không truy thu các tháng trước đây với điều kiện doanh thu theo xuất hóa đơn của hộ, cá nhân kinh doanh tương đương với mức khoán. Trường hợp hộ khoán có thay đổi quy mô kinh doanh (diện tích kinh doanh, lao động, doanh thu...), họ phải thông báo, điều chỉnh tờ khai. Cơ quan thuế căn cứ vào tờ khai, cơ sở dữ liệu và nếu xác định doanh thu khoán thay đổi từ 50% trở lên, sẽ thông báo thay đổi mức thuế khoán cho hộ kinh doanh.

Thứ hai, nhiều hộ kinh doanh lo lắng về hóa đơn đầu vào và kỹ năng sử dụng công nghệ và giấy tờ sổ sách phức tạp

Hiện nhiều người dân và hộ kinh doanh bị lúng túng trước các quy định yêu cầu kê khai doanh thu thực tế và xuất hóa đơn cho từng giao dịch vì thiếu hệ thống ghi chép hiện đại và hàng hóa không có hóa đơn đầu vào, khi thể chế yêu cầu tính chuẩn nhưng thực tiễn chưa được chuẩn hóa. Bởi thông lệ nhiều hàng hóa trong chợ đầu mối, đại lý nhỏ, hoặc các kênh phân phối truyền thống thường không đi kèm hóa đơn chính thức, thậm chí việc mua bán chỉ dựa trên “lòng tin” và giấy viết tay.

Theo quy định mới, muốn xuất hóa đơn điện tử thì hàng hóa phải có nguồn gốc hợp lệ, chứng minh được qua hóa đơn đầu vào. Như vậy, những mặt hàng từng nhập về không hóa đơn sẽ nằm trong “vùng xám” pháp lý.

Bên cạnh đó, nhiều người dân và hộ kinh doanh ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa bày tỏ lo lắng không chỉ tốn thêm chi phí mua sắm, lắp đặt và bảo trì công nghệ cho hệ thống máy tính, phần mềm liên quan; mà còn ngại ngần vì phần mềm hóa đơn điện tử có thiết kế thiếu thân thiện và thuận lợi với người lớn tuổi, nhất là về giao diện hiển thị.

Thứ ba, áp lực giảm thanh toán không dùng tiền mặt và tăng giá hàng

Lo ngại bị truy thu thuế này khiến làn sóng dùng tiền mặt xuất hiện trở lại khi nhiều cơ sở kinh doanh từ chối nhận chuyển khoản. Một số nơi nhận chuyển khoản, nhưng đề nghị khách hàng không ghi các nội dung như mua, tiền cọc, tiền hàng, mà sử dụng nội dung thanh toán mập mờ, như “trả tiền mượn”, “tiền ship”, “tiền cafe”... hoặc thu thêm phụ phí khi khách chọn trả qua ngân hàng.

Đặc biệt, xu hướng né thuế cũng khiến các hộ kinh doanh thu hẹp quy mô hoặc chuyển sang hoạt động ngầm, phi chính thức và suy giảm tiềm năng đóng góp dài hạn, khiến ngân sách nhà nước bị thất thu, làm chậm tiến trình số hóa, khiến Việt Nam bị tụt hậu so với các quốc gia khác trong khu vực về mức độ hiện đại hóa tài chính. Nếu không được kiểm soát, xu hướng này còn làm suy yếu tính công bằng và minh bạch của thể chế thuế. Ngoài ra, chi phí nộp thuế tăng sẽ kéo theo giá cả hàng hóa, dịch vụ có thể tăng lên.

3. Cần chính sách đồng bộ, lộ trình hợp lý, tăng đồng thuận xã hội

Để giải tỏa quan ngại và gia tăng đồng thuận xã hội về không hồi tố truy thu thuế trước 01/6/2025, đông đảo chuyên gia và người dân đồng tình với đề xuất của bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam: Trong thời gian đầu chuyển đổi, nhà điều hành không truy thu phần chưa kê khai hoặc kê khai thiếu trước đây của hộ kinh doanh. Việc này nhằm tạo ra "điểm khởi đầu mới", khuyến khích người dân trung thực trong kê khai thuế. Sau thời điểm này, cơ quan quản lý có thể đưa ra chính sách phạt với trường hợp không chủ động.

Việc cơ quan thuế sớm khẳng định và truyền thông rộng rãi đề nghị này là cấp thiết nhằm sớm xóa nỗi lo có thực đó cho người dân; khắc phục lối suy diễn áp đặt một chiều thiếu thực tiễn thị trường, đảm bảo sự công bằng trách nhiệm giữa người dân với cơ quan thuế trong xác định mức thuế khoán trước đây; đồng thời, khuyến khích chuyển đổi thuế, giảm thiểu các tác động tiêu cực, mặt trái của kiểu hồi tố chính sách này….

Thực tiễn đòi hỏi mọi chính sách thuế đều phải trên nguyên tắc công bằng, minh bạch, đối thoại hai chiều và có căn cứ thực tiễn, đồng thời đảm bảo mục tiêu khuyến khích toàn dân thi đua làm giàu lành mạnh; tạo động lực khuyến khích hộ kinh doanh mở rộng quy mô, nâng cao hiệu suất, tạo ra doanh thu cao hơn…

Thực tế cho thấy, để quy định mới đi vào cuộc sống một cách hiệu quả, ngoài hỗ trợ kỹ thuật, cơ quan quản lý cần có thêm cơ chế khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi, cũng như truyền thông rõ ràng để người dân hiểu đúng vai trò của hóa đơn điện tử trong việc tạo dựng môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng. Hiện nay, hàng hóa từ chợ đầu mối, đại lý bán buôn vẫn là nơi cung cấp chính cho tiểu thương. Nhưng không phải nơi nào cũng có hóa đơn rõ ràng. Vì thế, nếu không có biện pháp để các nhà cung ứng đầu vào cũng tuân thủ chế độ hóa đơn, người bán lẻ sẽ rơi vào thế khó. Nói cách khác, nếu chỉ áp dụng với người bán, mà không chuẩn hóa cả hệ thống cung ứng, chính sách sẽ khó hiệu quả.

Bởi vậy, ngành thuế cần có lộ trình chuyển đổi hợp lý, bước đi thận trọng, đặt con người làm trung tâm. Thay vì “áp lệnh” một cách đột ngột, ngành thuế cần giãn thêm thời gian triển khai, tạo điều kiện để các hộ kinh doanh nhỏ có thời gian thích nghi và làm quen dần với công nghệ mới, với sự đồng hành thực chất, không chỉ qua văn bản pháp lý, mà bằng hành động cụ thể như tập huấn miễn phí, hỗ trợ cài đặt phần mềm, cung cấp máy tính tiền giá rẻ, tư vấn kê khai…

Trước mắt, cần chú ý xây dựng và cải tiến hệ thống hóa đơn điện tử theo hướng thân thiện, đơn giản, chi phí thấp, kết nối chặt chẽ dữ liệu giữa ngân hàng, ví điện tử, nền tảng số và cơ quan thuế, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn để phát hiện bất thường, mà không cần thanh tra tràn lan. Đồng thời, trong quá trình triển khai cần tăng cường hoạt động hỗ trợ tại chỗ và truyền thông rõ ràng, kịp thời, đầy đủ cho các đối tượng liên quan; linh hoạt kết hợp với ưu đãi thuế, hỗ trợ vốn và chuyển đổi số tạo động lực hợp tác, kê khai trung thực, kết nối hóa đơn.

Những thách thức trong tiến trình chuyển đổi từ nền kinh tế phi chính thức sang nền kinh tế số cần được nhận diện đầy đủ, khách quan và việc xử lý cần có lộ trình, tiếp cận nhân văn và hỗ trợ kịp thời. Nếu không kiểm soát đúng cách, hiện tượng né tránh có thể làm gián đoạn quá trình chuyển đổi số trong ngành thuế và làm suy giảm lòng tin vào hệ thống pháp luật tài chính, cũng như làm dấy lên làn sóng “bất hợp tác” ngầm trong khu vực kinh tế hộ cá thể, vốn chiếm tỉ trọng rất lớn trong GDP phi chính thức tại Việt Nam.

Trên hành trình chuyển đổi thuế, các hộ kinh doanh cần nhận được sự đồng hành, hỗ trợ không chỉ từ cơ quan thuế, mà còn từ các đơn vị công nghệ, các hội ngành nghề, các chương trình hỗ trợ từ chính quyền địa phương trong hệ sinh thái phát triển kinh tế số toàn diện cho khu vực kinh tế hộ; cần xây dựng một hệ thống hỗ trợ kỹ thuật toàn diện cho các hộ kinh doanh, bao gồm tổ tư vấn tại địa phương, tổng đài hướng dẫn và các khóa tập huấn về hóa đơn điện tử, kế toán cơ bản, gồm phần mềm, máy móc, chuẩn dữ liệu thống nhất, cổng kết nối mở, các quy trình xử lý rõ ràng cho các tình huống phổ biến, như đổi trả hàng, chênh lệch thuế suất hay các hình thức thanh toán linh hoạt như COD, chuyển khoản, ví điện tử; coi trọng sự đồng bộ dữ liệu giữa ngành thuế với các hệ thống thanh toán, ngân hàng, bảo hiểm xã hội, thậm chí với sàn thương mại điện tử. Chỉ khi dữ liệu được liên thông, xử lý thống nhất theo thời gian thực, thì hộ kinh doanh mới thực sự được giảm gánh nặng hành chính và đây mới chính là đích đến mà cải cách số hóa đang hướng tới.

Ngoài ra, cần chính sách hỗ trợ tài chính cho hộ kinh doanh, như miễn phí phần mềm hóa đơn, hỗ trợ thiết bị đầu cuối hoặc trợ giá chữ ký số, mở rộng dịch vụ ngân hàng số và cung cấp các giải pháp tài chính vi mô.

Một lộ trình từng bước, kết hợp giữa quản lý chặt chẽ và hỗ trợ hiệu quả sẽ giúp đạt được mục tiêu kép: Vừa tăng niềm tin, tạo động lực và đồng thuận xã hội, nuôi dưỡng khu vực kinh tế tư nhân phát triển theo hướng bền vững, vừa đảm bảo thu đúng, thu đủ cho ngân sách và phát triển nền kinh tế chung của cả nước…

Tài liệu tham khảo:

1. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

2. Nghị định số 70/2025/NĐ-CP ngày 20/3/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2020/NĐ-CP quy định về hóa đơn, chứng từ.

3. https://baochinhphu.vn/xoa-thue-khoan-ho-kinh-doanh-buoc-vao-giai-doan-phat-trien-moi-10225053112100751.htm

4. https://laodong.vn/kinh-doanh/chuyen-doi-so-ho-kinh-doanh-go-kho-tu-phan-mem-den-tam-ly-1515142.ldo

5. https://vnexpress.net/ho-kinh-doanh-lo-bi-truy-thu-sau-khi-bo-thue-khoan-4896895.html

6. https://nhipsongdoanhnghiep.laodongcongdoan.vn/ho-kinh-doanh-ban-khoan-khi-phai-len-so-111641.html

7. https://theleader.vn/ngan-hang-toat-mo-hoi-khi-ho-kinh-doanh-nhan-tien-mat-de-ne-thue-d40645.html

TS. Nguyễn Minh Phong

Tin bài khác

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Bài viết chỉ ra rằng, căng thẳng Trung Đông thông qua cú sốc giá năng lượng và logistics, có thể khuếch đại áp lực lạm phát, tỉ giá và tăng trưởng của Việt Nam, qua đó đặt ra yêu cầu điều hành chính sách vĩ mô linh hoạt nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột Trung Đông đầu năm 2026, chỉ ra các áp lực ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò hạ tầng chiến lược của hệ thống ngân hàng và gợi mở các giải pháp chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Chiều 02/4/2026, tại Hà Nội, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới”, kết hợp Hội nghị Cộng tác viên và Hội đồng biên tập Tạp chí Ngân hàng.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Xem thêm
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Bài viết chỉ ra rằng, căng thẳng Trung Đông thông qua cú sốc giá năng lượng và logistics, có thể khuếch đại áp lực lạm phát, tỉ giá và tăng trưởng của Việt Nam, qua đó đặt ra yêu cầu điều hành chính sách vĩ mô linh hoạt nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành