Nhân tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực đầu tư phát triển mô hình du lịch nông nghiệp: Nghiên cứu vùng Duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi
Du lịch nông nghiệp có nhiều tác động tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương, đặc biệt là khu vực nông thôn và các tỉnh đang trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nghiên cứu này sẽ phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động nguồn lực đầu tư cho phát triển mô hình du lịch nông nghiệp tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và đề xuất một số kiến nghị phù hợp.
aa


Tóm tắt: Nghiên cứu này nhằm xác định và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động nguồn lực đầu tư cho phát triển mô hình du lịch nông nghiệp tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. Trên cơ sở lý thuyết về phát triển bền vững, chuỗi giá trị, hệ sinh thái đổi mới và các nghiên cứu trước, mô hình nghiên cứu được đề xuất gồm 7 nhân tố: (i) Chính sách và pháp luật; (ii) Hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ; (iii) Sự tham gia của cộng đồng; (iv) Tiềm năng tài nguyên; (v) Thị trường và nhu cầu du khách; (vi) Năng lực của chủ thể tham gia làm du lịch nông nghiệp; (vii) Khả năng huy động nguồn lực đầu tư. Dữ liệu khảo sát được thu thập từ 352 phiếu hợp lệ tại các tỉnh, thành vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và được xử lý bằng các phương pháp phân tích Cronbach’s Alpha, nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính bội. Kết quả chỉ ra rằng, tất cả các nhân tố đều có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến biến phụ thuộc, trong đó Chính sách và pháp luậtNăng lực của chủ thể tham gia làm du lịch nông nghiệp là hai nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất. Trên cơ sở này, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực đầu tư, góp phần phát triển du lịch nông nghiệp bền vững trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

Từ khóa: Du lịch nông nghiệp, mô hình du lịch nông nghiệp, huy động nguồn lực, Duyên hải Nam Trung Bộ, phát triển bền vững.

FACTORS INFLUENCING THE MOBILIZATION OF INVESTMENT RESOURCES FOR THE DEVELOPMENT OF AGRITOURISM MODELS: A STUDY IN THE SOUTH CENTRAL COAST OF VIETNAM

Abstract: This study aims to identify and analyze the factors influencing the mobilization of investment resources for the development of agritourism models in the South Central Coastal region of Vietnam. Grounded in the theoretical frameworks of sustainable development, value chains, innovation ecosystems, and prior empirical studies, the proposed research model comprises seven factors: (i) Policies and legal frameworks; (ii) Infrastructure and supporting services; (iii) Community participation; (iv) Resource potential; (v) Markets and tourist demand; (vi) Capacity of tourism actors; (vii) Investment resource mobilization capability. Survey data were collected from 352 valid questionnaires across provinces and cities in the South Central Coast and analyzed using Cronbach’s Alpha, Exploratory Factor Analysis (EFA), and multiple linear regression methods. The findings indicate that all factors exert a positive and statistically significant influence on the dependent variable, with “Policies and legal frameworks” and “Capacity of tourism actors” emerging as the most influential. Based on these results, the study proposes several policy implications to enhance the effectiveness of investment resource mobilization, thereby contributing to the sustainable development of agritourism in the context of integration and digital transformation.

Keywords: Agritourism, agritourism model, resource mobilization, South Central Coast of Vietnam, sustainable development.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy nhiều mô hình du lịch nông nghiệp thành công đã góp phần nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp, tạo việc làm và gia tăng thu nhập cho người dân. (Ảnh minh họa. Nguồn: Internet)

1. Giới thiệu

Trong bối cảnh phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch nông nghiệp nổi lên như một hướng đi tiềm năng nhằm vừa nâng cao giá trị gia tăng của nông nghiệp, vừa mở rộng sinh kế cho cộng đồng nông thôn. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 đều khẳng định vai trò của việc thu hút nguồn lực xã hội vào đầu tư phát triển du lịch, trong đó có mô hình du lịch nông nghiệp. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, việc huy động nguồn lực đầu tư còn gặp nhiều rào cản cả về chính sách, hạ tầng, năng lực của chủ thể và mức độ tham gia của cộng đồng.

Đối với vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, một trong những khu vực giàu tiềm năng nhưng cũng đối diện nhiều thách thức, phát triển du lịch nông nghiệp vừa là cơ hội vừa là yêu cầu tất yếu trong chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trong khi đó, phần lớn các nghiên cứu hiện nay mới chỉ tập trung vào khía cạnh tài nguyên hoặc hoạt động du lịch cộng đồng, chưa có công trình nào xây dựng và kiểm định mô hình định lượng toàn diện về các nhân tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực đầu tư cho du lịch nông nghiệp tại khu vực này.

Từ khoảng trống nghiên cứu đó, bài viết hướng tới ba mục tiêu: (i) Xây dựng cơ sở lý thuyết và mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp; (ii) Kiểm định mô hình bằng phương pháp nghiên cứu định lượng; và (iii) Đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao khả năng huy động nguồn lực đầu tư du lịch nông nghiệp trong thực tiễn.

2. Phương pháp nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý luận về huy động nguồn lực phát triển mô hình du lịch nông nghiệp

Du lịch nông nghiệp hiện nay được triển khai dưới nhiều hình thức như farmstay, du lịch trải nghiệm vườn - đồng ruộng, du lịch gắn với nông sản địa phương hay du lịch giáo dục. Đây là loại hình có tiềm năng huy động nguồn lực đa chiều, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số nông nghiệp và xu hướng du lịch xanh, trải nghiệm. Theo Porter (1985), việc huy động nguồn lực hiệu quả cần dựa trên chuỗi giá trị gắn kết các yếu tố đầu vào - hoạt động - đầu ra - marketing - hỗ trợ. Đối với du lịch nông nghiệp, sự thành công của mô hình phụ thuộc vào hệ thống chính sách, đầu tư hạ tầng, năng lực chủ thể và mức độ tham gia của cộng đồng.

Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy nhiều mô hình du lịch nông nghiệp thành công đã góp phần nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp, tạo việc làm và gia tăng thu nhập cho người dân. Các điển hình như Đồng Tháp Farmstay với sản phẩm OCOP, làng rau Trà Quế (Quảng Nam) gắn với bảo tồn làng nghề, Detrang Farm (Hà Nội) kết hợp du lịch - giáo dục, mô hình sinh thái Cù Lao Mây (Vĩnh Long) theo hướng hợp tác xã, hay các mô hình công nghệ cao ở Đà Lạt (Lâm Đồng) đã chứng minh vai trò quan trọng của liên kết công - tư, đổi mới sản phẩm và sự hỗ trợ chính sách trong phát triển du lịch nông nghiệp. Điểm chung của các mô hình này là khai thác hiệu quả tài nguyên bản địa, kết hợp hài hòa giữa nông nghiệp - du lịch - văn hóa cộng đồng.

Từ các trường hợp thành công, có thể thấy rằng phát triển du lịch nông nghiệp không chỉ dựa vào điều kiện tự nhiên mà còn phụ thuộc vào yếu tố con người, cơ chế chính sách và sự phối hợp đa bên. Đây là những điều kiện cần thiết để huy động nguồn lực đầu tư cho du lịch nông nghiệp, đặc biệt tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ - nơi có lợi thế về tài nguyên nông nghiệp đặc trưng (nho Ninh Thuận; hành, tỏi Lý Sơn; tôm hùm Phú Yên; dừa Bình Định…), cộng đồng giàu bản sắc và tiềm năng phát triển du lịch mạnh mẽ. Tuy nhiên, du lịch nông nghiệp tại khu vực này vẫn còn phân tán, thiếu liên kết và đầu tư chưa đồng bộ.

Do đó, việc kế thừa kinh nghiệm từ các mô hình trong và ngoài nước, đồng thời nhận diện các nhân tố then chốt tác động đến huy động nguồn lực, là cơ sở quan trọng để đề xuất giải pháp phát triển du lịch nông nghiệp bền vững và mang bản sắc riêng cho vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.

2.2. Mô hình nghiên cứu

Từ các lập luận, nghiên cứu thực nghiệm và giả thuyết trên, mô hình nghiên cứu được đề xuất bao gồm 6 nhân tố: Chính sách và pháp luật, Hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ, Sự tham gia của cộng đồng, Tiềm năng tài nguyên du lịch, Thị trường và nhu cầu khách du lịch, Năng lực của chủ thể tham gia làm du lịch nông nghiệp (Hình 1).

Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Nguồn: Minh họa của nhóm tác giả
Nguồn: Minh họa của nhóm tác giả

(i) Chính sách và pháp luật

Chính sách và pháp luật được coi là yếu tố nền tảng, có vai trò định hình môi trường đầu tư và tạo động lực cho sự phát triển du lịch nông nghiệp. Hall và Mitchell (2005) cho rằng sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua cơ chế, quy hoạch và ưu đãi đầu tư có ý nghĩa quyết định đối với việc hình thành mô hình du lịch nông nghiệp bền vững. Ở Việt Nam, các nghiên cứu của Lê Quang Đăng (2023), Ngô Thị Phương Lan và Nguyễn Thị Vân Hạnh (2021) đều nhấn mạnh vai trò của chính sách ưu đãi, cơ chế liên ngành và sự phối hợp chính quyền địa phương trong thu hút nguồn lực xã hội hóa cho du lịch nông nghiệp. Do đó, giả thuyết nghiên cứu được đặt ra:

H1: Chính sách và pháp luật có ảnh hưởng tích cực đến khả năng huy động nguồn lực phát triển du lịch nông nghiệp tại các tỉnh, thành vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.

(ii) Hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ

Trong lý thuyết phát triển điểm đến du lịch, hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ được coi là điều kiện tiên quyết để gia tăng khả năng tiếp cận, cải thiện trải nghiệm du khách và thu hút đầu tư (Lane, 1994; UNWTO, 2019). Thực tiễn ở nhiều địa phương Việt Nam như Quảng Nam, Cần Thơ cho thấy việc thiếu hụt hạ tầng và dịch vụ làm giảm sức hấp dẫn đầu tư vào du lịch nông nghiệp (Nguyễn Thị Lệ Trinh và Trần Quốc Hùng, 2024; Trương Trí Thông và Nguyễn Trọng Nhân, 2024). Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H2: Hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ có ảnh hưởng tích cực đến khả năng huy động nguồn lực phát triển du lịch nông nghiệp tại các tỉnh, thành vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.

(iii) Sự tham gia của cộng đồng

Theo lý thuyết sinh kế bền vững (DFID, 1999) và phát triển du lịch cộng đồng (Murphy, 1985), cộng đồng địa phương giữ vai trò trung tâm trong hình thành mô hình du lịch nông nghiệp bền vững. Scoones (1998) và Tosun (2006) khẳng định sự tham gia thực chất của cộng đồng quyết định tính đồng thuận và khả năng duy trì lâu dài của sản phẩm du lịch. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Huỳnh Phượng và cộng sự (2024) tại Lâm Đồng cho thấy, cộng đồng tham gia mạnh mẽ giúp gia tăng cả nguồn lực nội sinh lẫn khả năng thu hút nguồn lực bên ngoài. Do đó, giả thuyết nghiên cứu như sau:

H3: Sự tham gia của cộng đồng có ảnh hưởng tích cực đến khả năng huy động nguồn lực phát triển du lịch nông nghiệp tại các tỉnh, thành vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.

(iv) Tiềm năng tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch được coi là nền tảng quan trọng, quyết định sự hình thành và phát triển du lịch nông nghiệp (Gunn, 1994; Hall, 2005). Các nghiên cứu của Sznajder và cộng sự 2009 cho rằng du lịch nông nghiệp chỉ phát triển bền vững nếu gắn chặt với tài nguyên nông nghiệp đặc hữu và bản sắc địa phương. Ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, sự đa dạng sinh thái (biển, núi, đồng bằng) và văn hóa bản địa chính là lợi thế đặc thù để phát triển du lịch nông nghiệp. Do vậy, giả thuyết nghiên cứu được xác lập:

H4: Tiềm năng tài nguyên du lịch có ảnh hưởng tích cực đến khả năng huy động nguồn lực phát triển du lịch nông nghiệp tại các tỉnh, thành vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.

(v) Thị trường và nhu cầu khách du lịch

Theo Kotler và cộng sự (2010), phát triển sản phẩm du lịch bền vững phụ thuộc vào khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường và hành vi du khách. Middleton và Clarke (2001) nhấn mạnh rằng, không có sản phẩm du lịch nào tồn tại nếu không dựa trên nhu cầu thị trường. Trong bối cảnh hậu Covid-19, nhu cầu du lịch nông nghiệp gia tăng mạnh (UNWTO, 2022; ITDR, 2022, 2023). Thực tiễn khảo sát tại Việt Nam (Nguyễn Quốc Cường và Trần Cẩm Bình, 2022) cũng khẳng định, du lịch nông nghiệp sẽ thu hút đầu tư nếu gắn với trải nghiệm thực tế, nghỉ dưỡng farmstay, chăm sóc sức khỏe. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H5: Thị trường và nhu cầu khách du lịch có ảnh hưởng tích cực đến khả năng huy động nguồn lực phát triển du lịch nông nghiệp tại các tỉnh, thành vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.

(vi) Năng lực của chủ thể tham gia làm du lịch nông nghiệp

Theo lý thuyết dựa trên tài nguyên (RBV) của Barney (1991), lợi thế cạnh tranh bền vững đến từ năng lực nội tại của tổ chức/cá nhân. Trong du lịch nông nghiệp, chủ thể tham gia (doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ nông dân) cần có kỹ năng quản lý, sáng tạo sản phẩm, kết nối thị trường, chuyển đổi số… (OECD, 2020). Thực tiễn tại Việt Nam (Lê Văn Hà, 2024) cũng chứng minh rằng, năng lực quản trị và khả năng hợp tác với doanh nghiệp lữ hành, ngân hàng… giúp gia tăng khả năng huy động nguồn lực cho du lịch nông nghiệp. Vì vậy, nghiên cứu đưa ra giả thuyết:

H6: Năng lực của chủ thể tham gia có ảnh hưởng tích cực đến khả năng huy động nguồn lực phát triển du lịch nông nghiệp tại các tỉnh, thành vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.

Bảng 1.1; Bảng 1.2; Bảng 1.3 và Bảng 1.4 mô tả thang đo các biến quan sát đo lường các nhân tố trong mô hình.

Bảng 1.1: Tổng hợp thang đo biến quan sát đo lường các nhân tố trong mô hình nghiên cứu

Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả
Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả

Bảng 1.2: Tổng hợp thang đo biến quan sát đo lường các nhân tố trong mô hình nghiên cứu

Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả
Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả

Bảng 1.3: Tổng hợp thang đo biến quan sát đo lường các nhân tố trong mô hình nghiên cứu

Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả
Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả

Bảng 1.4: Tổng hợp thang đo biến quan sát đo lường các nhân tố trong mô hình nghiên cứu

Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả
Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả

3. Phương pháp nghiên cứu

3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

Nghiên cứu sử dụng bảng hỏi cấu trúc để thu thập dữ liệu sơ cấp theo thang đo Likert 5 mức độ (1 - Hoàn toàn không đồng ý, 2 - Không đồng ý, 3 - Trung lập, 4 - Đồng ý, 5 - Hoàn toàn đồng ý). Bảng hỏi được xây dựng dựa trên 31 biến quan sát thuộc 6 nhóm nhân tố độc lập và 1 biến phụ thuộc, có tham khảo các nghiên cứu trước và điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh du lịch nông nghiệp tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. Đối tượng khảo sát bao gồm các nhóm: nông hộ, doanh nghiệp, cán bộ quản lý, chuyên gia và nhà nghiên cứu. Tổng cộng 375 phiếu được phát ra, thu về 352 phiếu hợp lệ được đưa vào phân tích định lượng. Thống kê mô tả các biến được thể hiện trong Bảng 2.

Bảng 2. Thống kê mô tả đối tượng khảo sát

Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả
Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả

3.2. Phương pháp phân tích

Dữ liệu khảo sát được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 với các bước phân tích định lượng như sau:

(i) Đánh giá độ tin cậy thang đo: Sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha để kiểm định mức độ chặt chẽ của các biến quan sát trong cùng một thang đo. Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), hệ số Cronbach’s Alpha có giá trị ≥ 0,6 được xem là đạt yêu cầu. Các biến có hệ số tương quan biến tổng (Corrected Item - Total Correlation) < 0,3 sẽ bị loại bỏ khỏi thang đo (Nunnally và Burnstein, 1994).

(ii) Phân tích EFA: Được tiến hành nhằm rút gọn tập hợp biến quan sát thành các nhân tố có ý nghĩa. Điều kiện chấp nhận: Hệ số KMO từ 0,5 - 1, kiểm định Bartlett’s Test có ý nghĩa thống kê (Sig. < 0,05). Các nhân tố được trích theo phương pháp Principal Component Analysis với phép xoay Varimax, đảm bảo tổng phương sai trích ≥ 50% và chỉ giữ lại các nhân tố có Eigenvalue > 1 (Hair và cộng sự, 1998).

(iii) Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến: Được sử dụng để xác định mức độ tác động của các nhân tố độc lập đến biến phụ thuộc. Mô hình hồi quy có dạng:

Yi = β0 + β1X1i + β2X2i + ... + βpXpi + ei

Trong đó, Xpi là các biến độc lập, βp là hệ số hồi quy riêng phần, ei là sai số ngẫu nhiên.

Độ phù hợp của mô hình được đánh giá thông qua:

- Hệ số xác định R² hiệu chỉnh (Adjusted R²) cho biết tỉ lệ biến thiên của biến phụ thuộc được giải thích bởi các biến độc lập, càng gần 1 mô hình càng phù hợp.

- Kiểm định F (ANOVA) được sử dụng để đánh giá mức độ phù hợp tổng thể của mô hình; nếu Sig. < 0,05 thì mô hình được chấp nhận.

- Kiểm định ý nghĩa hệ số hồi quy (t-test) được sử dụng để kiểm định giả thuyết về ảnh hưởng riêng lẻ của từng biến độc lập đến biến phụ thuộc.

- Hệ số phóng đại phương sai (VIF) được sử dụng để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến; mô hình chấp nhận khi VIF < 10.

- Kiểm định Durbin-Watson dùng để phát hiện hiện tượng tự tương quan trong mô hình; giá trị d nằm trong khoảng 1,5 - 2,5 cho thấy mô hình không vi phạm giả định tự tương quan.

- Giả định phương sai đồng nhất (Homoscedasticity) được kiểm tra bằng phân tích phần dư; nếu phần dư có phân phối chuẩn, trung bình bằng 0 và phương sai không đổi thì mô hình được coi là phù hợp.

4. Kết quả và thảo luận

4.1. Đánh giá độ tin cậy của thang đo

Trong nghiên cứu này, độ tin cậy của hệ thống thang đo được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s Alpha nhằm đảm bảo tính nhất quán nội tại giữa các biến quan sát. Kết quả cho thấy, tất cả các thang đo đều có hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,3 và hệ số Cronbach’s Alpha vượt ngưỡng 0,6 (đa số đạt trên 0,9), phản ánh mức độ tin cậy rất cao.

Cụ thể, thành phần Chính sách và pháp luật (CS) gồm 5 biến quan sát có Cronbach’s Alpha = 0,916; Hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ (HT) gồm 4 biến quan sát với Cronbach’s Alpha = 0,899; Sự tham gia của cộng đồng (CD) gồm 4 biến quan sát với Cronbach’s Alpha = 0,906; Tiềm năng tài nguyên du lịch (TN) gồm 5 biến quan sát với Cronbach’s Alpha = 0,926; Thị trường và nhu cầu khách du lịch (TT) gồm 5 biến quan sát với Cronbach’s Alpha = 0,922; Năng lực của chủ thể tham gia làm du lịch nông nghiệp (NL) gồm 4 biến quan sát với Cronbach’s Alpha = 0,908. Đối với biến phụ thuộc Khả năng huy động nguồn lực (HD), hệ số Cronbach’s Alpha đạt mức 0,941 - cao nhất trong các thang đo.

Như vậy, toàn bộ 6 nhóm nhân tố độc lập và biến phụ thuộc đều đạt yêu cầu thống kê về độ tin cậy và được đưa vào các bước phân tích nhân tố và mô hình hồi quy tiếp theo.

Bảng 3. Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo

Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả
Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả

4.2. Phân tích EFA

Để kiểm định mức độ phù hợp của thang đo, nghiên cứu sử dụng phân tích nhân tố EFA với 31 biến quan sát sau khi đã được kiểm định bằng Cronbach’s Alpha. Kết quả cho thấy hệ số KMO = 0,858 (> 0,5) và kiểm định Bartlett’s Test có giá trị Sig. = 0,000 (< 0,05), chứng tỏ dữ liệu đủ điều kiện để tiến hành phân tích nhân tố.

Phương sai trích đạt 77,143% (> 50%) cho thấy 6 nhân tố được rút trích đã giải thích phần lớn biến thiên của dữ liệu, phản ánh tính khái quát cao của mô hình. Giá trị Eigenvalue = 2,706 (> 1) tiếp tục khẳng định tính hợp lệ trong việc giữ lại các nhân tố.

Khi phân tích ma trận xoay, toàn bộ 27 biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố > 0,5, đáp ứng yêu cầu về giá trị hội tụ, đồng thời không xuất hiện hiện tượng tải chéo lớn (cross-loading), nên các biến đều được giữ lại. Sáu nhân tố rút trích tương ứng với các nhóm: Chính sách và pháp luật (CS), Hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ (HT), Sự tham gia của cộng đồng (CD), Tiềm năng tài nguyên du lịch (TN), Thị trường và nhu cầu khách du lịch (TT), và Năng lực nội tại của chủ thể đầu tư (NL).

Như vậy, kết quả EFA khẳng định thang đo các nhân tố độc lập trong nghiên cứu đạt độ tin cậy và giá trị, đảm bảo sử dụng cho các bước phân tích tương quan và mô hình hồi quy tiếp theo.

Bảng 4. Ma trận xoay các nhân tố

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả xử lý dữ liệu SPSS của nhóm tác giả
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả xử lý dữ liệu SPSS của nhóm tác giả

4.3. Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính bội

Để xác định mức độ tác động của các nhân tố đến khả năng huy động nguồn lực đầu tư phát triển du lịch nông nghiệp tại địa phương, nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính bội. Kết quả kiểm định cho thấy hệ số xác định R² hiệu chỉnh = 0,617, tức là 61,7% sự biến thiên của khả năng huy động nguồn lực (HD) được giải thích bởi 6 nhân tố trong mô hình. Giá trị Durbin - Watson = 1,994 (nằm trong khoảng chấp nhận), chứng tỏ mô hình không vi phạm giả định tự tương quan. Các hệ số VIF đều nhỏ hơn 2, cho thấy không có hiện tượng đa cộng tuyến. Đồng thời, kiểm định F cho kết quả có ý nghĩa thống kê, khẳng định mô hình hồi quy phù hợp để phân tích. Bảng 5 cũng cho thấy các hệ số đều có Sig. < 0,05 → các giả thuyết H1 - H6 đều được chấp nhận.

Bảng 5. Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính bội

Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả
Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả

Phương trình hồi quy tuyến tính bội có dạng:

HD = -1,854 + 0,447CS + 0,250HT + 0,242CD + 0,278TN + 0,259TT + 0,306NL

Kết quả cho thấy các hệ số hồi quy chuẩn hóa đều mang dấu dương, phản ánh tác động thuận chiều của các nhân tố đến khả năng huy động nguồn lực đầu tư phát triển du lịch nông nghiệp. Cụ thể:

(1) Chính sách và pháp luật (CS) có hệ số β = 0,447, là nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất. Điều này cho thấy hệ thống chính sách khuyến khích đầu tư (CS1), quy định rõ ràng về sử dụng đất (CS2), cơ chế ưu đãi thuế (CS3), phân cấp rõ ràng giữa trung ương và địa phương (CS4), cũng như sự ổn định và minh bạch của chính sách hỗ trợ (CS5) đóng vai trò nền tảng, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các nhà đầu tư vào du lịch nông nghiệp. Kết quả này phù hợp với quan điểm của Hall và Mitchell (2005), Inskeep (1991), Ngô Thị Phương Lan và Nguyễn Thị Vân Hạnh (2021a), Lê Quang Đăng và cộng sự (2023).

(2) Năng lực của chủ thể tham gia làm du lịch nông nghiệp (NL) có hệ số β = 0,306, đứng thứ hai về mức độ ảnh hưởng. Các biến quan sát như khả năng về vốn (NL1, NL4), kiến thức và kinh nghiệm (NL2), cũng như năng lực kết nối với các bên liên quan (NL3) cho thấy năng lực nội tại của chủ thể đầu tư giữ vai trò then chốt trong việc triển khai và mở rộng mô hình du lịch nông nghiệp. Nhân tố này đồng thời khẳng định tầm quan trọng của nguồn lực doanh nghiệp và hộ nông dân trong thực hiện hoạt động du lịch nông nghiệp, phù hợp với nghiên cứu của Barney (1991), OECD (2020), Lê Văn Hà (2024).

(3) Tiềm năng tài nguyên du lịch (TN) có hệ số β = 0,278, phản ánh tác động lớn thứ ba. Những yếu tố như cảnh quan thiên nhiên (TN1), giá trị văn hóa - lễ hội (TN2), sản phẩm nông nghiệp truyền thống (TN3), hệ sinh thái nông nghiệp đa dạng (TN4) và sự nguyên sơ của tài nguyên (TN5) chính là nền tảng hấp dẫn du khách và tạo động lực để huy động nguồn lực. Điều này phù hợp với các nghiên cứu của Gunn (1994), Hall (2005), Sznajder và cộng sự (2009), ITDR (2021, 2023).

(4) Thị trường và nhu cầu khách du lịch (TT) có hệ số β = 0,259, cho thấy nhu cầu gia tăng của khách du lịch là động lực thúc đẩy mạnh mẽ việc đầu tư vào du lịch nông nghiệp. Sự gia tăng số lượng khách (TT1), nhu cầu trải nghiệm nông nghiệp (TT2), quan tâm đến sản phẩm sạch, hữu cơ (TT3), hoạt động quảng bá, xúc tiến (TT4) và sự tham gia của khách quốc tế (TT5) là những yếu tố quan trọng để mở rộng thị trường. Kết quả này phù hợp với Kotler và cộng sự (2010), Middleton và Clarke (2001), UNWTO (2022), Dwyer và cộng sự (2009), Nguyễn Quốc Cường và Trần Cẩm Bình (2022).

(5) Hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ (HT) có hệ số β = 0,250. Hệ thống giao thông kết nối thuận tiện (HT1), dịch vụ lưu trú - ăn uống (HT2), trung tâm hướng dẫn hỗ trợ kỹ thuật (HT3), cùng hạ tầng số (HT4) đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng tiếp cận và trải nghiệm của du khách tại các điểm du lịch nông nghiệp. Kết quả này phù hợp với Lane (1994), UNWTO (2019), Nguyễn Thị Lệ Trinh và Trần Quốc Hùng (2024), Trương Trí Thông và Nguyễn Trọng Nhân (2024).

(6) Sự tham gia của cộng đồng (CD) có hệ số β = 0,242, thấp nhất trong các nhân tố nhưng vẫn có ý nghĩa thống kê. Người dân địa phương tham gia trực tiếp (CD1), vai trò quản lý (CD2), cơ chế chia sẻ lợi ích (CD3), và tham gia đóng góp ý kiến vào hoạch định chính sách (CD4) là yếu tố quan trọng để đảm bảo tính bền vững của du lịch nông nghiệp. Điều này phù hợp với quan điểm phát triển du lịch dựa vào cộng đồng của DFID (1999), Murphy (1985), Scoones (1998), Tosun (2006), Nguyễn Thị Huỳnh Phượng và cộng sự (2024).

Tổng hợp các kết quả cho thấy khả năng huy động nguồn lực đầu tư phát triển du lịch nông nghiệp tại địa phương chịu ảnh hưởng đồng thời của nhiều nhân tố, trong đó chính sách và pháp luật giữ vai trò then chốt, còn năng lực chủ thể và tiềm năng tài nguyên là những động lực quyết định cho sự phát triển lâu dài.

5. Một số khuyến nghị

5.1. Đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Tiếp tục xây dựng khung chiến lược du lịch nông nghiệp quốc gia, lồng ghép du lịch nông nghiệp như một hợp phần trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 và các quy hoạch vùng. Ngoài ra, cần xây dựng bộ chỉ tiêu cụ thể về số lượng mô hình du lịch nông nghiệp, đóng góp vào GDP và tạo việc làm nông thôn, đồng thời, ban hành bộ tiêu chuẩn quốc gia về du lịch nông nghiệp: Bao gồm tiêu chuẩn farmstay, dịch vụ trải nghiệm nông nghiệp, du lịch gắn với sản phẩm OCOP… nhằm tạo chuẩn chung cho việc cấp phép, quản lý và quảng bá. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh liên kết vùng và liên ngành như phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tài chính để xây dựng chương trình hỗ trợ đầu tư du lịch nông nghiệp, khuyến khích xã hội hóa và hình thành quỹ phát triển du lịch nông nghiệp.

5.2. Đối với Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần quy hoạch vùng sản xuất gắn với du lịch, đưa các sản phẩm đặc sản như nho Ninh Thuận; hành, tỏi Lý Sơn; tôm hùm Phú Yên… vào quy hoạch vừa là nông sản chủ lực, vừa là sản phẩm du lịch nông nghiệp. Tích hợp du lịch nông nghiệp vào Chương trình OCOP và xây dựng nông thôn mới, theo đó, mỗi địa phương chọn ít nhất 2 - 3 mô hình du lịch nông nghiệp tiêu biểu, hỗ trợ kết nối tiêu thụ và xúc tiến thương mại. Ngoài ra, cần đào tạo kỹ năng cho nông hộ và hợp tác xã để trang bị kiến thức về đón tiếp khách, an toàn vệ sinh thực phẩm, ứng dụng công nghệ số, nhằm nâng cao năng lực chủ thể tham gia.

5.3. Đối với Bộ Tài chính

Trước hết, cần thiết lập cơ chế ưu đãi đầu tư đặc thù cho du lịch nông nghiệp, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn giảm tiền thuê đất cho các dự án farmstay, trung tâm trải nghiệm nông nghiệp, khu nông nghiệp sinh thái. Bên cạnh đó, cần hình thành quỹ hỗ trợ phát triển du lịch nông nghiệp thông qua việc huy động nguồn vốn ODA, vốn tín dụng ưu đãi và các quỹ đầu tư xanh; ưu tiên cho các dự án du lịch nông nghiệp gắn với chuyển đổi số và thích ứng biến đổi khí hậu, Khuyến khích mô hình hợp tác công - tư trong du lịch nông nghiệp: Doanh nghiệp, nhà nước và cộng đồng cùng tham gia đầu tư hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển sản phẩm.

5.4. Đối với chính quyền địa phương vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

Bám sát Quy hoạch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ 2021 - 2030, tầm nhìn 2050, các chính quyền địa phương cần lồng ghép du lịch nông nghiệp trong quy hoạch vùng, xác định các “cụm du lịch nông nghiệp trọng điểm” gắn với các tuyến du lịch biển, di sản và đô thị du lịch. Ưu tiên phát triển hạ tầng hỗ trợ du lịch nông nghiệp, nâng cấp giao thông nông thôn, hệ thống cấp thoát nước, điện, Internet tại các điểm du lịch nông nghiệp, qua đó, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và hộ dân tiếp cận hạ tầng dùng chung.

Ngoài ra, chính quyền địa phương cần thúc đẩy cộng đồng tham gia xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch, hỗ trợ cộng đồng thành lập tổ hợp tác, hợp tác xã du lịch nông nghiệp, khuyến khích người dân tham gia quản lý và hưởng lợi trực tiếp, đồng thời xúc tiến quảng bá du lịch chuyên biệt cho du lịch nông nghiệp thông qua việc tổ chức các sự kiện như “Tuần lễ du lịch nông nghiệp”, hội chợ nông sản - du lịch; ứng dụng nền tảng số để kết nối khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ du lịch nông nghiệp.

5.5. Đối với các cơ quan nghiên cứu và hợp tác quốc tế

Các viện, trường đại học cần phối hợp xây dựng cơ sở dữ liệu về du lịch nông nghiệp vùng Duyên hải Nam Trung Bộ; đánh giá thường xuyên hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường. Ngoài ra, tăng cường học tập kinh nghiệm quốc tế thông qua việc thực hiện liên kết với các quốc gia có du lịch nông nghiệp phát triển (Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan) để học hỏi mô hình farmstay, sản phẩm du lịch xanh, và công nghệ quản lý thông minh. Đồng thời, tích cực xây dựng mạng lưới du lịch nông nghiệp vùng, kết nối các điểm du lịch nông nghiệp thành chuỗi sản phẩm liên tỉnh, hình thành “hành lang du lịch nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ” như một thương hiệu du lịch đặc thù.

6. Kết luận

Du lịch nông nghiệp có nhiều tác động tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương, đặc biệt là khu vực nông thôn và các tỉnh đang trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ với đặc trưng tài nguyên tự nhiên phong phú, văn hóa bản địa đặc sắc và hệ sinh thái nông nghiệp đa dạng có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch nông nghiệp bền vững. Kết quả nghiên cứu định lượng và định tính cho thấy khả năng huy động nguồn lực đầu tư phát triển mô hình du lịch nông nghiệp tại các tỉnh vùng Duyên hải Nam Trung Bộ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của sáu nhóm nhân tố chính: (1) Chính sách và pháp luật; (2) Hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ; (3) Sự tham gia của cộng đồng; (4) Tiềm năng tài nguyên du lịch; (5) Thị trường và nhu cầu khách du lịch; (6) Năng lực nội tại của chủ thể đầu tư. Đây là những yếu tố có mối quan hệ tác động qua lại, vừa hỗ trợ, vừa có thể kìm hãm lẫn nhau tùy thuộc vào cách thức tổ chức thực thi chính sách và điều kiện đặc thù của từng địa phương.

Nghiên cứu này có ý nghĩa về cả lý luận và thực tiễn. Về lý luận, kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung và hoàn thiện cơ sở khoa học về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động nguồn lực phát triển du lịch nông nghiệp trong bối cảnh mới. Về thực tiễn, nghiên cứu cung cấp những bằng chứng định lượng và định tính có giá trị tham khảo cho các địa phương trong vùng gắn với việc hoạch định chính sách, xây dựng quy hoạch, và lựa chọn giải pháp phát triển du lịch nông nghiệp phù hợp. Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế nhất định như phạm vi khảo sát chủ yếu tập trung ở một số tỉnh tiêu biểu, chưa bao quát toàn bộ vùng Duyên hải Nam Trung Bộ; đồng thời mới chỉ phân tích ở mức khái quát, chưa đi sâu vào từng loại hình sản phẩm du lịch nông nghiệp đặc thù. Do đó, các nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng phạm vi khảo sát, kết hợp phân tích so sánh giữa các địa phương và chú trọng vào việc đánh giá chi tiết hiệu quả kinh tế - xã hội của từng mô hình du lịch nông nghiệp cụ thể.

Nhìn chung, trong bối cảnh Chính phủ xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn và đang triển khai nhiều chương trình, chiến lược quan trọng (Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, Quy hoạch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050), việc nâng cao khả năng huy động nguồn lực để phát triển du lịch nông nghiệp là hết sức cần thiết. Nếu được triển khai đồng bộ và gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, du lịch nông nghiệp hoàn toàn có thể trở thành động lực phát triển kinh tế bền vững cho các tỉnh vùng Duyên hải Nam Trung Bộ trong thời gian tới.

Tài liệu tham khảo

1. Barney, J. B. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), pages 99-120.

2. Bollen, K. A. (1989). Structural equations with latent variables. New York: Wiley.

3. DFID. (1999). Sustainable Livelihoods Guidance Sheets. London: Department for International Development.

4. Dwyer, L., Edwards, D., Mistilis, N., Roman, C., & Scott, N. (2009). Destination and enterprise management for a tourism future. Tourism Management, 30(1), pages 63-74.

5. Gunn, C. A. (1994). Tourism Planning: Basics, Concepts, Cases (3rd ed.). Taylor & Francis.

6. Hall, C. M., & Mitchell, R. (2005). Rural tourism as sustainable business: Key themes and issues. In D. Hall, I. Kirkpatrick, & M. Mitchell (Eds.), Rural tourism and sustainable business (pp. 3-17). Channel View Publications.

7. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), “Phân tích dự liệu nghiên cứu với SPSS, Nhà xuất bản Hồng Đức.

8. Inskeep, E. (1991). Tourism planning: An integrated and sustainable development approach. Van Nostrand Reinhold.

9. Kotler, P., Bowen, J. T., & Makens, J. C. (2010). Marketing for Hospitality and Tourism (5th ed.). Pearson Education.

10. Lane, B. (1994). What is rural tourism? Journal of Sustainable Tourism, 2(1-2), pages 7-21.

11. Lê Quang Đăng, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (2023). Chính sách phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam. Tạp chí Du lịch Việt Nam.

12. Lê Văn Hà. (2024). Nâng cao năng lực nội tại trong phát triển du lịch nông nghiệp: Trường hợp huyện Krông Nô. Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.

13. Middleton, V. T. C., & Clarke, J. (2001). Marketing in Travel and Tourism (3rd ed.). Butterworth-Heinemann.

14. Murphy, P. E. (1985). Tourism: A Community Approach. Routledge.

15. Nguyễn Đình Thọ (2011), Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh, NXB LĐXH, Thành phố Hồ Chí Minh.

16. Nguyễn Quốc Cường và Trần Cẩm Bình (2022). Thị trường du lịch nông nghiệp vùng Đồng bằng Sông Cửu Long trong bối cảnh hậu Covid-19. Tạp chí Khoa học Xã hội.

17. Nguyễn Thị Huỳnh Phượng, Lý Mỹ Tiên và cộng sự (2024). Vai trò của cộng đồng trong phát triển du lịch nông nghiệp tại Lạc Dương. Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia về du lịch nông nghiệp.

18. Nguyễn Thị Lệ Trinh và Trần Quốc Hùng (2024). Hạ tầng du lịch và phát triển du lịch nông nghiệp tại Quảng Nam. Tạp chí Phát triển Kinh tế - Xã hội.

19. Ngô Thị Phương Lan & Nguyễn Thị Vân Hạnh (2021a). Chính sách địa phương trong phát triển du lịch nông nghiệp vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

20. OECD (2020). OECD Tourism Trends and Policies 2020. OECD Publishing.

21. Porter, M. E. (1985). Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance. Free Press.

22. Scoones, I. (1998). Sustainable Rural Livelihoods: A Framework for Analysis. IDS Working Paper No. 72.

23. Sznajder, M., Przezborska, L., & Scrimgeour, F. (2009). Agritourism. CABI Publishing.

24. Tosun, C. (2006). Expected nature of community participation in tourism development. Tourism Management, 27(3), pages 493-504.

25. Trương Trí Thông và Nguyễn Trọng Nhân (2024). Phát triển hạ tầng du lịch tại huyện Phong Điền. Tạp chí Khoa học Du lịch.

26. UNWTO. (2019). Guidelines for the Development of Tourism Infrastructure. Madrid: World Tourism Organization.

27. UNWTO. (2022). Tourism and Covid-19: Reviving Tourism through Sustainability. Madrid: World Tourism Organization.

28. Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (2021). Báo cáo thường niên về du lịch nông nghiệp Việt Nam.

29. Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (2023). Du lịch nông nghiệp: Tiềm năng và định hướng phát triển. Hà Nội: Tổng cục Du lịch.

Nguyễn Thị Thu Đông, Phạm Anh Định
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kế hoạch Đà Nẵng

Tin bài khác

Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Bài viết phân tích thực trạng, nguyên nhân và khẳng định sự cần thiết đổi mới đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo hướng áp dụng các chỉ số đo lường hiệu quả công việc (Key Performance Indicators - KPI), đồng thời đề xuất giải pháp triển khai phù hợp với khu vực công.
Huy động vốn qua thị trường tài sản cho mô hình tăng trưởng kinh tế mới tại Việt Nam

Huy động vốn qua thị trường tài sản cho mô hình tăng trưởng kinh tế mới tại Việt Nam

Để thị trường tài sản có thể đóng góp tích cực hơn cho mô hình tăng trưởng kinh tế mới, cần hình thành một hệ sinh thái chính sách đồng bộ và nhất quán, bao gồm minh bạch hóa thông tin thị trường, hoàn thiện hệ thống dữ liệu về giao dịch và giá trị tài sản, nâng cao chất lượng định giá và phát triển các công cụ tài chính trung gian...
Tích hợp chuẩn mực đạo đức trí tuệ nhân tạo vào khung đạo đức nghề nghiệp ngân hàng

Tích hợp chuẩn mực đạo đức trí tuệ nhân tạo vào khung đạo đức nghề nghiệp ngân hàng

Chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang tái định hình hoạt động của ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra nhiều thách thức đạo đức mới như thiên vị thuật toán và sự thiếu minh bạch.
Tiêu chuẩn, điều kiện và vai trò của thành viên độc lập Hội đồng quản trị tại công ty niêm yết trong bối cảnh mới

Tiêu chuẩn, điều kiện và vai trò của thành viên độc lập Hội đồng quản trị tại công ty niêm yết trong bối cảnh mới

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân nhấn mạnh: Doanh nghiệp cần chủ động, minh bạch thực hiện chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát. Thực tiễn cho thấy, mặc dù nhiều công ty niêm yết đáp ứng đúng quy định về số lượng và tiêu chuẩn của thành viên độc lập, nhưng vẫn tồn tại tình trạng bổ nhiệm hình thức, chưa phát huy hiệu quả giám sát thực chất. Do đó, việc hoàn thiện tiêu chuẩn, điều kiện và vai trò của thành viên độc lập Hội đồng quản trị là cần thiết để nâng cao chất lượng giám sát, đảm bảo tính minh bạch trong quản trị và hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững của các công ty niêm yết theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW.
Nâng cao hiệu quả quản lý phát triển xã hội bền vững theo dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Nâng cao hiệu quả quản lý phát triển xã hội bền vững theo dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Quản lý phát triển xã hội thể hiện ý chí, nguyện vọng, lợi ích của toàn thể Nhân dân, của quốc gia, dân tộc, trong đó Nhà nước là chủ thể quan trọng, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp là nòng cốt, Nhân dân là chủ thể quyết định...
Nghịch lý tài chính trong thực thi ESG tại doanh nghiệp Việt Nam: Hàm ý đối với tín dụng xanh

Nghịch lý tài chính trong thực thi ESG tại doanh nghiệp Việt Nam: Hàm ý đối với tín dụng xanh

Nghiên cứu làm rõ thực trạng triển khai ESG tại doanh nghiệp Việt Nam, cho thấy sự phân hóa mạnh giữa các tập đoàn lớn và khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), đặc biệt trong khả năng thu thập dữ liệu, quản trị phát thải và đáp ứng các tiêu chuẩn báo cáo quốc tế. Phát hiện “nghịch lý tài chính” - khi doanh nghiệp dù hạn chế nguồn lực vẫn xem ESG như một khoản đầu tư chiến lược nhằm nâng cao khả năng tiếp cận vốn - khẳng định ESG đã trở thành động lực tài chính mới chứ không chỉ là yêu cầu tuân thủ.
Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng: Bảo vệ môi trường cùng với phát triển kinh tế, xã hội là nhiệm vụ trọng tâm

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng: Bảo vệ môi trường cùng với phát triển kinh tế, xã hội là nhiệm vụ trọng tâm

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Đây là lần đầu tiên, bảo vệ môi trường được xác định là trụ cột, điều kiện, động lực của mô hình phát triển nhanh, bền vững, phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa xanh và cam kết Net Zero 2050 của Việt Nam.
Áp dụng chuẩn mực quốc tế trong xây dựng Báo cáo Phát triển bền vững tại Agribank

Áp dụng chuẩn mực quốc tế trong xây dựng Báo cáo Phát triển bền vững tại Agribank

Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn và lộ trình xây dựng Báo cáo Phát triển bền vững của Agribank theo các chuẩn mực quốc tế, qua đó làm rõ vai trò của báo cáo như một công cụ chiến lược giúp nâng cao minh bạch môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp (ESG), tăng khả năng tiếp cận vốn xanh và uy tín thương hiệu.
Xem thêm
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường

Trong bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế nhiều biến động, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã phát huy vai trò trung tâm trong điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn 2023 - 2025, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững giai đoạn 2025 - 2030.
Một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 đối với các ngân hàng tại Việt Nam

Một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 đối với các ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 (hai chuẩn mực báo cáo bền vững toàn cầu đầu tiên do Hội đồng Chuẩn mực Bền vững Quốc tế (ISSB) thuộc Tổ chức Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS Foundation) ban hành năm 2023, giúp doanh nghiệp công bố thông tin về rủi ro và cơ hội liên quan đến phát triển bền vững (S1) và khí hậu (S2) một cách nhất quán, minh bạch, hỗ trợ nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư, hướng tới một ngôn ngữ chung cho báo cáo bền vững trên toàn thế giới) đối với các ngân hàng tại Việt Nam và làm rõ vai trò của hai chuẩn mực báo cáo bền vững này như “ngôn ngữ chung” nhằm giúp hệ thống ngân hàng minh bạch hóa rủi ro cũng như cơ hội khí hậu, từng bước hội nhập sâu vào dòng chảy tài chính toàn cầu.
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Luật Thương mại điện tử năm 2025 ra đời trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ đã tạo ra những thay đổi quan trọng đối với hệ sinh thái thương mại điện tử, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm phát huy vai trò của hệ thống tài chính - ngân hàng và bảo đảm an toàn, ổn định cho nền kinh tế số Việt Nam.
Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Ngày 01/01/2026, Văn phòng Quốc hội công bố 10 sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025
Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Đối với Việt Nam, việc ban hành các văn bản pháp luật đã phần nào đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (viết tắt là cơ chế thử nghiệm), đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, để cơ chế thử nghiệm thực sự phát huy hiệu quả, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý tổng thể, thiết lập quy trình minh bạch, cơ chế giám sát rủi ro chặt chẽ và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý, đồng thời cần gắn với mục tiêu phát triển bền vững và chuyển đổi số quốc gia.
Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Kết quả khảo sát năm 2025 của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) cho thấy thị trường ngoại hối toàn cầu đã sôi động trở lại từ đầu quý II/2025, với quy mô giao dịch tăng mạnh dưới tác động của bất ổn kinh tế, biến động tỉ giá USD và những điều chỉnh chiến lược phòng hộ, đầu cơ của các chủ thể tham gia thị trường.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Quyết định vay vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài thị trường tài chính thuần túy, trong đó môi trường thông tin và thể chế ngày càng nổi lên như những biến số quan trọng. Trên cơ sở phân tích định lượng, bài viết đánh giá vai trò của tự do ngôn luận trong mối quan hệ giữa tham nhũng và sự nản lòng vay vốn ngân hàng.
Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế  và khuyến nghị đối với Việt Nam

Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa ở Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh xét theo cả quy mô giao dịch và mức độ phổ cập trong đời sống tài chính, yêu cầu hoàn thiện khung phòng, chống rửa tiền trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, bởi các chỉ dấu khách quan cho thấy Việt Nam vừa nằm trong nhóm quốc gia có giá trị giao dịch trên chuỗi rất lớn.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng