Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Chính sách
Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
aa

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số ngành Ngân hàng diễn ra ngày càng sâu rộng, việc ứng dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm đang trở thành xu hướng tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, giảm chi phí giao dịch và tăng cường kiểm soát rủi ro tín dụng. Luật Công chứng năm 2024 đã chính thức ghi nhận giá trị pháp lý của văn bản công chứng điện tử, qua đó tạo lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc số hóa quy trình tiếp nhận, quản lý và xử lý tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng (TCTD).

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy việc tiếp nhận và sử dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động ngân hàng vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc, đặc biệt liên quan đến quy trình xác minh tính xác thực, phương thức lưu trữ trong hồ sơ tín dụng và việc thừa nhận giá trị pháp lý của văn bản công chứng điện tử trong thủ tục xử lý tài sản bảo đảm khi khoản vay trở thành nợ xấu. Trên cơ sở phân tích khung pháp lý hiện hành và đánh giá thực tiễn triển khai tại các TCTD, bài viết làm rõ các bất cập và nguyên nhân, đồng thời đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp cho ngành Ngân hàng nhằm thúc đẩy ứng dụng hiệu quả công chứng điện tử, góp phần đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng.

Từ khóa: Công chứng điện tử, tài sản bảo đảm, tín dụng ngân hàng, chuyển đổi số, Luật Công chứng năm 2024.

ELECTRONIC NOTARIZED DOCUMENTS SECURED LENDING ACTIVITIES:
PRACTICES AND RECOMMENDATIONS FOR IMPROVING THE LAW

Abstract: In the context of the accelerating digital transformation of the banking sector, the application of electronic notarized documents in secured lending activities has become an inevitable trend aimed at improving operational efficiency, reducing transaction costs, and strengthening credit risk management. The Notarization Law 2024 officially recognizes the legal validity of electronic notarized documents, thereby establishing an important legal foundation for the digitization of collateral acceptance, management, and enforcement processes at credit institutions.

Nevertheless, practical implementation reveals persistent challenges, particularly regarding the verification of authenticity, the storage of electronic notarized documents in credit files, and the recognition of their legal validity in collateral enforcement procedures when loans become non-performing. By analyzing the current legal framework on electronic notarization and examining its practical application at credit institutions, this article identifies key shortcomings and underlying causes, and proposes legal recommendations and sector-specific solutions to facilitate the effective adoption of electronic notarization in banking activities, thereby contributing to digital transformation and enhancing the efficiency of credit risk management.

Keywords: Electronic notarization, collateral, bank credit, digital transformation, Notarization Law 2024.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Giới thiệu

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, nhiều hoạt động nghiệp vụ truyền thống đang từng bước được số hóa nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và giảm chi phí giao dịch. Tại Việt Nam, Quyết định số 810/QĐ-NHNN ngày 11/5/2021 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) phê duyệt Đề án chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã đặt mục tiêu mở rộng việc cung ứng và sử dụng các dịch vụ ngân hàng trên môi trường số1. Trong bối cảnh đó, việc Luật Công chứng năm 2024 chính thức ghi nhận văn bản công chứng điện tử đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho quá trình số hóa các giao dịch dân sự và thương mại, trong đó có hoạt động cấp tín dụng tại các TCTD.

Trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm, văn bản công chứng giữ vai trò quan trọng đối với việc xác lập và bảo đảm hiệu lực của giao dịch bảo đảm. Đối với các giao dịch như thế chấp quyền sử dụng đất, thế chấp nhà ở hoặc thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, pháp luật yêu cầu hợp đồng phải được công chứng để có giá trị pháp lý và làm căn cứ thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm2. Trên cơ sở đó, các TCTD có thể xác lập hiệu lực đối kháng với bên thứ ba và bảo đảm quyền ưu tiên khi xử lý tài sản trong trường hợp nghĩa vụ thanh toán không được thực hiện3.

Tuy nhiên, mặc dù công chứng điện tử đã được pháp luật ghi nhận, việc áp dụng trong thực tiễn hoạt động tín dụng vẫn còn gặp nhiều khó khăn do sự thiếu đồng bộ giữa các quy định pháp luật liên quan và hạn chế của hạ tầng kỹ thuật. Vì vậy, việc nghiên cứu khung pháp lý và đánh giá thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm là cần thiết, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng4.

2. Khung pháp lý về văn bản công chứng điện tử và hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm

2.1. Khái niệm và giá trị pháp lý của văn bản công chứng điện tử

Theo quy định của Luật Công chứng năm 2024, văn bản công chứng điện tử là văn bản công chứng được tạo lập dưới dạng dữ liệu điện tử, có chữ ký số của công chứng viên và của tổ chức hành nghề công chứng theo quy định của pháp luật5. Việc luật hóa khái niệm này đánh dấu sự thừa nhận chính thức của pháp luật đối với hình thức công chứng được thực hiện trên môi trường số, qua đó mở rộng khả năng tổ chức và vận hành hoạt động công chứng ngoài mô hình hồ sơ giấy truyền thống.

Về bản chất, văn bản công chứng điện tử không phải là bản scan hay bản sao điện tử của văn bản công chứng bằng giấy, mà là văn bản được tạo lập theo quy trình công chứng trên môi trường điện tử, gắn với cơ chế chữ ký số, xác thực dữ liệu và lưu trữ điện tử. Nhờ đó, loại văn bản này có thể bảo đảm tính xác thực, tính toàn vẹn và khả năng kiểm chứng trong suốt quá trình khai thác, sử dụng.

Về hiệu lực pháp lý, Luật Công chứng năm 2024 khẳng định văn bản công chứng điện tử có giá trị pháp lý như văn bản công chứng bằng giấy6. Quy định này phù hợp với nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa thông điệp dữ liệu và văn bản giấy trong Luật Giao dịch điện tử năm 2023, theo đó giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu không thể bị phủ nhận chỉ vì được thể hiện dưới dạng điện tử7. Đây là cơ sở để các TCTD có thể tiếp nhận văn bản công chứng điện tử trong hồ sơ tín dụng mà về nguyên tắc không cần chuyển đổi sang bản giấy.

Bên cạnh việc ghi nhận giá trị pháp lý của văn bản công chứng điện tử, Luật Công chứng năm 2024 cũng đặt nền tảng cho việc xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu công chứng trên môi trường số. Hệ thống này cho phép các chủ thể có liên quan, trong đó có TCTD, tra cứu và xác minh tính hợp lệ của văn bản công chứng điện tử một cách nhanh chóng, thay cho phương thức đối chiếu thủ công truyền thống.

2.2. Quy định pháp luật về tài sản bảo đảm trong hoạt động cấp tín dụng

Tài sản bảo đảm trong hoạt động cấp tín dụng được điều chỉnh bởi một hệ thống pháp luật có tính liên ngành và nhiều tầng nấc. Ở cấp độ nền tảng, Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận các biện pháp bảo đảm cơ bản như cầm cố, thế chấp và bảo lãnh, đồng thời quy định nguyên tắc chung về xác lập, thực hiện và xử lý biện pháp bảo đảm8. Trên cơ sở đó, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tiếp tục cụ thể hóa các điều kiện của tài sản bảo đảm, quyền và nghĩa vụ của các bên, cũng như cơ chế xác lập hiệu lực đối kháng với người thứ ba9.

Trong thực tiễn tín dụng ngân hàng, thế chấp quyền sử dụng đất, thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, thế chấp nhà ở là những hình thức bảo đảm được sử dụng phổ biến do tính ổn định và giá trị kinh tế cao của tài sản. Đối với các giao dịch này, pháp luật hiện hành đặt ra yêu cầu công chứng như một điều kiện về hình thức của hợp đồng. Cụ thể, Luật Nhà ở năm 2023 quy định hợp đồng thế chấp nhà ở phải được công chứng hoặc chứng thực, trong khi Luật Đất đai năm 2024 cũng đặt ra yêu cầu tương tự đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

Việc công chứng trong các giao dịch bảo đảm không chỉ mang ý nghĩa hình thức mà còn gắn trực tiếp với khả năng thực thi quyền của bên nhận bảo đảm. Văn bản công chứng là cơ sở để thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm, qua đó xác lập hiệu lực đối kháng với bên thứ ba theo quy định tại Nghị định số 21/2021/NĐ-CP. Trên nền tảng đó, TCTD có thể bảo đảm vị trí ưu tiên khi xử lý tài sản trong trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm không được thực hiện.

Ở góc độ pháp luật chuyên ngành Ngân hàng, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động cho vay của TCTD chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 06/2023/TT-NHNN ngày 28/6/2023 của NHNN) quy định hồ sơ vay vốn phải bao gồm các tài liệu liên quan đến tài sản bảo đảm và văn bản công chứng hoặc chứng thực trong trường hợp pháp luật có yêu cầu10. Tuy nhiên, do được ban hành trong bối cảnh pháp luật công chứng chưa ghi nhận công chứng điện tử, các quy định này hiện chưa thiết kế cơ chế riêng cho việc tiếp nhận và sử dụng văn bản công chứng điện tử trong quy trình tín dụng. Đây là một trong những khoảng trống pháp lý quan trọng trong giai đoạn chuyển đổi sang môi trường giao dịch số.

2.3. Mối quan hệ pháp lý giữa công chứng điện tử và giao dịch bảo đảm

Về nguyên tắc, khi pháp luật đã thừa nhận văn bản công chứng điện tử có giá trị pháp lý tương đương văn bản công chứng bằng giấy, thì các hợp đồng bảo đảm được công chứng dưới hình thức điện tử cũng được coi là đáp ứng yêu cầu về hình thức trong những trường hợp pháp luật bắt buộc công chứng. Do đó, các giao dịch này có thể được sử dụng làm căn cứ để đăng ký giao dịch bảo đảm, xác lập hiệu lực đối kháng với bên thứ ba và làm cơ sở để TCTD thực hiện quyền xử lý tài sản bảo đảm khi nghĩa vụ được bảo đảm bị vi phạm.

Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc tương đương pháp lý này trong thực tiễn lại phụ thuộc nhiều vào mức độ đồng bộ của hệ thống pháp luật và hạ tầng dữ liệu liên quan. Công chứng điện tử chỉ thực sự phát huy giá trị khi được tiếp nhận liên tục trong các khâu tiếp theo của quy trình tín dụng, từ đăng ký giao dịch bảo đảm đến lưu trữ hồ sơ và cung cấp chứng cứ khi phát sinh tranh chấp.

Trong khi đó, pháp luật hiện hành mới chủ yếu dừng lại ở việc thiết lập nguyên tắc và khung pháp lý chung cho công chứng điện tử và cơ sở dữ liệu công chứng. Cơ chế kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa hệ thống công chứng điện tử với các hệ thống pháp lý khác, đặc biệt là cơ sở dữ liệu đất đai và hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm vẫn chưa được hoàn thiện đầy đủ. Điều này khiến mối quan hệ giữa công chứng điện tử và giao dịch bảo đảm tuy đã được thừa nhận trên phương diện pháp lý nhưng vẫn chưa được vận hành thông suốt trong thực tiễn.

3. Thực tiễn tiếp nhận và sử dụng văn bản công chứng điện tử tại các TCTD

3.1. Quy trình tiếp nhận hồ sơ tín dụng có văn bản công chứng điện tử

Trong mô hình tín dụng truyền thống, việc tiếp nhận hồ sơ có tài sản bảo đảm gắn chặt với kiểm tra hồ sơ giấy. Cán bộ tín dụng thường đối chiếu trực tiếp bản gốc văn bản công chứng, kiểm tra chữ ký của công chứng viên, con dấu của tổ chức hành nghề công chứng, số công chứng và các thông tin nhận diện khác, sau đó lưu bản sao hoặc bản sao chứng thực trong hồ sơ tín dụng11. Phương thức này quen thuộc và dễ kiểm soát theo thói quen nghiệp vụ lâu năm, nhưng đồng thời kéo dài thời gian xử lý và làm gia tăng chi phí hành chính cũng như chi phí lưu trữ vật lý.

Khi văn bản công chứng điện tử được đưa vào quy trình tín dụng, cách thức tiếp nhận hồ sơ buộc phải thay đổi theo hướng dựa nhiều hơn vào xác minh điện tử. Thay vì quan sát trực tiếp dấu và chữ ký trên văn bản giấy, cán bộ tín dụng phải kiểm tra chữ ký số, tính toàn vẹn của tệp dữ liệu và khả năng truy xuất nguồn gốc của văn bản thông qua hệ thống dữ liệu công chứng hoặc các công cụ kiểm tra chữ ký số phù hợp. Điều này đòi hỏi TCTD không chỉ có hạ tầng công nghệ tương thích mà còn phải xây dựng quy trình nội bộ và kỹ năng nghiệp vụ số cho cán bộ xử lý hồ sơ.

Theo khảo sát của nhóm tác giả, một số TCTD lớn đã bắt đầu triển khai thí điểm việc tích hợp quy trình nội bộ với nền tảng hoặc cổng tra cứu công chứng điện tử12. Tuy nhiên, mức độ triển khai hiện vẫn còn phân hóa đáng kể giữa các tổ chức. Trong nhiều trường hợp, văn bản công chứng điện tử vẫn bị “quy đổi” thành hồ sơ giấy thông qua việc yêu cầu khách hàng in ra và nộp kèm xác nhận bổ sung13. Cách làm này làm giảm đáng kể lợi ích của công chứng điện tử, bởi quy trình xử lý vẫn phải duy trì song song giữa dữ liệu điện tử và hồ sơ vật lý, khiến chi phí xử lý hồ sơ tiếp tục ở mức cao14.

3.2. Lưu trữ văn bản công chứng điện tử trong hồ sơ tín dụng

Lưu trữ hồ sơ tín dụng là một nghĩa vụ pháp lý cơ bản của các TCTD. Tuy nhiên, khung quy định hiện hành về lưu trữ hồ sơ phần lớn được xây dựng trên giả định truyền thống rằng hồ sơ tín dụng chủ yếu được hình thành từ tài liệu giấy. Khi văn bản công chứng điện tử xuất hiện như một loại chứng từ có giá trị pháp lý độc lập, nhiều TCTD gặp lúng túng trong việc xác định phương thức lưu trữ phù hợp, vừa bảo đảm tuân thủ pháp luật vừa đáp ứng yêu cầu an toàn dữ liệu.

Thực tiễn hiện nay cho thấy ba cách tiếp cận phổ biến. Một số TCTD lưu trữ trực tiếp tệp dữ liệu gốc có chữ ký số trong hệ thống quản lý tài liệu điện tử; một số đơn vị lại in văn bản ra giấy để lưu vào hồ sơ vật lý và cũng có trường hợp lưu trữ song song cả hai hình thức nhằm giảm thiểu rủi ro. Tuy nhiên, sự đa dạng này phản ánh tình trạng thiếu thống nhất về tiêu chuẩn pháp lý và kỹ thuật trong việc lưu trữ chứng từ điện tử trong hoạt động tín dụng.

Đáng chú ý, việc in văn bản công chứng điện tử ra giấy rồi coi đó là tài liệu lưu trữ chính tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý. Theo Luật Giao dịch điện tử năm 2023, bản in từ thông điệp dữ liệu không đương nhiên được coi là bản gốc, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Vì vậy, nếu TCTD chỉ lưu bản in mà không bảo toàn được tệp dữ liệu gốc cùng các thông tin liên quan đến chữ ký số và dấu thời gian, khả năng chứng minh giá trị pháp lý của chứng từ có thể bị suy giảm đáng kể khi phát sinh tranh chấp. Từ góc độ quản trị rủi ro tín dụng, vấn đề lưu trữ văn bản công chứng điện tử vì vậy không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà còn gắn trực tiếp với khả năng thực thi quyền dân sự và tố tụng của TCTD trong suốt vòng đời của khoản vay.

3.3. Sử dụng văn bản công chứng điện tử trong xử lý tài sản bảo đảm

Giai đoạn xử lý tài sản bảo đảm là thời điểm mà giá trị pháp lý của văn bản công chứng được kiểm nghiệm rõ nhất. Khi khoản vay chuyển thành nợ xấu, TCTD cần sử dụng hợp đồng bảo đảm và các tài liệu liên quan làm căn cứ để thương lượng với bên vay, thực hiện xử lý tài sản hoặc khởi kiện tại Tòa án15. Trong toàn bộ quá trình này, văn bản công chứng của giao dịch bảo đảm là một trong những tài liệu pháp lý có tính quyết định.

Mặc dù pháp luật đã ghi nhận dữ liệu điện tử như một nguồn chứng cứ, thực tiễn xét xử và thực thi vẫn chưa thật sự thống nhất trong việc tiếp nhận và đánh giá loại tài liệu này. Một số vụ tranh chấp tín dụng cho thấy hình thức của chứng từ bảo đảm vẫn có thể trở thành điểm tranh luận, đặc biệt khi hồ sơ được lập dưới dạng điện tử và cơ chế giao nộp, kiểm tra chứng cứ điện tử chưa được hướng dẫn đầy đủ16.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã ghi nhận dữ liệu điện tử là một nguồn chứng cứ và quy định thủ tục giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Tuy nhiên, do chưa có hướng dẫn cụ thể về cách đánh giá giá trị chứng minh của văn bản công chứng điện tử trong các tranh chấp tín dụng, nhiều TCTD vẫn có tâm lý dè dặt khi sử dụng loại chứng từ này trong giai đoạn xử lý tài sản bảo đảm. Điều này tạo ra một nghịch lý trong thực tiễn: Văn bản công chứng điện tử có thể đã hợp lệ về mặt công chứng và được tiếp nhận trong hồ sơ tín dụng, nhưng khi bước sang giai đoạn giải quyết tranh chấp, hiệu quả sử dụng thực tế của nó lại chưa hoàn toàn được bảo đảm.

4. Những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng và nguyên nhân

4.1. Khoảng trống pháp lý trong quy định chuyên ngành ngân hàng

Một trong những vướng mắc nổi bật hiện nay là sự thiếu vắng các quy định chuyên ngành Ngân hàng điều chỉnh trực tiếp việc tiếp nhận, xác minh, lưu trữ và sử dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm. Mặc dù Luật Công chứng năm 2024 và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã tạo lập nền tảng pháp lý chung cho công chứng điện tử, song các đạo luật này chủ yếu dừng lại ở việc ghi nhận nguyên tắc và giá trị pháp lý của văn bản điện tử, mà chưa thiết lập cơ chế vận hành cụ thể trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng. Trong khi đó, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN được xây dựng trên nền tảng hồ sơ truyền thống và chưa có quy định riêng về văn bản công chứng điện tử. Hệ quả là các TCTD phải tự thiết kế quy trình nội bộ theo cách hiểu riêng, dẫn đến tình trạng áp dụng thiếu thống nhất, có thể làm gia tăng chi phí tuân thủ và giảm tính dự đoán của môi trường tín dụng số.

4.2. Bất cập trong quy trình xác minh tính xác thực

Về nguyên tắc, văn bản công chứng điện tử có thể được xác minh thông qua chữ ký số, dữ liệu gốc, mã tra cứu và cơ sở dữ liệu công chứng. Tuy nhiên, hiệu quả của cơ chế này trên thực tế lại phụ thuộc rất lớn vào mức độ hoàn thiện của hạ tầng kỹ thuật và năng lực sử dụng công nghệ của các chủ thể tiếp nhận, đặc biệt là các TCTD. Trong bối cảnh hệ thống dữ liệu công chứng và công cụ kiểm tra chữ ký số chưa được triển khai đồng bộ, việc tra cứu hoặc đối chiếu thông tin nhiều khi vẫn gặp khó khăn, khiến TCTD có xu hướng yêu cầu nộp thêm bản giấy để giảm rủi ro. Bên cạnh đó, do đội ngũ cán bộ tín dụng trong thời gian dài quen với hồ sơ giấy, nhiều trường hợp chưa được trang bị đầy đủ kỹ năng xác minh chứng từ điện tử, nên thường lựa chọn phương án “an toàn” là quay trở lại với tài liệu vật lý17. Vì vậy, bất cập trong khâu xác minh hiện nay không chỉ là vấn đề công nghệ, mà còn là vấn đề về năng lực vận hành và mức độ sẵn sàng của chủ thể áp dụng.

4.3. Rào cản trong đăng ký giao dịch bảo đảm

Một trở ngại đáng kể khác nằm ở khâu đăng ký giao dịch bảo đảm. Mặc dù công chứng điện tử được định hướng như một mắt xích của quy trình số hóa, nhưng thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm hiện nay vẫn chưa tương thích đầy đủ với kết quả của công chứng điện tử. Vì vậy, trên thực tế vẫn tồn tại tình trạng giao dịch đã được xác lập và công chứng trên môi trường số nhưng khi chuyển sang bước đăng ký lại phải bổ sung hồ sơ giấy hoặc tài liệu ở dạng chuyển đổi. Điều này cho thấy quy trình số chưa được thiết kế theo hướng liên thông, khiến dữ liệu không thể chuyển tiếp liền mạch giữa tổ chức hành nghề công chứng, cơ quan đăng ký và TCTD. Căn nguyên sâu xa của tình trạng này nằm ở sự chậm trễ trong việc hoàn thiện cơ chế kết nối dữ liệu giữa Hệ thống thông tin công chứng quốc gia với cơ sở dữ liệu đất đai và hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm.

4.4. Thiếu thống nhất trong thừa nhận chứng cứ điện tử tại cơ quan tư pháp

Một vướng mắc có tính chất quyết định đối với tâm lý tiếp nhận công chứng điện tử của các TCTD là sự thiếu chắc chắn trong việc cơ quan tư pháp đánh giá văn bản công chứng điện tử khi phát sinh tranh chấp. Mặc dù pháp luật tố tụng dân sự đã ghi nhận dữ liệu điện tử là một nguồn chứng cứ, song đến nay vẫn chưa có hướng dẫn đầy đủ và thống nhất về tiêu chí đánh giá giá trị chứng minh của văn bản công chứng điện tử trong các tranh chấp tín dụng có tài sản bảo đảm. Trong điều kiện đó, các TCTD có xu hướng lựa chọn phương án quản trị rủi ro cao hơn, như lưu thêm bản giấy hoặc yêu cầu xác nhận bổ sung, nhằm tránh nguy cơ tài liệu không được chấp nhận đầy đủ khi tranh chấp xảy ra. Chính sự bất định này làm giảm đáng kể động lực chuyển đổi số, bởi chủ thể áp dụng chưa thể dự đoán chắc chắn hậu quả pháp lý của việc sử dụng hồ sơ điện tử trong thực tiễn tố tụng.

Xét tổng thể, các vướng mắc nêu trên chủ yếu bắt nguồn từ ba nhóm nguyên nhân chính. Thứ nhất là, nguyên nhân lập pháp, thể hiện ở độ trễ giữa việc ban hành các đạo luật khung với việc hoàn thiện các quy định hướng dẫn và pháp luật chuyên ngành liên quan. Thứ hai là, nguyên nhân kỹ thuật - hạ tầng, khi hệ thống dữ liệu của các cơ quan, tổ chức liên quan chưa được kết nối và chia sẻ thông tin một cách đầy đủ, khiến quy trình xử lý giao dịch bảo đảm trên môi trường số chưa thể vận hành liên thông. Thứ ba là, nguyên nhân về nhận thức và tập quán pháp lý, khi hồ sơ giấy vẫn được xem là chuẩn mực an toàn trong hoạt động công chứng, tín dụng và tố tụng.

5. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp thúc đẩy ứng dụng công chứng điện tử trong ngành Ngân hàng

5.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

- NHNN ban hành hướng dẫn đặc thù

Trong ngắn hạn, NHNN cần sửa đổi, bổ sung Thông tư số 39/2016/TT-NHNN hoặc ban hành văn bản hướng dẫn mới nhằm thiết lập cơ chế riêng cho việc tiếp nhận, xác minh, lưu trữ và sử dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm. Văn bản này cần làm rõ các nội dung cốt lõi như: Trường hợp nào TCTD có trách nhiệm tiếp nhận văn bản công chứng điện tử; phương thức xác minh tính xác thực thông qua cơ sở dữ liệu công chứng và chữ ký số; tiêu chuẩn lưu trữ hồ sơ điện tử; cũng như trách nhiệm của các chủ thể liên quan khi phát sinh lỗi kỹ thuật hoặc tranh chấp. Việc ban hành hướng dẫn chuyên ngành có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi chỉ khi có cơ sở pháp lý rõ ràng, các TCTD mới có thể chuẩn hóa quy trình nội bộ và vận hành công chứng điện tử một cách thống nhất, an toàn.

- Hoàn thiện cơ chế thừa nhận chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự

Bên cạnh pháp luật chuyên ngành ngân hàng, cần đặc biệt chú trọng hoàn thiện cơ chế thừa nhận và đánh giá chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự. Trên thực tế, giá trị của văn bản công chứng điện tử không chỉ được kiểm nghiệm ở thời điểm tiếp nhận hồ sơ mà còn được thử thách rõ nhất khi khoản vay phát sinh tranh chấp và TCTD phải sử dụng tài liệu đó để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước cơ quan tài phán. Vì vậy, Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn thống nhất theo hướng làm rõ rằng văn bản công chứng điện tử đáp ứng điều kiện về chữ ký số, tính toàn vẹn và khả năng xác minh qua cơ sở dữ liệu công chứng có giá trị chứng minh tương đương văn bản công chứng bằng giấy trong tranh chấp tín dụng18,19. Khi tính dự đoán pháp lý trong tố tụng được nâng lên, TCTD mới thực sự có cơ sở để sử dụng hồ sơ điện tử như một bộ phận bình thường và ổn định của hồ sơ bảo đảm.

- Hoàn thiện cơ chế liên thông dữ liệu

Một yêu cầu mang tính nền tảng là phải hoàn thiện cơ chế pháp lý và kỹ thuật cho việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ sở dữ liệu công chứng với các cơ sở dữ liệu có liên quan, đặc biệt là dữ liệu đất đai và hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm. Chỉ khi dữ liệu được chuyển tiếp an toàn, chính xác và kịp thời giữa tổ chức hành nghề công chứng, cơ quan đăng ký và TCTD thì quy trình tín dụng số hóa toàn trình mới có thể được hiện thực hóa20. Do đó, liên thông dữ liệu cần được xem là một nhiệm vụ ưu tiên trong quá trình hoàn thiện pháp luật và hạ tầng số, bởi đây không chỉ là điều kiện hỗ trợ công chứng điện tử mà còn là nền tảng của toàn bộ hệ sinh thái giao dịch bảo đảm trong môi trường số.

- Thiết lập tiêu chuẩn kỹ thuật về lưu trữ dài hạn

Cùng với hoàn thiện pháp luật nội dung, cần xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với văn bản công chứng điện tử, đặc biệt là các tiêu chuẩn liên quan đến định dạng tệp, chữ ký số dài hạn, dấu thời gian, cơ chế lưu trữ và phương thức kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu21. Đây là yêu cầu quan trọng đối với lĩnh vực tín dụng, bởi nhiều khoản vay có thời hạn kéo dài trong nhiều năm, trong khi giá trị của văn bản công chứng điện tử chỉ thực sự được bảo đảm khi tài liệu đó vẫn có thể được xác minh một cách đáng tin cậy sau một khoảng thời gian dài. Thiếu chuẩn mực kỹ thuật rõ ràng sẽ khiến TCTD gặp khó khăn trong việc lựa chọn giải pháp công nghệ, tổ chức lưu trữ và duy trì khả năng sử dụng tài liệu trong suốt vòng đời của khoản vay.

5.2. Giải pháp cho ngành Ngân hàng

- Tích hợp hệ thống xác thực với cơ sở dữ liệu công chứng

Về phía các TCTD, một giải pháp cần được ưu tiên là đầu tư hệ thống quản lý hồ sơ tín dụng có khả năng kết nối hoặc tích hợp với cơ chế tra cứu, xác minh dữ liệu công chứng22. Trong môi trường số, xác minh là khâu bản lề quyết định văn bản điện tử có được chấp nhận và sử dụng hay không. Khi bước xác minh được tự động hóa trên cơ sở kết nối với cơ sở dữ liệu công chứng, các TCTD không chỉ rút ngắn được thời gian xử lý hồ sơ mà còn giảm sự phụ thuộc vào đánh giá thủ công, qua đó tăng tính thống nhất và giảm rủi ro tác nghiệp trong toàn hệ thống.

- Đào tạo chuyên biệt và xây dựng quy trình thao tác nội bộ chuẩn

Song song với đầu tư hạ tầng công nghệ, các TCTD cần xây dựng chương trình đào tạo chuyên biệt cho cán bộ tín dụng, cán bộ pháp chế và cán bộ quản trị hồ sơ về kỹ năng xử lý văn bản công chứng điện tử, bao gồm kiểm tra chữ ký số, đánh giá tính toàn vẹn của dữ liệu, phát hiện dấu hiệu bất thường của tài liệu và xử lý các tình huống kỹ thuật phát sinh23. Đồng thời, mỗi TCTD cần xây dựng quy trình thao tác nội bộ chuẩn đối với việc tiếp nhận và xử lý hồ sơ có văn bản công chứng điện tử để bảo đảm cùng một loại chứng từ được xử lý theo cùng một tiêu chuẩn nghiệp vụ trong toàn hệ thống. Đây là điều kiện quan trọng để hạn chế xu hướng “an toàn hóa bằng hồ sơ giấy”, vốn đang là một trong những rào cản lớn nhất đối với công chứng điện tử trong thực tiễn.

- Xây dựng chính sách lưu trữ điện tử dài hạn

Do các khoản tín dụng có tài sản bảo đảm thường có thời hạn dài, việc lưu trữ văn bản công chứng điện tử cần được nhìn nhận như một cấu phần của quản trị rủi ro dài hạn. Các TCTD cần xây dựng chính sách lưu trữ điện tử bảo đảm khả năng truy xuất, kiểm tra, phục hồi và xác minh dữ liệu trong suốt vòng đời của khoản vay, thay vì lệ thuộc vào việc in văn bản điện tử ra giấy như một giải pháp thay thế. Về thực chất, đầu tư cho lưu trữ điện tử dài hạn là đầu tư cho khả năng thực thi quyền của TCTD trong tương lai, đặc biệt trong giai đoạn xử lý nợ hoặc giải quyết tranh chấp.

- Tăng cường hợp tác liên ngành và chia sẻ thông lệ tốt

Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cùng các TCTD lớn cần phát huy vai trò tích cực hơn trong việc chia sẻ kinh nghiệm triển khai, tổng kết mô hình thực tiễn và xây dựng thông lệ tốt liên quan đến việc ứng dụng công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng24. Việc chia sẻ này không chỉ có giá trị về mặt kỹ thuật mà còn có ý nghĩa trong việc chuẩn hóa quy trình nội bộ, phối hợp giữa các bộ phận nghiệp vụ và tập hợp các khó khăn thực tế để kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Khi kinh nghiệm triển khai được hệ thống hóa và lan tỏa, quá trình chuyển đổi số trong toàn Ngành sẽ diễn ra đồng đều và hiệu quả hơn.

- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới để tăng cường tính xác thực

Về lâu dài, các TCTD có thể nghiên cứu ứng dụng các công nghệ mới như công nghệ chuỗi khối (Blockchain) hoặc các giải pháp lưu trữ, xác thực dữ liệu phân tán nhằm tăng cường khả năng kiểm chứng, chống sửa đổi và truy vết lịch sử xử lý của văn bản công chứng điện tử 25, 26. Dù đây chưa phải là giải pháp có thể áp dụng đại trà ngay trong ngắn hạn, song trong bối cảnh dữ liệu ngày càng trở thành tài sản trung tâm của hoạt động tín dụng và quản trị rủi ro, việc chủ động chuẩn bị năng lực tiếp cận và thí điểm công nghệ mới vẫn là một hướng đi có giá trị chiến lược.

6. Kết luận

Việc Luật Công chứng năm 2024 chính thức ghi nhận công chứng điện tử đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho quá trình số hóa hoạt động công chứng tại Việt Nam. Sự xuất hiện của văn bản công chứng điện tử không chỉ mở ra khả năng hiện đại hóa quy trình công chứng mà còn tạo điều kiện để các TCTD từng bước tích hợp loại văn bản này vào quy trình cấp tín dụng có tài sản bảo đảm. Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, đây được xem là tiền đề quan trọng để xây dựng các quy trình tín dụng số hóa, góp phần nâng cao hiệu quả xử lý hồ sơ và giảm chi phí giao dịch.

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy việc sử dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng vẫn còn nhiều vướng mắc. Những khó khăn này chủ yếu xuất phát từ sự thiếu đồng bộ giữa các quy định pháp luật chuyên ngành, hạn chế của hạ tầng kỹ thuật cũng như sự thiếu liên thông giữa các hệ thống dữ liệu liên quan đến giao dịch bảo đảm. Trong khi đó, các TCTD vẫn có xu hướng duy trì hồ sơ giấy do lo ngại về rủi ro pháp lý và khả năng xác minh tính xác thực của dữ liệu điện tử.

Vì vậy, để văn bản công chứng điện tử có thể được sử dụng rộng rãi trong hoạt động tín dụng, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý liên quan, đồng thời xây dựng cơ chế kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa cơ sở dữ liệu công chứng, hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm và cơ sở dữ liệu của TCTD. Bên cạnh đó, các TCTD cũng cần từng bước điều chỉnh quy trình nghiệp vụ và hệ thống công nghệ thông tin để sẵn sàng tiếp nhận và xử lý văn bản công chứng điện tử. Khi các điều kiện pháp lý và kỹ thuật được bảo đảm, công chứng điện tử sẽ có khả năng trở thành một công cụ hỗ trợ hiệu quả cho quá trình số hóa hoạt động tín dụng ngân hàng tại Việt Nam.

1 Theo Quyết định số 810/QĐ-NHNN ngày 11/5/2021 phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030: Đến năm 2025, tối thiểu 50% nghiệp vụ ngân hàng cho phép khách hàng thực hiện hoàn toàn trên kênh số.

2 Điều 164 Luật Nhà ở năm 2023 (Luật số 27/2023/QH15) quy định hợp đồng thế chấp nhà ở phải được công chứng. Khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai năm 2024 (Luật số 31/2024/QH15) quy định tương tự đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất.

3 Điều 25 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định: Giao dịch bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm có thẩm quyền.

4 Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 30/10/2014 của Ban Chấp hành Trung ương và Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị xác định chuyển đổi số, phát triển kinh tế số là nhiệm vụ chiến lược.

5 Khoản 1 Điều 62 Luật Công chứng năm 2024 (Luật số 57/2024/QH15 ngày 26/6/2024, có hiệu lực từ 01/7/2025)

6 Điều 6 Luật Công chứng năm 2024 (Luật số 57/2024/QH15 ngày 26/6/2024, có hiệu lực từ 01/7/2025)

7 Điều 9 Luật Giao dịch điện tử năm 2023 (Luật số 20/2023/QH15) quy định nguyên tắc không phân biệt đối xử: “Thông điệp dữ liệu có giá trị như văn bản, tài liệu, hồ sơ hoặc chứng từ khi đáp ứng các yêu cầu về hình thức theo quy định của pháp luật”.

8 Khoản 1 Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015 (Luật số 91/2015/QH13) định nghĩa thế chấp tài sản; Điều 309 định nghĩa cầm cố tài sản; khoản 1 Điều 335 định nghĩa về bảo lãnh.

9 Điều 8 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 quy định điều kiện của tài sản dùng để bảo đảm: Tài sản phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, xác định được, được phép giao dịch và không có tranh chấp.

10 Điều 14 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 (sửa đổi bởi Thông tư số 06/2023/TT-NHNN) quy định hồ sơ vay vốn phải bao gồm tài liệu về tài sản bảo đảm và văn bản công chứng hoặc chứng thực theo quy định pháp luật.

11 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (sửa đổi bởi Thông tư số 06/2023/TT-NHNN) quy định hồ sơ vay vốn phải bao gồm tài liệu về tài sản bảo đảm và văn bản công chứng hoặc chứng thực theo quy định pháp luật.

12 Theo Báo cáo chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2023 của NHNN, Ngân hàng Thương mại cổ phần (NHTMCP) Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) đã triển khai thí điểm tích hợp hệ thống nội bộ với cổng công chứng điện tử, tuy nhiên chỉ áp dụng cho một số loại giao dịch hạn chế.

13 Khảo sát của nhóm tác giả tại 12 TCTD (4 NHTM Nhà nước, 5 NHTMCP, 3 TCTD phi ngân hàng) trong tháng 9 - 11/2024: 9/12 đơn vị vẫn yêu cầu nộp bản giấy hoặc bản in xác nhận khi tiếp nhận văn bản công chứng điện tử.

14 Theo Báo cáo thường niên của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam năm 2023: Chi phí xử lý hồ sơ tín dụng giấy tờ tại TCTD bình quân cao hơn 35 - 45% so với hồ sơ điện tử, do chi phí in ấn, lưu trữ vật lý và nhân lực xử lý thủ công.

15 Điều 334 và Điều 336 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền của bên nhận bảo đảm trong xử lý tài sản bảo đảm (bán đấu giá, nhận tài sản hoặc khởi kiện). Văn bản công chứng hợp đồng bảo đảm là tài liệu pháp lý cốt lõi để thực thi các quyền này.

16 Tổng hợp từ bản án dân sự phúc thẩm giai đoạn 2022 - 2024 tại Tòa án nhân dân cấp cao Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh: Khoảng 15% vụ tranh chấp tín dụng phát sinh vấn đề về hình thức chứng từ bảo đảm, trong đó có trường hợp liên quan đến tính hợp lệ của tài liệu điện tử.

17 Khảo sát của nhóm tác giả tại 12 TCTD (4 NHTM Nhà nước, 5 NHTMCP, 3 TCTD phi ngân hàng) trong tháng 9-11/2024: 9/12 đơn vị vẫn yêu cầu nộp bản giấy hoặc bản in xác nhận khi tiếp nhận văn bản công chứng điện tử.

18 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Tài liệu điện tử phải xuất trình kèm theo các thiết bị mang dữ liệu điện tử đó hoặc bản in có chứng nhận.

19 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Luật số 92/2015/QH13) liệt kê chứng cứ bao gồm tài liệu điện tử, nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể về tiêu chí đánh giá giá trị chứng minh của văn bản công chứng điện tử trong tranh chấp tín dụng.

20 World Bank (2022), “Digital Finance in Vietnam: Assessment of the Legal and Regulatory Framework”, pages 45-52

21 Tiêu chuẩn PAdES (ETSI EN 319 102-1) và XAdES (ETSI EN 319 132-1) cung cấp cơ chế ký số dài hạn cho phép xác minh chữ ký ngay cả sau khi chứng chỉ số hết hạn. Đây là tiêu chuẩn đang được áp dụng tại Liên minh châu Âu (theo eIDAS Regulation (EU No 910/2014)).

22 Theo Quyết định số 810/QĐ-NHNN ngày 11/5/2021 phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030: Đến năm 2025, tối thiểu 50% nghiệp vụ ngân hàng cho phép khách hàng thực hiện hoàn toàn trên kênh số.

23 Khảo sát của nhóm tác giả tại 12 TCTD (4 NHTM Nhà nước, 5 NHTMCP, 3 TCTD phi ngân hàng) trong tháng 9 - 11/2024: 9/12 đơn vị vẫn yêu cầu nộp bản giấy hoặc bản in xác nhận khi tiếp nhận văn bản công chứng điện tử.

24 Tham khảo kinh nghiệm Singapore (Electronic Transactions Act, Cap. 88 và Conveyancing Rules 2011 - cho phép đăng ký bất động sản hoàn toàn trực tuyến từ năm 2014), Estonia (X-Road platform cho toàn bộ hành chính công) và EU (Regulation (EU) 2016/1191 về chứng nhận điện tử xuyên biên giới).

25 Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 30/10/2014 của Ban Chấp hành Trung ương và Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị xác định chuyển đổi số, phát triển kinh tế số là nhiệm vụ chiến lược.

26 Ứng dụng công nghệ Blockchain trong lưu trữ văn bản pháp lý: Dubai Land Department (từ năm 2017), Estonia (X-Road), Thụy Điển (thí điểm đăng ký đất đai từ năm 2016). Tại Việt Nam, Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt mục tiêu phát triển và ứng dụng Blockchain trong các lĩnh vực ưu tiên.

Tài liệu tham khảo

1. Luật Công chứng năm 2024 (Luật số 57/2024/QH15 ngày 26/6/2024, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025).

2. Luật Giao dịch điện tử năm 2023 (Luật số 20/2023/QH15 ngày 22/6/2023).

3. Luật Các TCTD năm 2024 (Luật số 32/2024/QH15 ngày 18/01/2024).

4. Bộ luật Dân sự năm 2015 (Luật số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015).

5. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Luật số 92/2015/QH13 ngày 25/11/2015).

6. Luật Đất đai năm 2024 (Luật số 31/2024/QH15 ngày 18/01/2024).

7. Luật Nhà ở năm 2023 (Luật số 27/2023/QH15 ngày 27/11/2023).

8. Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

9. Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

10. Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 (sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 06/2023/TT-NHNN) quy định về hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

11. Quyết định số 810/QĐ-NHNN ngày 11/5/2021 của NHNN về Đề án chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

12. Bộ Tư pháp (2024), Báo cáo tổng kết thi hành Luật Công chứng năm 2014 và định hướng sửa đổi, bổ sung, Hà Nội.

13. Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (2023), Báo cáo thường niên ngành Ngân hàng Việt Nam 2023, Hà Nội.

14. NHNN (2023), Báo cáo chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2023.

15. Phí Mạnh Cường (2019), “Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử ở một số quốc gia trên thế giới.” Tạp Chí Công Thương, tapchicongthuong.vn/gia-tri-phap-ly-cua-chu-ky-dien-tu-o-mot-so-quoc-gia-tren-the-gioi-59149.htm

16. World Bank (2022), Digital Finance in Vietnam: Assessment of the Legal and Regulatory Framework, Washington D.C.

17. European Union (2014), Regulation (EU) No 910/2014 on electronic identification and trust services for electronic transactions in the internal market (eIDAS Regulation).

18. ETSI (2019), EN 319 102-1: Electronic Signatures and Infrastructures (ESI) - Procedures for Creation and Validation of AdES Digital Signatures.

Đặng Ngọc Long, Trần Bảo Sơn, Nguyễn Thảo Linh
Trường Đại học Luật Hà Nội

Tin bài khác

Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế

Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế

Bài viết phân tích những điểm mới của Thông tư số 83/2025/TT-NHNN về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng trên cơ sở Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 và chuẩn mực Basel, qua đó làm rõ các yêu cầu tăng cường quản trị rủi ro, dữ liệu rủi ro, kiểm tra sức chịu đựng và quản lý rủi ro mô hình nhằm nâng cao an toàn hoạt động và ổn định hệ thống ngân hàng.
Quản trị rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng xăng dầu tại Việt Nam trước biến động địa chính trị toàn cầu

Quản trị rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng xăng dầu tại Việt Nam trước biến động địa chính trị toàn cầu

Bài viết phân tích rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng xăng dầu tại Việt Nam trong bối cảnh biến động địa chính trị toàn cầu gia tăng, qua đó làm rõ mối liên hệ giữa an ninh năng lượng và ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất các giải pháp chiến lược về dự trữ quốc gia và công cụ tài chính phái sinh nhằm tăng cường sức chống chịu của nền kinh tế.
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Bài viết phân tích những khoảng trống pháp lý trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam, trên cơ sở so sánh kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc, qua đó đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo đảm sự vận hành ổn định, minh bạch của thị trường và hạn chế rủi ro đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích khoảng trống pháp lý đối với dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam, đồng thời đề xuất khung pháp lý nhằm bảo đảm an toàn hệ thống, bảo vệ khách hàng và tạo nền tảng cho sự phát triển minh bạch của thị trường tài sản số.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Bài viết phân tích những giải pháp điều hành tín dụng chủ động, linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong năm 2025 nhằm ưu tiên nguồn vốn cho nông nghiệp, nông thôn, qua đó củng cố vai trò trụ đỡ của khu vực này đối với tăng trưởng kinh tế, xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội.
Xem thêm
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế

Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế

Bài viết phân tích những điểm mới của Thông tư số 83/2025/TT-NHNN về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng trên cơ sở Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 và chuẩn mực Basel, qua đó làm rõ các yêu cầu tăng cường quản trị rủi ro, dữ liệu rủi ro, kiểm tra sức chịu đựng và quản lý rủi ro mô hình nhằm nâng cao an toàn hoạt động và ổn định hệ thống ngân hàng.
Quản trị rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng xăng dầu tại Việt Nam trước biến động địa chính trị toàn cầu

Quản trị rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng xăng dầu tại Việt Nam trước biến động địa chính trị toàn cầu

Bài viết phân tích rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng xăng dầu tại Việt Nam trong bối cảnh biến động địa chính trị toàn cầu gia tăng, qua đó làm rõ mối liên hệ giữa an ninh năng lượng và ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất các giải pháp chiến lược về dự trữ quốc gia và công cụ tài chính phái sinh nhằm tăng cường sức chống chịu của nền kinh tế.
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành