Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Nghiên cứu - Trao đổi
Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố Báo cáo tháng 01/2026, tập trung đánh giá các quy định về tỉ lệ thanh khoản an toàn (LCR) sau 10 năm triển khai và áp dụng.
aa
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) thuộc BIS bắt đầu áp dụng LCR từ ngày 01/01/2015 như một phần của tiêu chuẩn Basel III (một khuôn khổ quy định quốc tế về an toàn vốn và tính thanh khoản dành cho hệ thống ngân hàng). LCR được áp dụng để đảm bảo ngân hàng nắm giữ đủ tài sản thanh khoản chất lượng cao nhằm đáp ứng liên tục các nghĩa vụ nợ ngắn hạn của họ.

BIS đã rà soát cả cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm liên quan đến các quy định về thanh khoản, qua đó làm rõ những kết luận chính cũng như các khoảng trống còn tồn tại. Nội dung đánh giá bao gồm: Các vấn đề đặt ra, phương pháp tính và mục tiêu của LCR xét trên cả phương diện lý thuyết và thực tiễn; tác động của LCR đến hành vi của các ngân hàng cùng những nội dung vẫn còn bỏ ngỏ cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện.

Đây là vấn đề xoay quanh phương pháp tính toán và mức độ hiệu quả của các quy định thanh khoản nói chung, cũng như LCR nói riêng. Một số quan điểm cho rằng, thực tiễn vận hành thị trường vẫn còn khoảng cách đáng kể so với khuôn khổ lý thuyết và các thước đo thanh khoản hiện hành; trong khi đó, ý kiến khác nhận định hệ thống tài liệu về điều chỉnh vốn tương đối đầy đủ, song lập luận về điều chỉnh thanh khoản còn thiếu chiều sâu và tính hệ thống. Trong bối cảnh đó, câu hỏi đặt ra là sau hơn một thập niên kể từ khi được giới thiệu, liệu LCR có còn phù hợp hay đã bộc lộ dấu hiệu lạc hậu so với diễn biến mới của thị trường tài chính?

Báo cáo nhấn mạnh rằng, rủi ro thanh khoản là đặc trưng mang tính cấu trúc trong hoạt động ngân hàng, xuất phát từ chức năng trung gian tài chính khi các ngân hàng sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho các khoản cho vay trung, dài hạn, trong khi nhiều tài sản bảo đảm có mức độ thanh khoản hạn chế. Hoạt động tạo lập thanh khoản góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, song đồng thời khiến ngân hàng đối mặt với nguy cơ rút tiền gửi ồ ạt và làm gia tăng rủi ro lan truyền, đe dọa ổn định tài chính vĩ mô. Thực tiễn cho thấy hệ quả tiêu cực của khủng hoảng thanh khoản đối với từng ngân hàng, toàn hệ thống tài chính và nền kinh tế nói chung, điển hình như cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2007 - 2009 và các rối loạn ngân hàng năm 2023. Để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, Basel III đã giới thiệu khung khổ toàn cầu về điều chỉnh rủi ro thanh khoản. Các thước đo cơ bản bao gồm LCR và tỉ trọng quỹ bình ổn ròng (NSFR).

Mục tiêu trước mắt của LCR là tạo thêm thời gian để cơ quan quản lý và giám sát có điều kiện đánh giá, can thiệp và triển khai các biện pháp xử lý trong giai đoạn căng thẳng. Cụ thể, danh mục tài sản thanh khoản chất lượng cao (HQLA) được thiết kế nhằm bảo đảm ngân hàng có thể duy trì khả năng chi trả trong vòng 30 ngày khi xảy ra cú sốc thanh khoản, qua đó tạo dư địa thực hiện các giải pháp khắc phục cần thiết. Tuy nhiên, các mục tiêu cốt lõi của LCR cũng làm dấy lên nhiều tranh luận về tác động hệ thống của rủi ro thanh khoản. Trong bối cảnh căng thẳng, động thái bán tháo tài sản để đáp ứng yêu cầu thanh khoản có thể làm suy giảm niềm tin đối với các ngân hàng đang gặp khó khăn, đồng thời gây ra tổn thất theo giá thị trường đối với những tổ chức khác nắm giữ các tài sản tương tự, từ đó làm gia tăng nguy cơ lan truyền rủi ro trong toàn hệ thống.

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về rủi ro thanh khoản trong hoạt động ngân hàng, các phân tích lý thuyết chuyên sâu về cơ chế điều chỉnh thanh khoản vẫn còn tương đối hạn chế. Tuy vậy, các nghiên cứu hiện nay đã phần nào làm rõ tác động chính sách của các quy định xây dựng theo khuôn khổ LCR.

Phần lớn tài liệu nhấn mạnh rằng, ngoại ứng phát sinh từ hiện tượng bán tháo tài sản trong giai đoạn căng thẳng là trở ngại lớn nhất đối với ổn định hệ thống. Cụ thể, các ngân hàng có xu hướng phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn ngắn hạn hoặc nắm giữ tỉ trọng lớn tài sản kém thanh khoản, qua đó làm gia tăng rủi ro lan truyền khi thị trường biến động. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng, thuế Pigou (một loại thuế về bất kỳ hoạt động thị trường nào tạo ra các ảnh hưởng ngoại lai tiêu cực) - công cụ điều chỉnh nhằm nội hóa các tác động tiêu cực đến xã hội có thể là giải pháp tối ưu để xử lý những vấn đề này. Trong thực tiễn, cơ chế này có thể được triển khai dưới hình thức áp dụng phí bổ sung đối với các thỏa thuận cung cấp thanh khoản dự phòng từ ngân hàng trung ương.

Bên cạnh đó, các yêu cầu của khuôn khổ LCR cũng được cho là góp phần cải thiện phúc lợi xã hội khi định hướng các ngân hàng gia tăng nắm giữ tài sản thanh khoản chất lượng cao hoặc giảm mức độ lệ thuộc vào nguồn vốn ngắn hạn thiếu bền vững. LCR đặc biệt phát huy hiệu quả trong bối cảnh cơ quan quản lý thiếu thông tin đầy đủ để thiết kế một mức thuế Pigou tối ưu. Đồng thời, một số nghiên cứu thực nghiệm cho thấy điều chỉnh vốn và điều chỉnh thanh khoản có mối quan hệ bổ sung, qua đó cùng củng cố khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng.

Một hàm ý quan trọng rút ra từ phân tích ngoại tác của hiện tượng bán tháo là làm rõ hơn mục tiêu “mua thời gian” của cơ chế thanh khoản, nhằm tạo điều kiện cho ngân hàng thực hiện các biện pháp điều chỉnh phù hợp, xử lý khủng hoảng trật tự, ngăn chặn bán tháo tài sản và tránh lây lan rủi ro hệ thống. Theo đó, bằng việc kiềm chế làn sóng rút tiền ồ ạt, cơ chế hỗ trợ thanh khoản của ngân hàng trung ương với vai trò người cho vay cuối cùng góp phần tách bạch các ngân hàng chỉ thiếu thanh khoản tạm thời nhưng vẫn bảo đảm khả năng thanh toán khỏi các ngân hàng thực sự mất khả năng chi trả. Qua đó, chính sách này giúp hạn chế tình trạng phân bổ thanh khoản kém hiệu quả và giảm thiểu rủi ro lan truyền trong hệ thống.

Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu cho thấy khi tồn tại ngoại tác do bán tháo tài sản, việc thiết lập một cơ chế điều chỉnh thanh khoản mang lại cải thiện về phúc lợi xã hội, kể cả trong những trường hợp khuôn khổ đo lường thanh khoản được thiết kế tương đối hợp lý.

Tuy nhiên, các mô hình lý thuyết cũng nhấn mạnh tính đánh đổi của chính sách. Việc yêu cầu duy trì gói đệm thanh khoản ở mức cao có thể làm thu hẹp dư địa cho vay sinh lời, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của trung gian tài chính. Đồng thời, áp lực tuân thủ có thể thúc đẩy ngân hàng gia tăng chấp nhận rủi ro ở các mảng hoạt động khác hoặc chuyển dịch rủi ro sang các trung gian tài chính ít chịu sự giám sát chặt chẽ hơn, làm phát sinh những hệ lụy mới đối với ổn định hệ thống.

Về tổng thể, Báo cáo của BIS cho thấy bằng chứng thực nghiệm về tác động của LCR khá tương đồng với các dự báo lý thuyết và làm rõ ba điểm chính:

Thứ nhất, phần lớn ngân hàng đáp ứng yêu cầu LCR thông qua việc gia tăng nắm giữ tài sản thanh khoản chất lượng cao, chủ yếu bằng cách củng cố dự trữ và tăng tỉ trọng trái phiếu chính phủ; việc thu hẹp bảng cân đối kế toán chỉ diễn ra trong một số ít trường hợp. Tuy nhiên, do tài sản thanh khoản thay thế cho các khoản cho vay, nhiều ngân hàng có xu hướng giảm cung tín dụng đối với hộ gia đình và doanh nghiệp, kéo theo sự suy giảm lợi nhuận.

Thứ hai, các ngân hàng có điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn theo hướng giảm phụ thuộc vào nợ ngắn hạn trên thị trường bán buôn, đồng thời gia tăng ở mức độ nhất định tiền gửi bán lẻ và các nguồn vốn dài hạn. Dù vậy, quy mô điều chỉnh này nhìn chung còn tương đối nhỏ so với tổng tài sản.

Thứ ba, việc thắt chặt yêu cầu thanh khoản và sự suy giảm lợi nhuận có thể tạo động cơ khiến ngân hàng gia tăng nắm giữ các tài sản kém minh bạch, khó định giá hoặc có mức độ rủi ro cao hơn, qua đó làm phát sinh những hệ quả ngoài dự kiến đối với cấu trúc rủi ro của hệ thống.

Rủi ro thanh khoản cũng có thể dịch chuyển sang các thực thể tài chính ít chịu sự điều chỉnh hoặc giám sát chặt chẽ hơn, làm gia tăng nguy cơ tích tụ rủi ro bên ngoài khu vực ngân hàng truyền thống. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy LCR đã định hình lại cơ cấu tài sản và nguồn vốn của các ngân hàng theo đúng mục tiêu thiết kế ban đầu. Tuy nhiên, những tác động ngoài ý muốn phát sinh trong quá trình điều chỉnh có thể phần nào làm suy giảm lợi ích ròng mà khuôn khổ này hướng tới đối với ổn định tài chính.

Mặc dù đã đạt được những bước tiến đáng kể, nhiều vấn đề cốt lõi liên quan đến việc hiệu chỉnh và vận hành LCR vẫn chưa được làm rõ. Trước hết, chưa có sự đồng thuận về cách xác định phù hợp các tỉ lệ rút tiền gửi trong bối cảnh ngân hàng số phát triển mạnh và quy mô tiền gửi giao dịch ngày càng lớn. Bên cạnh đó, mức độ mà quy định thanh khoản làm suy giảm cung tín dụng cho nền kinh tế thực hoặc thúc đẩy sự mở rộng của các định chế tài chính phi ngân hàng (NBFIs) vẫn là câu hỏi bỏ ngỏ.

Một vấn đề quan trọng khác là liệu các yêu cầu thanh khoản có thực sự củng cố khả năng chống chịu của ngân hàng trong giai đoạn khủng hoảng hay không. Ở góc độ khái niệm, vẫn tồn tại sự khác biệt giữa mục tiêu của chính sách thanh khoản thường mang tính vĩ mô và thiết kế của LCR vốn là một công cụ vi mô thận trọng. Ngoài ra, cần tiếp tục làm rõ khả năng các ngân hàng sử dụng gói đệm thanh khoản trong thời kỳ căng thẳng cũng như sự tương tác giữa quy định thanh khoản và các công cụ chính sách của ngân hàng trung ương.

Xây dựng thước đo LCR

Ngay từ những năm đầu thành lập, vấn đề thanh khoản đã được đưa vào chương trình nghị sự của BCBS. Tại cuộc họp đầu tiên năm 1974, mục tiêu đặt ra là tăng cường an toàn và bảo đảm khả năng thanh khoản của các ngân hàng. Tuy nhiên, tiến trình xây dựng khuôn khổ cụ thể diễn ra khá chậm; đến năm 1992, BCBS mới chính thức ban hành các nguyên tắc về quản lý rủi ro thanh khoản, tích hợp vào bộ công cụ phân tích và tạo nền tảng cho đối thoại giữa cơ quan giám sát và các ngân hàng quốc tế lớn. Bước sang những năm 2000, khi hoạt động huy động vốn trên thị trường thương mại ngày càng cạnh tranh và dần thay thế tiền gửi truyền thống như nguồn tài trợ chủ yếu của nhiều ngân hàng lớn, nhu cầu cập nhật khuôn khổ quản lý thanh khoản trở nên cấp thiết nhằm đảm bảo an ninh hoạt động và tôn trọng nhân quyền. Các nguyên tắc tập trung vào việc đánh giá rủi ro, tương tác với lực lượng an ninh công cộng và tư nhân.

Trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu, các thị trường tài trợ bán buôn gần như đóng băng, khiến ngay cả những ngân hàng có đầy đủ vốn cũng rơi vào tình trạng thiếu hụt thanh khoản. Điều này cho thấy những hạn chế của cách tiếp cận dựa nhiều vào nguyên tắc tự nguyện trước đó. Để khắc phục, khuôn khổ Basel III được ban hành đã giới thiệu hai công cụ cốt lõi là LCR và NSFR. Theo đó, LCR nhằm bảo đảm ngân hàng có thể duy trì khả năng chi trả trong 30 ngày căng thẳng, còn NSFR hướng tới xử lý rủi ro sai lệch kỳ hạn với tầm nhìn trên một năm.

Nếu như thiết kế của LCR và NSFR chủ yếu phản ánh bài học từ sự cạn kiệt thị trường tài trợ bán buôn ngắn hạn trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu, thì căng thẳng năm 2023 cho thấy làn sóng rút tiền gửi không được bảo hiểm có thể gây tác động nghiêm trọng; đồng thời, một phần HQLA đã được thế chấp để đáp ứng nhu cầu thanh toán trong ngày. Trước bối cảnh đó, BCBS đã tiến hành nghiên cứu và rà soát toàn diện LCR cùng các quy định thanh khoản liên quan.

Trong trường hợp không gặp khó khăn tài chính, LCR quy định tỉ trọng giữa tổng HQLA của ngân hàng và dòng vốn ra ròng quá 30 ngày tối thiểu bằng 100%. Trong đó, những tài sản duy trì được giá trị trong thời kỳ khó khăn và dễ chuyển nhượng đáp ứng tiêu chuẩn làm vốn đệm, bao gồm hai loại tài sản: (i) Tài sản cấp 1 (tài sản thanh khoản cao, bao gồm tiền mặt, dự trữ tại ngân hàng trung ương, trái phiếu kho bạc và trái phiếu ngân hàng trung ương hạng cao) không bị mất giá khi tính toán thanh khoản và có thể bù đắp 100% tổng HQLA; (ii) Tài sản cấp 2 được chia thành tài sản cấp 2A (bao gồm trái phiếu khu vực công hạng cao hoặc trái phiếu có bảo đảm... và tùy theo quyết định của cấp quốc gia, tài sản cấp 2B (như nợ doanh nghiệp xếp hạng thấp hay cổ phiếu trong các chỉ số chính). Khi tính toán thanh khoản điều chỉnh, tài sản cấp 2A phải giảm tối thiểu 15%, tài sản cấp 2B phải giảm 25 - 50%, nhưng tổng mức giảm tài sản cấp 2 không vượt quá 40% tổng tài sản, với điều kiện tài sản cấp 2B bù đắp không quá 15% tổng HQLA. Các tài sản cũng cần đáp ứng yêu cầu hoạt động, không bị ràng buộc bởi bất kỳ nghĩa vụ hoặc quyền lợi nào của bên thứ ba, được kiểm soát tập trung bởi chức năng quản lý thanh khoản và dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt, bằng cách bán hay mua lại, trong thời hạn thanh khoản tiêu chuẩn.

Việc dự báo dòng vốn ra ròng được tính toán theo kịch bản 30 ngày căng thẳng. Tính toán khá chi tiết, nhưng ý tưởng cơ bản rất đơn giản và dễ hiểu. Dòng vốn ra ròng là sự khác biệt giữa tổng dòng tiền ra dự kiến và tổng dòng tiền vào dự kiến. Tổng dòng tiền ra dự kiến được tính bằng cách tăng nhiều lần các khoản nợ chưa thanh toán theo từng hạng mục hoặc nợ phải trả các loại và các cam kết ngoại bảng bởi tỉ lệ rút vốn theo thời gian. Ví dụ, tỉ lệ rút tiền gửi bán lẻ dự kiến 3 - 10% tùy theo mức độ ổn định; tài trợ bán buôn không có bảo đảm đối mặt mức rút vốn 25 - 100%, hạn mức thanh khoản và tín dụng cam kết nhưng chưa sử dụng có thể tạo ra dòng vốn ra tới 100%. Tổng dòng tiền vào dự kiến được tính bằng cách nhân nhiều lần các khoản nợ chưa thanh toán dựa trên tốc độ thu hồi các khoản phải thu theo hợp đồng dự kiến sẽ thu được trong trường hợp căng thẳng thanh khoản, tổng dòng tiền này tối đa bằng 75% tổng số tiền dự kiến phải chi.

Tỉ lệ rút vốn, yếu tố quyết định dòng tiền ra ròng trong khuôn khổ LCR, được hiệu chỉnh trên cơ sở một kịch bản căng thẳng nghiêm trọng, mô phỏng các cú sốc tổng hợp tương tự giai đoạn bắt đầu từ năm 2007. Kịch bản này kết hợp cả cú sốc đặc thù đối với từng ngân hàng và cú sốc mang tính toàn thị trường.

Theo đó, các giả định chính bao gồm: (i) Tiền gửi bán lẻ bị rút dần một phần; (ii) Suy giảm một phần khả năng huy động vốn bán buôn không có tài sản bảo đảm; (iii) Sụt giảm nguồn tài trợ ngắn hạn có bảo đảm và từ các bên đối tác; (iv) Phát sinh dòng tiền ra theo hợp đồng trong trường hợp xếp hạng tín dụng của ngân hàng bị hạ tối đa ba bậc; (v) Yêu cầu ký quỹ tăng mạnh do biến động thị trường; (vi) Việc rút đột ngột khối lượng lớn từ các hạn mức tín dụng và thanh khoản đã cam kết; và (vii) Nhu cầu tiềm tàng phải mua lại nợ hoặc thực hiện các nghĩa vụ ngoài hợp đồng nhằm hạn chế rủi ro danh tiếng.

Cần lưu ý rằng LCR được thiết kế như một gói đệm thanh khoản thay vì một ngưỡng cứng mang tính bắt buộc trong mọi hoàn cảnh. Trong điều kiện thị trường căng thẳng, khuôn khổ này cho phép ngân hàng sử dụng toàn bộ HQLA để đáp ứng nhu cầu chi trả, kể cả khi việc đó khiến tỉ lệ LCR tạm thời giảm xuống dưới mức 100%. Cách tiếp cận này nhằm bảo đảm tính linh hoạt của chính sách, khuyến khích ngân hàng chủ động sử dụng gói đệm trong khủng hoảng thay vì tích trữ thanh khoản một cách thụ động.

Kết luận

Mục tiêu cốt lõi của LCR là tạo “khoảng đệm thời gian” khi ngân hàng rơi vào tình trạng căng thẳng thanh khoản. Cách tiếp cận này dựa trên tư tưởng của Walter Bagehot, thường được gọi là “Luật Bagehot”. Theo đó, trong giai đoạn hoảng loạn tài chính, ngân hàng trung ương nên cho vay tự do đối với các tổ chức còn khả năng thanh toán, nhưng áp dụng lãi suất cao và yêu cầu tài sản thế chấp có chất lượng, nhằm ngăn chặn hoảng loạn mà không khuyến khích hành vi rủi ro.

Theo logic này, các ngân hàng chỉ gặp khó khăn tạm thời về thanh khoản có thể tiếp cận hỗ trợ khẩn cấp để ngăn chặn làn sóng rút tiền gửi và bán tháo tài sản; trong khi đó, các ngân hàng mất khả năng thanh toán cần được xử lý hoặc tái cơ cấu mà không phụ thuộc vào tín dụng từ ngân hàng trung ương. Tuy nhiên, thách thức lớn đối với nhà hoạch định chính sách là việc phân biệt giữa thiếu thanh khoản tạm thời và mất khả năng thanh toán thực sự - điều này đòi hỏi đánh giá chi tiết chất lượng tài sản, danh mục cho vay và đầu tư chứng khoán của từng ngân hàng.

Vì vậy, các tài liệu chính thức coi mốc 30 ngày trong thiết kế LCR là khoảng thời gian hợp lý để ngân hàng chủ động ứng phó, cơ quan giám sát theo dõi tình hình và ngân hàng trung ương có đủ dư địa xem xét, triển khai các biện pháp phù hợp.

Một mục tiêu quan trọng khác của LCR là hạn chế động lực bán tháo tài sản và nguy cơ lan truyền trong giai đoạn khủng hoảng thanh khoản. Khi ngân hàng buộc phải bán tài sản trong điều kiện thị trường suy giảm, niềm tin có thể bị xói mòn, đồng thời phát sinh các khoản lỗ theo giá thị trường đối với những tổ chức khác đang nắm giữ tài sản tương tự. Hiệu ứng này có thể kích hoạt vòng xoáy bán tháo tiếp theo, làm suy giảm giá trị và tính thanh khoản của thị trường.

Theo logic đó, việc yêu cầu ngân hàng nắm giữ đủ tài sản thanh khoản chất lượng cao giúp họ có thể chuyển đổi thành tiền mặt trong tình huống căng thẳng mà không phải giảm giá mạnh hoặc bán gấp tài sản, qua đó góp phần hạn chế khuếch đại tâm lý hoảng loạn.

Báo cáo của BIS cho thấy LCR giữ vai trò nền tảng trong khuôn khổ quản lý thanh khoản và có tác động sâu rộng đến cấu trúc bảng cân đối của ngân hàng. Tuy nhiên, đây là một quy định có mức độ phức tạp cao, việc tuân thủ đặt ra thách thức đáng kể đối với cả tổ chức tín dụng và đội ngũ thực thi, do đòi hỏi năng lực phân tích, hệ thống dữ liệu và quản trị rủi ro ở mức độ chuyên sâu. Vì vậy, cơ quan giám sát cần tiếp tục theo dõi, đánh giá và hoàn thiện khuôn khổ này nhằm bảo đảm LCR thực sự góp phần củng cố ổn định thanh khoản và an toàn hệ thống tài chính, đồng thời hạn chế tối đa các tác động bất lợi ngoài dự kiến đối với chức năng trung gian và cung ứng tín dụng của ngân hàng.

Tài liệu tham khảo:

- Báo cáo BIS tháng 01/2026.

Vũ Xuân Thanh - NHNN

Tin bài khác

Ứng dụng AI thúc đẩy kinh tế xanh và Net-Zero trong doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế, bài học cho Việt Nam

Ứng dụng AI thúc đẩy kinh tế xanh và Net-Zero trong doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế, bài học cho Việt Nam

Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI) trong thúc đẩy kinh tế xanh và thực hiện chiến lược Net-Zero, qua đó, đề xuất bài học và giải pháp giúp doanh nghiệp Việt Nam kết hợp chuyển đổi số với chuyển đổi xanh, hướng đến phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Hoàn thiện mô hình giám sát tài chính tại Việt Nam: Cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị

Hoàn thiện mô hình giám sát tài chính tại Việt Nam: Cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị

Bài viết này phân tích khuôn khổ giám sát tài chính của Việt Nam trên cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế, qua đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện mô hình giám sát theo hướng phối hợp liên ngành, dựa trên mức độ nguy cơ và nâng cao khả năng ứng phó với các biến động mang tính hệ thống.
Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Trong bối cảnh ngành tài chính - ngân hàng chuyển đổi mạnh mẽ dưới tác động của toàn cầu hóa và công nghệ số, đạo đức và lòng tin ngày càng trở thành nền tảng quan trọng đối với quản trị, kiểm soát rủi ro và phát triển bền vững của hệ thống tài chính.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Quy định về Ủy ban kiểm toán trong doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam: Góc nhìn pháp lý và thực tiễn

Quy định về Ủy ban kiểm toán trong doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam: Góc nhìn pháp lý và thực tiễn

Ủy ban kiểm toán đóng vai trò quan trọng trong quản trị công ty hiện đại, nhưng khuôn khổ pháp lý hiện hành vẫn còn một số hạn chế, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện để nâng cao hiệu quả giám sát và tăng cường tính minh bạch cho doanh nghiệp niêm yết.
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảo hiểm tiền gửi là trụ cột quan trọng củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính, góp phần huy động nguồn lực và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Khi người dân yên tâm gửi gắm đồng tiền tích lũy, nguồn vốn trong xã hội được khơi thông, tạo thêm động lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
Xem thêm
Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng chịu tác động bởi những rủi ro mới và yêu cầu quản trị ngày càng cao, kiểm toán nội bộ giữ vai trò quan trọng trong củng cố hệ thống kiểm soát, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh tài chính khu vực, đồng thời đòi hỏi những đột phá về thể chế, hạ tầng, địa kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 44/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2025/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí

Thông tư số 43/2026/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối