Quản lý rủi ro thẻ tín dụng tại Việt Nam

Hoạt động ngân hàng
Trong bối cảnh kinh tế thế giới và Việt Nam đang đối mặt với nhiều biến động khó lường, cùng với quá trình chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, rủi ro liên quan đến thẻ tín dụng ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn. Việc kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới công nghệ, quản trị rủi ro chủ động và nâng cao nhận thức người tiêu dùng sẽ là nền tảng quan trọng giúp thị trường thẻ tín dụng Việt Nam phát triển an toàn, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và củng cố niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng trong kỷ nguyên số.
aa

Tóm tắt: Bài viết phân tích thực trạng và xác định các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro thẻ tín dụng tại Việt Nam trong bối cảnh sự phát triển nhanh chóng của tài chính tiêu dùng, biến động kinh tế và chuyển đổi số. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính thông qua phân tích tổng hợp tài liệu thứ cấp, các báo cáo ngành, dữ liệu thống kê vĩ mô và phương tiện truyền thông chính thống. Kết quả chỉ ra rằng, các yếu tố như lạm phát, suy giảm kinh tế, tỉ lệ thất nghiệp cao, chính sách tín dụng nới lỏng, quy trình xét duyệt tín dụng thiếu kiểm soát, năng lực công nghệ hạn chế và trình độ hiểu biết tài chính cá nhân thấp là những nguyên nhân trọng yếu làm gia tăng rủi ro thẻ tín dụng. Ngoài ra, bài viết làm nổi bật tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức về an ninh thông tin và củng cố hệ thống bảo mật thanh toán như là một trong những giải pháp then chốt giúp giảm thiểu rủi ro gian lận liên quan đến thẻ tín dụng. Dựa trên các phát hiện này, nhóm tác giả đề xuất một số nhóm giải pháp gồm: Hoàn thiện kiểm soát nội bộ, nâng cấp hạ tầng công nghệ và bảo mật, tăng cường giáo dục tài chính cá nhân và xây dựng cơ chế giám sát rủi ro thẻ tín dụng chủ động.

Từ khóa: Rủi ro thẻ tín dụng, giảm thiểu rủi ro, Việt Nam.

MANAGING CREDIT CARD RISKS IN VIETNAM

Abstract: This study examines the current landscape and identifies the key drivers of credit card risk in Vietnam against the backdrop of rapid expansion of consumer finance, economic fluctuations, and ongoing digital transformation. The research employs a qualitative methodology, utilizing secondary data analysis, industry reports, macroeconomic statistics, and mainstream media. The findings reveal that inflation, economic downturn, high unemployment rate, loose credit policies, lax credit approval processes, limited technological capacity, and low levels of personal financial literacy are critical contributors to the rise in credit card risk. Furthermore, the article highlights the importance of improving cybersecurity awareness and strengthening payment security systems as critical solutions to mitigate credit card fraud risks. Based on these insights, the authors proposes several groups of policy recommendations, including the enhancement of internal control systems, technological and cybersecurity infrastructure upgrades, financial literacy education, and the development of proactive risk-monitoring mechanisms tailored to the credit card segment.

Keywords: Credit card risks, risk mitigation, Vietnam.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Giới thiệu

Thẻ tín dụng không chỉ là công cụ thanh toán tiện lợi mà còn là một hình thức tín dụng tiêu dùng dựa trên thu nhập kỳ vọng của khách hàng. Trong giai đoạn hậu Covid-19, nhiều yếu tố kinh tế vĩ mô như lạm phát, tỉ lệ thất nghiệp và thu nhập thực tế suy giảm đã khiến người dân gia tăng phụ thuộc vào tín dụng tiêu dùng, trong khi năng lực tài chính không đủ đáp ứng nghĩa vụ trả nợ đúng hạn. Hệ quả là dư nợ thẻ tín dụng gia tăng cùng với rủi ro vỡ nợ cá nhân và nợ xấu tại các tổ chức tín dụng phát hành thẻ.

Mặc dù đã có một số nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến rủi ro thẻ tín dụng, song các phân tích cụ thể về rủi ro thẻ tín dụng tại Việt Nam hiện nay vẫn còn hạn chế, đặc biệt là trong bối cảnh mới với sự chuyển đổi nhanh chóng của công nghệ tài chính và hành vi người dùng. Khoảng trống này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu rủi ro phát sinh từ hoạt động thẻ tín dụng, từ đó góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường tài chính tiêu dùng trong nước. Kết quả nghiên cứu chỉ ra những nguyên nhân trọng yếu gây ra rủi ro thẻ tín dụng tại Việt Nam, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp giảm thiểu rủi ro thẻ tín dụng. Điểm mới của nghiên cứu nằm ở việc tiếp cận toàn diện rủi ro thẻ tín dụng dưới góc độ cả kinh tế vĩ mô, yếu tố tổ chức phát hành và hành vi người tiêu dùng, đồng thời gắn với bối cảnh hậu Covid-19 và chuyển đổi số. Nghiên cứu không chỉ mang tính thực tiễn, hỗ trợ các ngân hàng thương mại (NHTM) và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong việc hoàn thiện chính sách quản lý rủi ro tín dụng tiêu dùng, mà còn góp phần củng cố niềm tin của người dân đối với dịch vụ thanh toán hiện đại, thúc đẩy sự phát triển bền vững của tài chính toàn diện tại Việt Nam.

2. Khái quát về rủi ro thẻ tín dụng

Trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, rủi ro thẻ tín dụng được xem là một dạng rủi ro tín dụng tiêu dùng đặc thù, xuất phát từ các hoạt động liên quan đến phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ tín dụng. Theo Edwand (2014), rủi ro thẻ tín dụng là các tổn thất vật chất hoặc phi vật chất phát sinh trong quá trình kinh doanh thẻ tín dụng, có thể ảnh hưởng đến ba bên: Tổ chức phát hành (thường là NHTM), chủ thẻ và đơn vị chấp nhận thẻ.

Cụ thể, đối với ngân hàng phát hành, rủi ro thể hiện dưới hình thức mất khả năng thu hồi nợ từ chủ thẻ do chi tiêu vượt quá khả năng thanh toán, gian lận thẻ, hoặc sai sót trong khâu thẩm định tín dụng. Đối với chủ thẻ, rủi ro có thể là việc bị lạm dụng thông tin cá nhân, mất kiểm soát tài chính cá nhân, hoặc chịu lãi suất/phí phạt cao nếu thanh toán không đúng hạn. Trong khi đó, các đơn vị chấp nhận thẻ có thể chịu rủi ro từ việc chấp nhận giao dịch giả mạo hoặc không xác thực đúng danh tính chủ thẻ, dẫn đến tranh chấp và mất doanh thu.

Theo Srivastava và Garg (2013), rủi ro thẻ tín dụng liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau như tổ chức phát hành, chủ thẻ và đơn vị chấp nhận thẻ. Rủi ro thẻ tín dụng chủ yếu bao gồm hai loại sau:

Rủi ro tín dụng (Credit Risk): Là rủi ro xuất phát từ phía chủ thẻ tín dụng. Đây là khả năng xảy ra tổn thất do chủ thẻ tín dụng không trả nợ đúng hạn và ngân hàng không có khả năng thu hồi các khoản tạm ứng thấu chi (Chen, 2023).

Rủi ro hoạt động (Operational Risks): Đây là rủi ro của tổn thất phát sinh từ các quy trình nội bộ không đầy đủ hoặc bị lỗi. Điều này cũng có thể phát sinh từ con người và hệ thống hoặc từ các sự kiện bên ngoài (Chen, 2023). Trong đó, rủi ro bảo mật thẻ tín dụng đề cập đến nguy cơ mất mát tài chính hoặc tổn hại uy tín phát sinh từ việc thông tin thẻ tín dụng của khách hàng bị đánh cắp, sử dụng trái phép hoặc khai thác bởi các đối tượng gian lận, đặc biệt trong các giao dịch không hiện diện thẻ. Các rủi ro này chủ yếu xuất hiện trong môi trường thanh toán trực tuyến khi dữ liệu nhạy cảm như số thẻ, mã CVV, ngày hết hạn hoặc thông tin xác thực khác bị truy cập trái phép, lưu trữ không an toàn (Cornish, 2010).

3. Thực trạng rủi ro của thẻ tín dụng tại Việt Nam

3.1. Rủi ro tín dụng của thẻ tín dụng

Giai đoạn 2020 - 2022, đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến thu nhập và khả năng tài chính của người tiêu dùng, đặc biệt là nhóm lao động tự do và thu nhập thấp. Các chương trình khuyến mại như hoàn tiền, trả góp 0% hay miễn phí thường niên được triển khai rộng rãi nhằm thúc đẩy tiêu dùng đã dẫn đến tình trạng mở thẻ ồ ạt mà không đi kèm đánh giá đầy đủ năng lực tài chính của khách hàng. Từ năm 2023 đến nay, thị trường thẻ tín dụng từng bước phục hồi nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt với nhóm khách hàng mới, chưa có lịch sử tín dụng rõ ràng hoặc tiếp cận thẻ thông qua quy trình eKYC đơn giản hóa. Điều này dẫn đến tình trạng các NHTM phát hành thẻ tín dụng vượt quá khả năng chi trả thực tế của khách hàng, gia tăng rủi ro tín dụng của thẻ tín dụng.

3.2. Rủi ro hoạt động của thẻ tín dụng

Trong giai đoạn 2020 - 2022, một số NHTM quy mô nhỏ và công ty tài chính tiêu dùng tại Việt Nam ghi nhận tình trạng sai lệch trong quy trình cấp phát thẻ tín dụng, xuất phát từ lỗ hổng kiểm soát nội bộ. Cụ thể, việc thẩm định hồ sơ vay thiếu nghiêm ngặt (không lưu giữ bản gốc tài liệu chứng minh thu nhập, chỉ duyệt qua ảnh chụp hoặc bản sao) đã tạo điều kiện để khách hàng sử dụng giấy tờ giả hoặc thông đồng với nhân viên bán hàng nhằm hợp thức hóa hồ sơ tín chấp, mở hoặc nâng hạn mức thẻ nhằm chiếm đoạt tài sản ngân hàng (Hải Nam, 2024). Một số vụ việc tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội ghi nhận nhân viên ngân hàng làm giả hồ sơ hoặc nâng khống giá trị tài sản thế chấp để cấp thẻ tín dụng, đặc biệt ở các NHTM nhỏ (Kim Anh, 2023). Sự gia tăng sử dụng thẻ tín dụng trong thương mại điện tử và thanh toán trực tuyến trong đại dịch Covid-19 làm tăng các vụ đánh cắp thông tin thẻ. Theo báo cáo của NHNN, các vụ gian lận liên quan đến mất thẻ hoặc số thẻ bị đánh cắp tăng 25% trong năm 2021. Kẻ gian thường sử dụng số thẻ và mã CVV để thực hiện giao dịch trực tuyến mà không cần thẻ vật lý đặc biệt trên các website thiếu bảo mật.

Từ năm 2023 đến nay, các hình thức gian lận ngày càng tinh vi hơn, bao gồm giao dịch khống qua máy POS để rút tiền mặt hoặc đáo hạn thẻ. Một số trường hợp bị xử phạt vì sử dụng POS cho các giao dịch giả mạo với tổng giá trị lên tới hàng trăm triệu đồng (ANTV, 2024). Bên cạnh đó, nhân viên đơn vị chấp nhận thẻ bỏ qua bước xác minh danh tính, hoặc thông đồng bán thông tin thẻ cho đối tượng bên ngoài. Rủi ro bảo mật trở nên nghiêm trọng hơn do các cuộc tấn công mạng tinh vi. Báo cáo an ninh mạng Viettel ghi nhận 46 vụ lộ lọt dữ liệu cá nhân trong nửa đầu năm 2024, bao gồm thông tin thẻ tín dụng và mã CVV bị đánh cắp qua các website giả mạo hoặc lừa đảo trực tuyến (Viettel, 2024).

3.3. Nguyên nhân phát sinh rủi ro thẻ tín dụng tại Việt Nam

Rủi ro thẻ tín dụng bắt nguồn từ nhiều yếu tố khác nhau như kinh tế vĩ mô, yếu tố nội tại của tổ chức và hành vi người tiêu dùng, cụ thể:

Thứ nhất, do biến động của nền kinh tế

Trong giai đoạn phục hồi sau đại dịch Covid-19, chỉ số giá tiêu dùng năm 2022 tăng 3,15%, năm 2023 là 3,25% và 3,63% năm 2024 (Minh Ngọc, 2023; Cục Thống kê, 2025). Sự gia tăng này phản ánh tác động tổng hợp của nhiều yếu tố như biến động giá nguyên vật liệu đầu vào, thay đổi tỉ giá hối đoái và tình hình kinh tế quốc tế. Trong khi đó, thu nhập của một bộ phận người dân, đặc biệt là lao động tự do và nhóm có thu nhập trung bình chưa cải thiện tương ứng với mức giá tiêu dùng, làm suy giảm sức mua thực tế. Điều này ảnh hưởng đến khả năng thanh toán đúng hạn các khoản tín dụng cá nhân, đặc biệt là dư nợ từ thẻ tín dụng.

Bên cạnh đó, trong giai đoạn 2020 - 2021, đại dịch Covid-19 khiến nhiều ngành, nghề bị đóng cửa hoặc thu hẹp quy mô như du lịch, hàng không, giáo dục tư nhân, dịch vụ ăn uống. Sự suy yếu kinh tế này đã làm gia tăng phụ thuộc vào tín dụng tiêu dùng, dẫn đến dư nợ thẻ tín dụng tăng nhanh nhưng không đi kèm khả năng trả nợ ổn định. Đến năm 2024, dù GDP phục hồi mạnh, đạt 7,09% nhờ xuất khẩu và FDI tăng trưởng, nhưng hệ lụy từ giai đoạn thu nhập giảm sút vẫn kéo dài, khiến tỉ lệ nợ xấu thẻ tín dụng duy trì ở mức cao so với giai đoạn trước dịch (Bảo Ngọc, 2024)

Cũng trong giai đoạn 2020 - 2022, Việt Nam chứng kiến sự gia tăng rõ rệt của tỉ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm. Năm 2022 có gần 1,8 triệu người thất nghiệp (tăng 620.000 người so với cùng kỳ năm trước) (Vũ Long, 2021), trong đó nhiều người thuộc nhóm lao động trẻ cũng chính là nhóm đối tượng sử dụng thẻ tín dụng phổ biến. Năm 2023, tỉ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,28%, giảm 0,06% so với năm 2022 (Cục Thống kê, 2023). Đến năm 2024, tỉ lệ này tiếp tục giảm xuống 2,24%. Tuy nhiên, tỉ lệ thất nghiệp của nhóm thanh niên (15 - 24 tuổi) vẫn ở mức cao, tăng từ 7,63% năm 2023 lên 7,83% năm 2024, đặc biệt ở khu vực thành thị (Nhật Dương, 2025). Nhóm lao động trẻ với tỉ lệ thất nghiệp cao hơn trung bình là đối tượng dễ rơi vào nợ xấu thẻ tín dụng do thu nhập không ổn định.

Thứ hai, do chính sách xét duyệt hạn mức tín dụng còn lỏng lẻo

Sau đại dịch Covid-19, NHNN thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng nhằm phục hồi kinh tế bao gồm hạ lãi suất điều hành và khuyến khích mở rộng tín dụng tiêu dùng, đặc biệt thông qua sản phẩm thẻ tín dụng (Quang Trung, 2020). Bối cảnh này tạo điều kiện để các ngân hàng đẩy mạnh phát hành thẻ nhằm gia tăng thị phần. Đến năm 2024, mặc dù kinh tế toàn cầu phục hồi không đồng đều, NHNN vẫn duy trì chính sách tiền tệ linh hoạt nhằm hỗ trợ tăng trưởng và ổn định vĩ mô. Tuy nhiên, quá trình mở rộng tín dụng diễn ra trong điều kiện xét duyệt hạn mức còn lỏng lẻo, khiến nhiều ngân hàng phát hành thẻ đại trà, kể cả với khách hàng chưa có nhu cầu hoặc năng lực tài chính hạn chế. Thủ tục mở thẻ ngày càng đơn giản hóa thông qua eKYC và ứng dụng ngân hàng số, cho phép người dùng dễ dàng đăng ký chỉ bằng số điện thoại hoặc CCCD mà không qua thẩm định tài chính đầy đủ. Một số trường hợp còn ghi nhận hành vi làm giả hồ sơ hoặc kê khai thu nhập sai lệch để nâng hạn mức (Lệ Chi và Thanh Lan, 2013). Tình trạng này dẫn đến mở rộng tín dụng thiếu kiểm soát, làm gia tăng nguy cơ nợ xấu và rủi ro tín dụng tiêu dùng trong hệ thống ngân hàng (Huyền Anh, 2024).

Thứ ba, do hệ thống bảo mật thanh toán còn nhiều lỗ hổng

Tại Việt Nam, nhiều ngân hàng quy mô nhỏ và công ty tài chính mới thành lập vẫn đối mặt với hạn chế về hạ tầng công nghệ, đặc biệt trong việc tích hợp hệ thống quản trị rủi ro, giám sát giao dịch và phân tích hành vi người dùng. Hạn chế này làm suy giảm khả năng phát hiện sớm bất thường trong thanh toán, từ đó gia tăng nguy cơ gian lận. Năm 2023 và 2024, Việt Nam ghi nhận lần lượt hơn 13.900 và 659.000 vụ tấn công mạng, trong đó các tổ chức tài chính - ngân hàng là mục tiêu chính (Hoàng Thuận, 2024).

Bên cạnh đó, hạ tầng bảo mật tại các website thương mại điện tử và điểm chấp nhận thẻ cũng còn yếu, khi nhiều đơn vị chưa áp dụng tiêu chuẩn PCI DSS (tập hợp các yêu cầu bảo mật bắt buộc dành cho các tổ chức xử lý, lưu trữ hoặc truyền tải dữ liệu thẻ thanh toán hoặc xác thực đa yếu tố). Việc tiếp tục sử dụng các thiết bị thanh toán không hỗ trợ mã hóa hoặc thiếu lớp xác thực bổ sung tạo điều kiện thuận lợi cho hành vi đánh cắp thông tin thẻ và gian lận giao dịch.

Đặc biệt, nhiều nền tảng thương mại điện tử chưa triển khai các giao thức bảo mật nâng cao khiến giao dịch vẫn có thể thực hiện chỉ với thông tin cơ bản của thẻ (số thẻ, ngày hết hạn, mã CVV), từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho hành vi giả mạo và chiếm dụng dữ liệu ngân hàng. Bên cạnh đó, một số đơn vị chấp nhận thanh toán hoặc tổ chức tín dụng vẫn lưu trữ thông tin thẻ trên hệ thống máy chủ không được mã hóa hoặc không đạt chuẩn an toàn, làm gia tăng nguy cơ rò rỉ dữ liệu khi bị tấn công mạng.

Thứ tư, do mức độ hiểu biết về tài chính cá nhân của chủ thẻ tín dụng còn thấp

Mức độ hiểu biết tài chính cá nhân thực tế tại Việt Nam khá thấp đang đặt ra thách thức lớn đối với an toàn tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam. Đặc biệt, giới trẻ tiếp xúc hằng ngày với Internet, công nghệ lại bị bủa vây bởi nạn tín dụng đen, tội phạm tài chính (Nhã An, 2024). Bên cạnh đó, nhiều khách hàng sử dụng thẻ tín dụng với tâm lý “tiêu trước - trả sau” nhưng không có kế hoạch chi tiêu rõ ràng, dẫn đến mất khả năng thanh toán đúng hạn. Thực trạng này phản ánh sự thiếu vắng của giáo dục tài chính cơ bản, đặc biệt trong trường phổ thông và đại học.

Bên cạnh đó, nhiều người sử dụng thẻ tín dụng tại Việt Nam, đặc biệt là nhóm người dùng phổ thông chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về bảo mật thông tin cá nhân và an ninh mạng, khiến họ dễ dàng trở thành mục tiêu của các thủ đoạn lừa đảo tinh vi như giả mạo tin nhắn ngân hàng, email lừa đảo, liên kết giả mạo để đánh cắp thông tin thẻ. Tâm lý chủ quan khiến nhiều người tin rằng ngân hàng đã bảo vệ hoàn toàn các giao dịch, dẫn đến việc bỏ qua xác thực hai yếu tố. Nhiều người sử dụng thẻ tín dụng vẫn thiếu hiểu biết về các phương thức lừa đảo phổ biến như email giả mạo, website lừa đảo hoặc liên kết không an toàn. Nhiều khách hàng có thói quen nhập thông tin thẻ tín dụng vào các trang web không rõ nguồn gốc hoặc nhấn vào liên kết không an toàn. Điều này khiến họ dễ vô tình cung cấp thông tin thẻ tín dụng (số thẻ, CVV, OTP...) cho đối tượng xấu. Đặc biệt, nhóm người dùng lớn tuổi hoặc ít tiếp xúc với công nghệ càng dễ trở thành mục tiêu bị lợi dụng.

4. Giải pháp giảm thiểu rủi ro thẻ tín dụng tại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phát triển, thẻ tín dụng trở thành công cụ tài chính phổ biến, mang lại nhiều tiện ích nhưng cũng tiềm ẩn không ít rủi ro, đặc biệt trong giai đoạn kinh tế có nhiều biến động. Để đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường thẻ tín dụng, cần triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro, bảo vệ người tiêu dùng và duy trì an toàn hệ thống tài chính.

Một là, chủ động ứng phó rủi ro phát sinh từ suy thoái kinh tế

Trước bối cảnh thu nhập thực tế giảm sút khiến áp lực chi tiêu qua thẻ tín dụng ngày càng lớn, NHNN và các NHTM cần triển khai đồng bộ các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng khỏi nguy cơ rơi vào vòng xoáy nợ tín dụng.

Về phía NHNN, cần tăng cường giám sát tín dụng tiêu dùng, đặc biệt là kiểm soát chặt chẽ hạn mức tín dụng của từng nhóm thu nhập nhằm ngăn chặn tình trạng dư nợ thẻ tín dụng tăng quá nhanh so với khả năng tài chính thực tế. Đồng thời, NHNN có thể ban hành chính sách khoanh nợ, giãn nợ hoặc cơ cấu lại thời hạn thanh toán đối với các trường hợp bị ảnh hưởng trực tiếp từ suy thoái kinh tế, như người lao động mất việc hoặc giảm thu nhập đáng kể. Ngoài ra, cần thiết lập cơ chế cập nhật thường xuyên thông tin việc làm thông qua việc kết nối dữ liệu giữa Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) với cơ quan bảo hiểm xã hội và cơ quan thuế, giúp các tổ chức tín dụng đánh giá chính xác khả năng mất thu nhập của khách hàng.

Về phía các NHTM, nên áp dụng cơ chế lãi suất linh hoạt dựa trên mức thu nhập và lịch sử tín dụng của khách hàng, giúp giảm áp lực trả nợ và nâng cao khả năng quản lý rủi ro. Bên cạnh đó, thiết kế sản phẩm thẻ tín dụng linh hoạt hơn, bao gồm việc kéo dài thời gian ân hạn và điều chỉnh mức thanh toán tối thiểu phù hợp với khách hàng có thu nhập không ổn định. Ngoài ra, việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm dựa trên phân tích dữ liệu và công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) là cần thiết để các NHTM có thể phát hiện kịp thời hành vi tài chính bất thường, từ đó chủ động gửi cảnh báo cho khách hàng về nguy cơ rơi vào vòng xoáy nợ, giúp họ điều chỉnh hành vi chi tiêu trước khi phát sinh rủi ro nghiêm trọng.

Hai là, quy định chặt chẽ về chính sách xét duyệt hạn mức thẻ tín dụng

Để hạn chế rủi ro tín dụng thẻ, NHNN và các NHTM cần đồng bộ triển khai các biện pháp kiểm soát ngay từ khâu phát hành thẻ. Trước hết, yêu cầu thẩm định hồ sơ trước khi cấp thẻ cần được siết chặt, đặc biệt trong bối cảnh nới lỏng chính sách hỗ trợ tiêu dùng. Các NHTM cần đảm bảo người đăng ký thẻ có nguồn thu nhập ổn định, được xác minh qua CIC và thực hiện quy trình kiểm tra chéo để hạn chế phát hành thẻ cho các trường hợp có lịch sử tín dụng không lành mạnh. Đồng thời, NHNN cần ban hành cơ chế hậu kiểm định kỳ đối với quy trình cấp thẻ của các tổ chức phát hành có tỉ lệ nợ xấu cao, nhằm đảm bảo tuân thủ quy trình tín dụng và sàng lọc rủi ro hiệu quả. Ngoài ra, trách nhiệm kiểm soát rủi ro cần được quy định rõ ràng: Các NHTM phải chịu trách nhiệm nếu tỉ lệ nợ xấu gia tăng có nguyên nhân từ việc mở rộng tín dụng không tuân thủ quy trình thẩm định và phê duyệt. Việc xác lập cơ chế trách nhiệm rõ ràng không chỉ giúp củng cố kỷ luật tín dụng mà còn góp phần ổn định hệ thống tài chính - ngân hàng trong dài hạn.

Ngoài ra, các NHTM cần ưu tiên chuẩn hóa quy trình phê duyệt thẻ tín dụng dựa trên các bộ tiêu chuẩn quốc gia, nhằm hạn chế sự phụ thuộc vào đánh giá cảm tính của nhân viên tín dụng và đảm bảo tính nhất quán trong toàn hệ thống. Đồng thời, việc xây dựng chương trình đào tạo nội bộ chuyên sâu và định kỳ về quản lý rủi ro thẻ tín dụng là cần thiết, đặc biệt nhấn mạnh vào nhận diện rủi ro đạo đức và các yếu tố kỹ thuật liên quan đến gian lận trong môi trường số. Việc kết hợp giữa tiêu chuẩn hóa quy trình và nâng cao năng lực con người sẽ tạo nền tảng bền vững cho hoạt động phát hành và quản lý thẻ tín dụng, giảm thiểu nguy cơ nợ xấu và tăng cường sự ổn định cho hệ thống tài chính ngân hàng.

Ba là, tăng cường an ninh mạng và bảo mật thanh toán trong hoạt động thẻ tín dụng

Trong bối cảnh thanh toán thẻ tín dụng diễn ra ngày càng phổ biến trên môi trường số, yêu cầu đảm bảo an toàn hệ thống trở nên cấp thiết nhằm bảo vệ cả người tiêu dùng lẫn tổ chức phát hành trước các rủi ro như gian lận tài chính, rò rỉ thông tin và tấn công mạng. Hệ thống bảo mật công nghệ cao vì vậy cần đóng vai trò như tuyến phòng thủ cuối cùng, bảo vệ tính toàn vẹn và uy tín của hệ thống tài chính. Trước thực tiễn đó, NHNN và NHTM cần đồng bộ triển khai các biện pháp như đầu tư vào hệ thống phát hiện gian lận theo thời gian thực dựa trên trí tuệ nhân tạo và học máy; áp dụng các chuẩn bảo mật quốc tế trong lưu trữ và xử lý dữ liệu thẻ; thiết lập trung tâm cảnh báo an ninh mạng ngành tài chính nhằm đảm bảo liên thông và phản ứng nhanh với các sự cố; chuẩn hóa quy trình xác thực giao dịch nhằm loại bỏ các giao dịch trực tuyến không có bước xác minh bổ sung; đồng thời, hoàn thiện khung pháp lý với chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với các đơn vị không tuân thủ quy định bảo mật. Những nỗ lực này không chỉ góp phần giảm thiểu rủi ro kỹ thuật mà còn nâng cao niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm thẻ tín dụng trong nền kinh tế số.

Bốn là, nâng cao hiểu biết tài chính cộng đồng

Thiếu hụt kiến thức tài chính cá nhân và kỹ năng bảo mật thông tin là một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến hành vi sử dụng thẻ tín dụng thiếu kiểm soát, từ đó làm gia tăng rủi ro tài chính cho cả người dùng và hệ thống ngân hàng. Để tăng cường năng lực phòng vệ cho người tiêu dùng và giảm thiểu rủi ro thẻ tín dụng, NHNN cần triển khai các giải pháp đồng bộ. Trước hết, cần lồng ghép giáo dục tài chính cá nhân vào chương trình đào tạo phổ thông và đại học. Đồng thời, NHNN nên phối hợp với các tổ chức đào tạo để phát triển nền tảng học tập trực tuyến miễn phí, ưu tiên nhóm đối tượng trong độ tuổi 18 - 35, vốn là nhóm sử dụng thẻ tín dụng phổ biến nhất hiện nay. Về mặt an toàn thông tin, cần tăng cường phổ cập kỹ năng bảo mật cá nhân thông qua các kênh như SMS, email hoặc ứng dụng ngân hàng, giúp người dùng nhận biết và phòng tránh các hành vi lừa đảo. Ngoài ra, việc phối hợp với các nền tảng mạng xã hội và công ty viễn thông để phát đi cảnh báo về các hình thức giả mạo mới trong thanh toán thẻ cũng sẽ góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu rủi ro phát sinh từ thiếu hiểu biết và sơ suất trong hành vi người dùng. Những giải pháp này không chỉ hỗ trợ cá nhân trong việc sử dụng thẻ một cách an toàn mà còn nâng cao tính bền vững và ổn định cho thị trường tín dụng tiêu dùng.

4. Kết luận

Trong bối cảnh kinh tế thế giới và Việt Nam đang đối mặt với nhiều biến động khó lường, cùng với quá trình chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, rủi ro liên quan đến thẻ tín dụng ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn. Để hướng tới sự phát triển an toàn và bền vững của thị trường thẻ tín dụng, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa NHNN, các NHTM và người tiêu dùng trong việc quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro thẻ tín dụng. Việc kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới công nghệ, quản trị rủi ro chủ động và nâng cao nhận thức người tiêu dùng sẽ là nền tảng quan trọng giúp thị trường thẻ tín dụng Việt Nam phát triển an toàn, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và củng cố niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng trong kỷ nguyên số.

Tài liệu tham khảo

1. Cornish, M., Delpha, K., & Erslont, M. (2010), Master Card International Security & Risk Management: Credit card fraud, Journal for Risk Management

2. Chen, R. (2023), Risk Analysis and Preventive Measures for Credit Card Business of Commercial Banks, Transactions on Economics, Business and Management Research, 1, pages 160-168. https://wepub.org/index.php/TEBMR/article/view/129/126

3. Edwand WReed (2014), Ngân hàng thương mại, Hà Nội, NXB Thống kê.

4. Srivastava, S., & Garg, A. (2013), Data mining for credit card risk analysis: A Review, International Journal of Computer Science, 3(2), pages 193-200.

5. Cục Thống kê (2023, 2024, 2025), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2022, 2023, 2024.

6. ANTV (2024), Rủi ro rút tiền hoặc đáo hạn thẻ tín dụng qua máy POS, https://antv.gov.vn/kinh-te-5/rui-ro-rut-tien-hoac-dao-han-the-tin-dung-qua-may-pos-666E5A985.html

7. Anh Nhi (2021), Kinh tế quý III/2021 giảm sâu, tăng trưởng GDP âm 6,17%, https://vneconomy.vn/kinh-te-quy-3-2021-giam-sau-tang-truong-gdp-am-6-17.htm

8. Anh Tú (2024), Nợ xấu gia tăng, “bộ đệm” mỏng về đáy 6 năm, https://thoibaotaichinhvietnam.vn/no-xau-gia-tang-bo-dem-mong-ve-day-6-nam-164141-164141.html

9. Bảo Ngọc (2024), Tín dụng tiêu dùng đang “gặp khó”, https://tapchitaichinh.vn/tin-dung-tieu-dung-dang-gap-kho.html

10. Hải Nam (2024), Lỗ hổng xét duyệt hồ sơ vay tiền, mở thẻ tín dụng khiến nhà băng mất tiền, https://dantri.com.vn/phap-luat/lo-hong-xet-duyet-ho-so-vay-tien-mo-the-tin-dung-khien-nha-bang-mat-tien-20241117123759228.htm

11. Hoàng Thuận (2024), Gần 14.000 vụ tấn công mạng nhắm vào các hệ thống tại Việt Nam trong năm 2023, https://qltt.vn/gan-14000-vu-tan-cong-mang-nham-vao-cac-he-thong-tai-viet-nam-trong-nam-2023-99103.html

12. Kim Anh (2023), Phạt tù cựu nhân viên ngân hàng làm giả hồ sơ mở thẻ tín dụng, https://chinhsachcuocsong.vnanet.vn/phat-tu-cuu-nhan-vien-ngan-hang-lam-gia-ho-so-mo-the-tin-dung/15834.html

13. L.C. (2022), Gian lận giao dịch điện tử và thẻ tín dụng ngày càng gia tăng, https://thitruongtaichinhtiente.vn/gian-lan-giao-dich-dien-tu-va-the-tin-dung-ngay-cang-gia-tang-40424.html

14. Lệ Chi & Thanh Lan (2013), Ngân hàng dễ dãi mở thẻ tín dụng, https://baovephapluat.vn/kinh-te/tai-chinh-ngan-hang/ngan-hang-de-dai-mo-the-tin-dung-20763.html

15. Minh Ngọc (2023), Năm 2023: CPI tăng 3,25%, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra, https://baochinhphu.vn/nam-2023-cpi-tang-325-dat-muc-tieu-quoc-hoi-de-ra-102231229102833236.htm

16. Nhã An (2024), Chỉ 30% người Việt Nam trưởng thành hiểu biết về tài chính, https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/chi-30-nguoi-viet-nam-truong-thanh-hieu-biet-ve-tai-chinh-post354708.html

17. Nhật Dương (2025), Số người thất nghiệp giảm 14 nghìn người, https://vneconomy.vn/so-nguoi-that-nghiep-giam-14-nghin-nguoi.htm

18. Huyền Anh (2024), Dễ dãi mở thẻ tín dụng, khách hàng 'lãnh đủ', https://vnbusiness.vn/ngan-hang/de-dai-mo-the-tin-dung-khach-hang-lanh-du-1098837.html

19. Tạp chí Ngân hàng (2024), Tiềm năng phát triển của thẻ tín dụng trong bối cảnh chuyển đổi số, đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, https://tapchinganhang.gov.vn/tiem-nang-phat-trien-cua-the-tin-dung-trong-boi-canh-chuyen-doi-so-day-manh-thanh-toan-khong-dung-tien-mat-1075.html

20. Viettel (2024), Viettel công bố Báo cáo tình hình An ninh mạng tại Việt Nam năm 2024, https://viettel.com.vn/vi/tin-tuc-va-su-kien/tin-tuc/viettel-cong-bo-bao-cao-tinh-hinh-an-ninh-mang-tai-viet-nam-nam-2024/

21. Vũ Long (2021), Quý 3/2021: 1,8 triệu người thất nghiệp, thiếu việc, cao nhất trong 10 năm, https://laodong.vn/kinh-doanh/quy-32021-18-trieu-nguoi-that-nghiep-thieu-viec-cao-nhat-trong-10-nam-962755.ldo

Đỗ Thị Hà Thương, Trần Ân Nguyên
Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh

Tin bài khác

Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu của ngành Ngân hàng, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đang khẳng định vai trò hạt nhân trong việc kết nối, phát triển nền tảng số dùng chung và hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nâng cao năng lực quản trị, mở rộng dịch vụ tài chính số, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển bền vững khu vực kinh tế hợp tác.
Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Ngày 03/7/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức Hội nghị Sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị nhằm sơ kết, đánh giá những kết quả trong điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời nhận diện những cơ hội, thách thức, khó khăn, đề ra giải pháp, định hướng thời gian tới. Thống đốc Phạm Đức Ấn và Ban Lãnh đạo NHNN điều hành Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có lãnh đạo các đơn vị Vụ, Cục thuộc NHNN, lãnh đạo các tổ chức, Hiệp hội trong Ngành, các tổ chức tín dụng (TCTD) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới điểm cầu NHNN chi nhánh các khu vực.
Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Những tháng đầu năm 2026, nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng, thúc đẩy tín dụng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ngành Ngân hàng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp và đạt được những kết quả tích cực. Tính đến ngày 29/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 20 triệu tỉ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025. Về cơ bản, cơ cấu tín dụng theo đúng định hướng, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong đó cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế. Vốn tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
Ngân hàng Phong cách sống: Phân tích so sánh các mô hình toàn cầu và hàm ý chiến lược cho thị trường Việt Nam

Ngân hàng Phong cách sống: Phân tích so sánh các mô hình toàn cầu và hàm ý chiến lược cho thị trường Việt Nam

Bài viết phân tích sự chuyển dịch của ngành Ngân hàng từ mô hình cung cấp sản phẩm sang xây dựng hệ sinh thái số gắn với phong cách sống, làm rõ các mô hình tiêu biểu trên thế giới và đề xuất những hàm ý chiến lược giúp ngân hàng thương mại Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.
Xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững tại Việt Nam

Xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững tại Việt Nam

Bài viết đề xuất bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững gồm 06 trụ cột và 18 chỉ tiêu thành phần, góp phần cung cấp công cụ đo lường toàn diện phục vụ chuyển đổi số ngành Ngân hàng theo hướng an toàn và bền vững.
Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giám sát ngân hàng thông qua trắc lượng thư mục bằng phần mềm VOSviewer

Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giám sát ngân hàng thông qua trắc lượng thư mục bằng phần mềm VOSviewer

Bài viết này sử dụng phương pháp trắc lượng thư mục với công cụ VOSviewer 1.6.20 để tổng quan và phân tích về hoạt động giám sát ngân hàng giai đoạn 2010 - 2025, qua đó làm rõ xu hướng phát triển, các chủ đề nghiên cứu trọng tâm và mạng lưới học thuật quốc tế trong lĩnh vực này.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ  ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích yêu cầu phát triển hệ sinh thái ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC). Dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính, bài viết lập luận rằng dịch vụ ngân hàng tại IFC cần chuyển từ tư duy sản phẩm đơn lẻ sang hệ sinh thái tích hợp xuyên suốt hành trình nhà đầu tư. Khung phân tích chỉ ra năng lực cạnh tranh của IFC là kết quả đầu ra của hệ sinh thái gồm sản phẩm, công nghệ, dữ liệu, pháp lý và quản trị rủi ro. Đánh giá bối cảnh Việt Nam cho thấy cơ hội lớn nhưng vẫn tồn tại điểm nghẽn về định danh xuyên biên giới, chuẩn hóa dữ liệu, giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) và rủi ro bên thứ ba. Từ đó, bài viết đề xuất lộ trình chính sách ba giai đoạn nhằm phát triển hạ tầng tài chính số an toàn, minh bạch, góp phần nâng cao năng lực hội nhập tài chính toàn cầu của Việt Nam.
Xem thêm
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam