Hưởng ứng Ngày Tiết kiệm Thế giới (31/10)

Đẩy mạnh tiết kiệm, đầu tư để phát triển bền vững

Thị trường tài chính
Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính, việc tiết kiệm trong nước gắn liền với khả năng chống chịu trước rủi ro chu kỳ vốn quốc tế. Khi dòng vốn nước ngoài suy giảm do biến động địa chính trị hoặc thắt chặt tiền tệ ở các nền kinh tế lớn, quốc gia có tỉ lệ tiết kiệm nội địa cao sẽ có khả năng duy trì đầu tư ổn định.
aa

Ngày Tiết kiệm Thế giới được khởi nguồn năm 1924 tại Milan, trong bối cảnh châu Âu tìm cách khôi phục niềm tin vào hệ thống tài chính sau chiến tranh. Mục tiêu ban đầu là khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng thay vì cất giữ tại nhà nhằm bảo đảm an toàn tài chính cá nhân và huy động vốn cho phát triển kinh tế. Qua hơn một thế kỷ, ý nghĩa của Ngày Tiết kiệm Thế giới đã mở rộng sang giáo dục tài chính, quản lý chi tiêu, đầu tư và xây dựng thói quen tiết kiệm bền vững trong cộng đồng. Các tổ chức tài chính quốc tế xem tiết kiệm không chỉ là hành vi cá nhân mà còn là nền tảng sức mạnh của toàn bộ nền kinh tế. Mức tiết kiệm cao hỗ trợ ổn định tỉ giá, duy trì thanh khoản hệ thống ngân hàng, giảm phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài, và tạo điều kiện cho đầu tư dài hạn.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Học tập kinh nghiệm từ chính sách khuyến khích tiết kiệm của các quốc gia trên thế giới

Ngày Tiết kiệm Thế giới là công cụ nâng cao nhận thức cộng đồng về tài chính cá nhân, đặc biệt trong kỷ nguyên số khi hành vi tiêu dùng thay đổi nhanh chóng. Phát triển của ngân hàng số, ví điện tử, và nền tảng thanh toán di động làm gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ tài chính, đặt ra thách thức mới về quản lý chi tiêu, kiểm soát nợ tiêu dùng, và duy trì kỷ luật tài chính.

Các cơ quan quản lý tài chính quốc tế khuyến nghị các quốc gia lồng ghép giáo dục tài chính vào chương trình học phổ thông để hình thành nhận thức tiết kiệm từ sớm. Khái niệm tiết kiệm mở rộng từ phạm vi hộ gia đình sang khu vực doanh nghiệp, chính phủ, và hệ thống ngân hàng. Tích lũy vốn trong nước giúp nền kinh tế tránh được biến động toàn cầu, tạo dư địa chính sách khi xảy ra khủng hoảng tài chính. Nhiều quốc gia phát triển áp dụng chính sách khuyến khích tiết kiệm thông qua ưu đãi thuế, chương trình hưu trí cá nhân, và sản phẩm tài chính sinh lợi an toàn. Các nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho thấy tỉ lệ tiết kiệm quốc gia có tương quan chặt chẽ với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người. Những nền kinh tế có tỉ lệ tiết kiệm trên 25% GDP thường đạt tốc độ tăng trưởng ổn định trong dài hạn. Các quốc gia có mức tiết kiệm thấp dễ đối mặt với thâm hụt ngân sách, nợ công gia tăng, và phụ thuộc lớn vào dòng vốn nước ngoài (IMF, 2025).

Kinh nghiệm từ Hàn Quốc cho thấy, tỉ lệ tiết kiệm cao có thể trở thành động lực then chốt cho phát triển công nghiệp. Trong giai đoạn 1960 - 1990, tỉ lệ tiết kiệm của Hàn Quốc tăng từ 5% lên hơn 35% GDP, cho phép Hàn Quốc đầu tư mạnh mẽ vào công nghiệp nặng, hạ tầng và giáo dục, đưa nền kinh tế quốc gia này thoát khỏi nhóm thu nhập thấp. Chính phủ Hàn Quốc từng thực hiện chương trình “National Savings Campaign” kết hợp giữa khuyến khích tiết kiệm cá nhân và kiểm soát chi tiêu công, tạo ra một văn hóa tiết kiệm gắn liền với tinh thần quốc gia. Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm này trong việc tạo ra động lực tiết kiệm gắn với mục tiêu phát triển xanh và bao trùm.

Yếu tố lãi suất đóng vai trò điều tiết quan trọng đối với quyết định tiết kiệm của người dân. Khi lãi suất thực mức dương, người dân có xu hướng gia tăng gửi tiết kiệm để bảo toàn và gia tăng giá trị tài sản. Việc cân đối giữa mục tiêu tăng trưởng tín dụng và khuyến khích tiết kiệm luôn là thách thức đối với điều hành chính sách tiền tệ. Khi lãi suất giảm quá thấp, dòng vốn có thể dịch chuyển sang các kênh đầu cơ như bất động sản hoặc vàng, tiềm ẩn nguy cơ hình thành bong bóng tài sản, trong khi mức tiết kiệm dài hạn giảm sút.

Giai đoạn 2020 - 2023, tiết kiệm khu vực doanh nghiệp tư nhân chỉ chiếm khoảng 12% GDP, thấp hơn đáng kể so với mức 20% của khu vực hộ gia đình. Nguyên nhân chủ yếu do năng suất lao động còn thấp, chi phí vốn cao và quy mô nhỏ khiến doanh nghiệp khó tích lũy nội lực để tái đầu tư. Khi doanh nghiệp không thể tạo ra đủ tiết kiệm, nền kinh tế phải dựa nhiều vào nguồn tiết kiệm hộ gia đình để duy trì đầu tư, gây áp lực lên hệ thống tài chính trung gian. Do đó, việc tăng cường chính sách thuế và tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ góp phần thúc đẩy tích lũy vốn sản xuất, từ đó mở rộng quy mô tiết kiệm tổng thể của nền kinh tế.

Từ góc độ môi trường, khái niệm tiết kiệm không chỉ giới hạn trong lĩnh vực tiền tệ mà còn mở rộng sang tiết kiệm năng lượng và tài nguyên. Trong Chiến lược tăng trưởng xanh, Việt Nam đặt mục tiêu giảm cường độ năng lượng từ 0 -1,5% mỗi năm. Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) nhận định rằng, nếu Việt Nam cải thiện hiệu quả năng lượng tương đương mức trung bình của OECD, lượng tiết kiệm có thể giúp giảm chi phí nhập khẩu nhiên liệu khoảng 3 tỉ USD mỗi năm. Việc thúc đẩy tiết kiệm năng lượng không chỉ giảm áp lực ngân sách mà còn góp phần thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, phù hợp xu thế phát triển bền vững toàn cầu.

Ở phạm vi toàn cầu, Ngày Tiết kiệm Thế giới giữ vai trò nền tảng trong giáo dục tài chính. Tại Đức, hệ thống Sparkassen (ngân hàng tiết kiệm công) duy trì nhiều chương trình khuyến khích tiết kiệm học đường, mở sổ tiết kiệm cho học sinh ngay từ tiểu học. Tại Nhật Bản, ngày 31/10 được lồng ghép trong Tuần lễ Tiết kiệm Quốc gia, nhấn mạnh tích lũy tài chính để phòng, chống thiên tai và đảm bảo an sinh khi về già. Những kinh nghiệm này cho thấy tiết kiệm không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là một giá trị văn hóa, thể hiện tinh thần, trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với tương lai gia đình và xã hội. Việt Nam có thể kế thừa và sáng tạo trên nền tảng các mô hình quốc tế để xây dựng văn hóa tiết kiệm gắn với mục tiêu phát triển con người và củng cố an ninh tài chính quốc gia.

Sự lan tỏa của Ngày Tiết kiệm Thế giới tại Việt Nam góp phần khơi dậy nhận thức cộng đồng về giá trị tích lũy cho tương lai. Trong tháng 10 hằng năm, hệ thống ngân hàng triển khai nhiều chương trình truyền thông với thông điệp “Tiết kiệm hôm nay - Thịnh vượng tương lai”, hướng đến đối tượng học sinh, sinh viên và người lao động trẻ nhằm hình thành thói quen tiết kiệm từ sớm.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, hành vi tiết kiệm của người dân đang thay đổi mạnh mẽ. Sự phát triển của ngân hàng số, ví điện tử và các ứng dụng tài chính cá nhân đã mở rộng đáng kể khả năng tiếp cận dịch vụ tiết kiệm cho hàng chục triệu người dân. Đến giữa năm 2024, Việt Nam đã có khoảng 182 triệu tài khoản thanh toán điện tử, gấp gần ba lần dân số, cho thấy mức độ phổ cập sâu rộng của công nghệ tài chính. Khi việc gửi tiết kiệm trở nên thuận tiện, minh bạch và linh hoạt hơn, khả năng huy động vốn từ khu vực dân cư sẽ tăng mạnh.

Ứng dụng phân tích dữ liệu lớn giúp các ngân hàng phát triển sản phẩm tiết kiệm phù hợp từng nhóm khách hàng, thúc đẩy tích lũy dài hạn thông qua cơ chế lãi suất thưởng hoặc quà tặng gắn với đầu tư xanh. Tuy nhiên, bất bình đẳng thu nhập vẫn là rào cản đáng kể. Năm 2022, thu nhập của nhóm 20% giàu nhất tại Việt Nam cao gấp khoảng 8,3 lần nhóm 20% nghèo nhất. Khả năng tiết kiệm hạn chế khiến nhóm thu nhập thấp dễ rơi vào tình trạng nghèo hóa khi gặp biến cố kinh tế.

Chính sách tiết kiệm vi mô hướng đến người nghèo, như các sản phẩm “tiết kiệm linh hoạt” hoặc “tiết kiệm theo nhóm” đã góp phần cải thiện khả năng chống chịu của hộ gia đình yếu thế. Các mô hình tại Ấn Độ và Philippines cho thấy tiết kiệm vi mô có thể tăng thu nhập hộ nghèo 20 - 30% sau ba năm tham gia, đồng thời nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng nhỏ. Việt Nam đang tiếp tục mở rộng mô hình này thông qua hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và hợp tác xã tài chính ở khu vực nông thôn.

Trên bình diện vĩ mô, mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư được phản ánh rõ trong cân đối tài khoản quốc gia. Khi tiết kiệm trong nước thấp hơn đầu tư, nền kinh tế phải bù đắp bằng nguồn vốn vay nước ngoài, tạo ra thâm hụt tài khoản vãng lai. Năm 2023, Việt Nam ghi nhận thặng dư tài khoản vãng lai khoảng 1,7% GDP nhờ xuất khẩu hàng hóa tăng và tiết kiệm hộ gia đình ổn định. Thặng dư này góp phần củng cố dự trữ ngoại hối đạt 110 tỉ USD vào năm 2022, tương đương hơn 3,5 tháng nhập khẩu, tạo dư địa cho chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt. Điều này cho thấy tiết kiệm không chỉ mang ý nghĩa cá nhân mà còn là nền tảng cho ổn định cán cân thanh toán quốc gia, giảm phụ thuộc vào biến động bên ngoài.

Về dài hạn, nâng cao tỉ lệ tiết kiệm hiệu quả cần song hành với cải thiện môi trường đầu tư. Khi nền kinh tế có cơ hội sinh lời cao, người dân sẽ sẵn sàng tiết kiệm nhiều hơn để đầu tư. Các biện pháp như phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp minh bạch, mở rộng quỹ hưu trí tự nguyện, và đa dạng hóa sản phẩm tiết kiệm xanh sẽ giúp chuyển hóa nguồn tiền nhàn rỗi thành động lực tăng trưởng bền vững. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đang nghiên cứu phát triển sản phẩm “trái phiếu tiết kiệm xanh” hướng đến cá nhân, cho phép người dân đầu tư vào dự án năng lượng tái tạo hoặc xử lý chất thải, đồng thời hưởng lãi suất ổn định. Việc kết hợp tiết kiệm với phát triển bền vững có thể tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực, củng cố an ninh tài chính và góp phần giảm phát thải carbon.

Tầm quan trọng của tiết kiệm càng thể hiện rõ trong bối cảnh khủng hoảng. Đại dịch Covid-19 giai đoạn 2020 - 2021 cho thấy các hộ gia đình có dự phòng tiết kiệm ít nhất tương đương ba tháng thu nhập có khả năng duy trì ổn định chi tiêu cao hơn 45% so với nhóm không có tiết kiệm. Ở cấp quốc gia, các nước có tỉ lệ tiết kiệm cao như Singapore, Thái Lan hay Malaysia phục hồi nhanh hơn sau đại dịch nhờ có nguồn lực tài chính nội địa đủ mạnh để triển khai các gói hỗ trợ kinh tế. Điều này khẳng định vai trò của tiết kiệm như một “lá chắn tài chính”, giúp xã hội ứng phó hiệu quả với các cú sốc kinh tế cũng như thiên tai.

Từ góc độ phát triển bền vững, tiết kiệm hướng tới tương lai xanh là xu hướng tất yếu. Khi người dân gửi tiền vào các sản phẩm tiết kiệm xanh, dòng vốn sẽ chảy vào các dự án năng lượng sạch, giao thông công cộng, và sản xuất thân thiện môi trường. Nhiều quốc gia đã tích hợp tiêu chí môi trường vào chính sách huy động vốn tiết kiệm; điển hình như Đức phát hành trái phiếu tiết kiệm xanh từ năm 2020, huy động hơn 6 tỉ Euro cho các dự án khí hậu. Việt Nam cũng đang từng bước áp dụng thông lệ này trong khuôn khổ Chiến lược Tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050, với kỳ vọng xây dựng cơ chế huy động vốn cộng đồng phục vụ chuyển đổi năng lượng và bảo tồn tài nguyên.

Huy động tiết kiệm, đầu tư phát triển để phát triển bền vững ở Việt Nam

Ngày Tiết kiệm Thế giới tại Việt Nam được tận dụng như một cơ hội thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt. Sự kiện “Ngày Thẻ Việt Nam” khuyến khích người tiêu dùng trải nghiệm thanh toán điện tử, góp phần nâng cao niềm tin vào dịch vụ ngân hàng số. Triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 được ban hành kèm theo Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 22/10/2020 của Thủ tướng Chính phủ, Việt Nam đặt mục tiêu mở rộng dịch vụ tài chính cơ bản tới tất cả các xã, phường trên toàn quốc. Hệ thống ngân hàng không ngừng phát triển các ứng dụng thanh toán, ngân hàng trực tuyến, ví điện tử và dịch vụ gửi tiết kiệm số nhằm giảm chi phí giao dịch và nâng cao hiệu quả quản lý tài chính.

Tỉ lệ tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán giảm từ 12,8% năm 2021 xuống còn 10% năm 2024, thể hiện xu hướng dịch chuyển rõ rệt sang thanh toán điện tử. Đồng thời, tỉ lệ tín dụng trên GDP tăng từ 124,3% năm 2021 lên 136,4% năm 2024, dự kiến đạt 147,5% năm 2026, minh chứng vai trò to lớn của hệ thống tiết kiệm trong huy động và phân bổ vốn cho nền kinh tế. Các ngân hàng thương mại nhà nước chiếm khoảng 40% tổng tín dụng, trong khi khu vực ngân hàng tư nhân mở rộng thị phần thông qua các sản phẩm tiết kiệm linh hoạt. Dòng vốn trở thành nguồn lực quan trọng cho đầu tư cơ sở hạ tầng, chuyển đổi năng lượng, và phát triển doanh nghiệp nhỏ.

Song song với phát triển quy mô, hệ thống ngân hàng Việt Nam đang bước vào giai đoạn tái cơ cấu mạnh mẽ nhằm hướng đến chuẩn mực an toàn quốc tế. Tỉ lệ an toàn vốn (CAR) tăng nhẹ lên 10,4% đối với ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước và 12,1% với ngân hàng tư nhân, song vẫn thấp hơn trung bình khu vực. Trong khi đó, tỉ lệ cho vay trên tiền gửi vượt 100%, cho thấy áp lực thanh khoản gia tăng. Tỉ lệ tài sản có tính thanh khoản chỉ chiếm 7,8% tổng tài sản tính đến giữa năm 2024. Những con số này cho thấy hệ thống tiết kiệm vẫn phải đối mặt với thách thức trong cân đối nguồn vốn ngắn hạn và nhu cầu tín dụng dài hạn (IMF, 2024).

Ở Việt Nam, ý nghĩa của Ngày Tiết kiệm Thế giới được gắn với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững, huy động nguồn lực xã hội, và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng. Việt Nam tổ chức nhiều chiến dịch truyền thông, hội thảo và chương trình giáo dục cộng đồng nhằm lan tỏa thông điệp tiết kiệm. Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại triển khai gói khuyến khích mở sổ tiết kiệm, tặng ưu đãi cho khách hàng mới, hoặc hỗ trợ mở tài khoản số cho người dân ở vùng nông thôn. Mục tiêu chung nhằm thúc đẩy người dân chuyển tiền nhàn rỗi vào hệ thống tài chính, qua đó tăng khả năng huy động vốn nội địa, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng mở rộng tín dụng sản xuất, tài trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, và đóng góp cho tăng trưởng GDP. Dữ liệu của NHNN cho thấy tổng phương tiện thanh toán (M2) tăng đều qua các năm, từ 13.402 nghìn tỉ đồng năm 2021 lên 17.915 nghìn tỉ đồng năm 2024 và dự kiến đạt 22.460 nghìn tỉ đồng năm 2026. Tốc độ tăng trưởng M2 duy trì quanh mức 12% mỗi năm, phản ánh dòng tiền tiết kiệm vẫn tăng ổn định bất chấp biến động kinh tế toàn cầu. Tỉ lệ tín dụng so với tiền gửi đạt 96,4% năm 2024, cho thấy phần lớn nguồn vốn huy động được chuyển hóa thành tín dụng cho nền kinh tế. Dòng vốn tiết kiệm của hộ gia đình và khu vực tư nhân đóng vai trò chủ đạo trong cấu trúc tài chính quốc gia, giúp Việt Nam duy trì ổn định vĩ mô, hạn chế rủi ro phụ thuộc vào nguồn vay nước ngoài, và tạo điều kiện kiểm soát nợ công ở mức an toàn.

Tiết kiệm mang ý nghĩa xã hội sâu sắc khi góp phần hình thành văn hóa tài chính có trách nhiệm. Tại nhiều địa phương, chương trình “Tuần hưởng ứng Ngày Tiết kiệm Thế giới” được tổ chức để tuyên truyền kiến thức quản lý chi tiêu, lập kế hoạch tài chính gia đình, và hướng dẫn sử dụng dịch vụ ngân hàng số. Nhiều trường đại học phối hợp tổ chức cuộc thi về tài chính cá nhân, giúp sinh viên tiếp cận kỹ năng tiết kiệm và đầu tư cơ bản. NHNN khuyến khích phát triển tài khoản thanh toán cá nhân, đặt mục tiêu năm 2025 có ít nhất 80% người trưởng thành sở hữu tài khoản ngân hàng. Mở rộng bao trùm tài chính hỗ trợ người dân vùng sâu, vùng xa tiếp cận vốn vay chính thức, giảm tình trạng tín dụng đen và thúc đẩy tiêu dùng hợp lý. Cùng với đó, Việt Nam cần tiếp tục củng cố niềm tin vào hệ thống tiết kiệm bằng cách duy trì ổn định lãi suất, tăng cường minh bạch thông tin và cải thiện quản trị rủi ro. Việc NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ theo hướng linh hoạt, lấy mục tiêu kiểm soát lạm phát làm trung tâm, được xem là bước quan trọng để bảo đảm giá trị tiền gửi của người dân. Hệ thống tiết kiệm hoạt động hiệu quả khi người gửi tin tưởng rằng giá trị tiền tệ sẽ không bị xói mòn bởi biến động giá cả. Chính vì vậy, các biện pháp cải thiện khả năng dự báo, công khai điều chỉnh lãi suất, và thiết lập hành lang lãi suất chuẩn trở nên cấp thiết. Tiết kiệm đóng vai trò trung gian giữa tiêu dùng và đầu tư, là công cụ ổn định tâm lý xã hội. Khi người dân có thói quen tích lũy, họ ít phụ thuộc vào tín dụng tiêu dùng, qua đó giảm rủi ro nợ xấu trong nền kinh tế. Tiết kiệm giúp các hộ gia đình chủ động hơn trước biến cố như thất nghiệp, bệnh tật, hoặc khủng hoảng kinh tế. Tỉ lệ tiết kiệm hộ gia đình cao còn giúp chính phủ giảm áp lực chi ngân sách an sinh, cho phép tập trung nguồn lực cho đầu tư công. Trong bối cảnh đại dịch và suy giảm tăng trưởng toàn cầu, các quốc gia có tỉ lệ tiết kiệm cao phục hồi nhanh hơn nhờ khả năng tự tài trợ cho nhu cầu nội địa (Ngân hàng Thế giới, 2024).

Hình 1: Lãi suất tiết kiệm và cho vay ở Việt Nam (Đơn vị: %)

Nguồn: IMF và NHNN
Nguồn: IMF và NHNN

Tại Việt Nam, văn hóa tiết kiệm có gốc rễ sâu trong truyền thống dân tộc, gắn với tinh thần cần cù và ý thức tích lũy cho tương lai. Cùng với quá trình mở cửa và phát triển kinh tế, hành vi tiết kiệm đã chuyển dịch từ cất giữ tiền mặt sang gửi tiết kiệm ngân hàng và đầu tư vào các sản phẩm tài chính. Niềm tin vào hệ thống ngân hàng trở thành yếu tố quyết định trong việc duy trì dòng vốn tiết kiệm. Do đó, các vấn đề liên quan đến an toàn tiền gửi, xử lý ngân hàng yếu kém hay biến động lãi suất có thể tác động mạnh đến tâm lý người gửi tiền. Vì vậy, việc củng cố khuôn khổ pháp lý và cơ chế bảo hiểm tiền gửi được xem là nền tảng bảo vệ quyền lợi người tiết kiệm. Đồng thời, việc xử lý ngân hàng yếu kém là phép thử năng lực ứng phó rủi ro của cơ quan quản lý.

Hình 2: Tăng trưởng tiết kiệm và tín dụng ở Việt Nam (Đơn vị: %)

Nguồn: IMF và NHNN
Nguồn: IMF và NHNN

Các cải cách cần hướng đến thiết lập khuôn khổ quản lý khủng hoảng và giải pháp ứng phó thanh khoản theo tiêu chuẩn quốc tế. Cần hình thành chức năng ổn định tài chính chính thức để phối hợp chặt chẽ giữa NHNN và Bộ Tài chính, đồng thời, phát triển cơ chế hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp, và tăng cường quỹ bảo hiểm tiền gửi. Các ngân hàng phải xây dựng kế hoạch phục hồi, dự phòng rủi ro, và báo cáo minh bạch về khả năng thanh khoản. Việc áp dụng chuẩn Basel III cùng với kiểm tra sức chịu đựng định kỳ sẽ giúp hệ thống ngân hàng tăng cường khả năng chống đỡ trước biến động thị trường. Khi tín dụng tăng nhanh hơn tiền gửi, lãi suất tiền gửi có xu hướng tăng nhằm thu hút nguồn vốn mới, trong khi lãi suất cho vay giảm để hỗ trợ tăng trưởng tín dụng. Diễn biến này đã xuất hiện từ đầu năm 2024, tạo áp lực biên lợi nhuận của ngân hàng nhưng đồng thời góp phần thúc đẩy mở rộng tín dụng và tăng trưởng kinh tế.

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện hệ thống tài chính nhằm khơi thông dòng tiết kiệm trong xã hội. Theo số liệu của NHNN, tính đến hết tháng 7/2025, tổng phương tiện thanh toán đạt 19,5 triệu tỉ đồng, tăng 8,75% so với cuối năm 2024; tiền gửi dân cư tại hệ thống ngân hàng đạt trên 7,748 triệu tỉ đồng, tăng gần 9,7% so với đầu năm, phản ánh niềm tin của người dân vào ổn định vĩ mô và an toàn của khu vực ngân hàng. Các nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cũng chỉ ra rằng mức tiết kiệm nội địa của Việt Nam tương đương 25 - 27% GDP, gần sát với mức trung bình của nhóm các nền kinh tế Đông Nam Á đang phát triển. Tỉ lệ này đóng vai trò then chốt đối với khả năng tự tài trợ cho đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển công nghiệp và hỗ trợ quá trình chuyển đổi xanh.

Tuy nhiên, cơ cấu tiết kiệm tại Việt Nam vẫn nghiêng mạnh về hình thức gửi tiền truyền thống, trong khi tỉ trọng tiết kiệm đầu tư vào chứng khoán, trái phiếu hoặc quỹ hưu trí còn thấp. Theo Tổng công ty Lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam, đến tháng 8/2025, nhà đầu tư trong nước sở hữu 10,7 triệu tài khoản chứng khoán, trong đó nhà đầu tư cá nhân chiếm 10,68 triệu tài khoản, tương đương với khoảng 10,4% dân số, hoàn thành mục tiêu trước thời hạn 2025 và đang hướng đến 11 triệu tài khoản vào năm 2030, phần lớn có quy mô nhỏ dưới 100 triệu đồng, cho thấy sự phân tán và thiếu ổn định trong xu hướng tích lũy tài sản dài hạn, hạn chế khả năng hình thành nguồn vốn dài hạn phục vụ phát triển kinh tế bền vững. Trong khi đó, tại các nền kinh tế phát triển, tỉ lệ đầu tư tiết kiệm thông qua các công cụ thị trường vốn đạt từ 40 đến 60% tổng tài sản tài chính của hộ gia đình, phản ánh mức độ trưởng thành của hệ thống tài chính và sự hiểu biết tài chính của người dân. Yếu tố quyết định chất lượng tiết kiệm là mức độ giáo dục tài chính. Sự thiếu hụt kiến thức tài chính khiến hành vi tiết kiệm của người dân thường ngắn hạn, phụ thuộc vào lãi suất tiền gửi và dễ bị tác động bởi biến động chính sách. Việc đẩy mạnh giáo dục tài chính trong trường học, doanh nghiệp và truyền thông xã hội trở thành yêu cầu chiến lược để thúc đẩy tiết kiệm có định hướng, góp phần mở rộng quy mô vốn trong nước (Ngân hàng Thế giới, 2025).

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính, việc tiết kiệm trong nước gắn liền với khả năng chống chịu trước rủi ro chu kỳ vốn quốc tế. Khi dòng vốn nước ngoài suy giảm do biến động địa chính trị hoặc thắt chặt tiền tệ ở các nền kinh tế lớn, quốc gia có tỉ lệ tiết kiệm nội địa cao sẽ có khả năng duy trì đầu tư ổn định. Giai đoạn 2020 - 2023, Việt Nam đã chứng kiến tình huống: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giải ngân chậm trong quý II/2023, nhưng tổng đầu tư toàn xã hội vẫn tăng nhờ vốn khu vực tư nhân trong nước, cho thấy sức mạnh của tiết kiệm nội địa như một bộ đệm chống suy giảm. Ngược lại, nếu phụ thuộc quá mức vào vốn vay nước ngoài, rủi ro nợ và biến động tỉ giá sẽ gia tăng, ảnh hưởng tới ổn định kinh tế vĩ mô. Nhìn tổng thể, tiết kiệm là nền tảng cốt lõi cho ổn định và phát triển bền vững, kết nối giữa nỗ lực tài chính của mỗi cá nhân và mục tiêu thịnh vượng quốc gia.

Ngày Tiết kiệm Thế giới không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng mà còn là cơ hội tái khẳng định giá trị của kỷ luật tài chính, trách nhiệm xã hội, và tầm nhìn dài hạn trong quản trị kinh tế. Đối với Việt Nam, việc xây dựng văn hóa tiết kiệm gắn với đổi mới sáng tạo, đầu tư xanh và bao trùm xã hội sẽ là chìa khóa để củng cố sức mạnh nội lực trong hành trình phát triển hướng đến thịnh vượng và bền vững.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024), Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội năm 2025, Hà Nội.

2. NHNN(2024), Báo cáo Thường niên 2024, Hà Nội.

3. Ngân hàng Phát triển châu Á (2025), Triển vọng Phát triển châu Á 2025: Cập nhật Việt Nam, Manila.

4. Ngân hàng Thế giới (2024), Cập nhật Kinh tế Việt Nam: Thúc đẩy đầu tư công cho tăng trưởng. Washington, D.C.: Nhóm Ngân hàng Thế giới.

5. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (2025), Việt Nam: Tham vấn Điều IV năm 2025, Báo cáo Quốc gia.

6. Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050.

7. Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 22/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

PGS., TS. Nguyễn Đình Thọ
Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường

Tin bài khác

Sự dịch chuyển cơ cấu đầu tư của các quỹ hưu trí toàn cầu và tác động đối với thị trường nợ thế giới

Sự dịch chuyển cơ cấu đầu tư của các quỹ hưu trí toàn cầu và tác động đối với thị trường nợ thế giới

Sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư của các quỹ hưu trí toàn cầu đang trở thành một xu hướng mang tính cấu trúc của hệ thống tài chính quốc tế, với những tác động ngày càng rõ nét đối với thị trường nợ, cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ và ổn định tài chính, đồng thời gợi mở nhiều hàm ý chính sách đối với các nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Bài viết phân tích những định hướng sửa đổi quan trọng của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 7 (IAS 7) về báo cáo lưu chuyển tiền tệ, đồng thời đánh giá tác động đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý trong bối cảnh tăng cường tính minh bạch của báo cáo tài chính.
Hoàn thiện mô hình giám sát tài chính tại Việt Nam: Cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị

Hoàn thiện mô hình giám sát tài chính tại Việt Nam: Cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị

Bài viết này phân tích khuôn khổ giám sát tài chính của Việt Nam trên cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế, qua đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện mô hình giám sát theo hướng phối hợp liên ngành, dựa trên mức độ nguy cơ và nâng cao khả năng ứng phó với các biến động mang tính hệ thống.
Quy định về Ủy ban kiểm toán trong doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam: Góc nhìn pháp lý và thực tiễn

Quy định về Ủy ban kiểm toán trong doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam: Góc nhìn pháp lý và thực tiễn

Ủy ban kiểm toán đóng vai trò quan trọng trong quản trị công ty hiện đại, nhưng khuôn khổ pháp lý hiện hành vẫn còn một số hạn chế, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện để nâng cao hiệu quả giám sát và tăng cường tính minh bạch cho doanh nghiệp niêm yết.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Mô hình sàn giao dịch bất động sản điện tử: Giải pháp minh bạch hóa thị trường trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Mô hình sàn giao dịch bất động sản điện tử: Giải pháp minh bạch hóa thị trường trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Chuyển đổi số đang mở ra cơ hội tái cấu trúc thị trường bất động sản theo hướng minh bạch, hiện đại và hiệu quả hơn, trong đó mô hình sàn giao dịch bất động sản điện tử được kỳ vọng sẽ góp phần số hóa toàn bộ quy trình giao dịch, tăng cường kết nối dữ liệu và nâng cao năng lực quản lý thị trường.
Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Vai trò của thể chế, năng suất và năng lực đổi mới sáng tạo - Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Vai trò của thể chế, năng suất và năng lực đổi mới sáng tạo - Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Vượt qua bẫy thu nhập trung bình không phụ thuộc vào một mô hình phát triển duy nhất mà đòi hỏi sự kết hợp giữa cải cách thể chế, nâng cao năng suất và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Từ kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở những ưu tiên chính sách giúp Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao.
Kinh tế thế giới nửa đầu năm 2026: Biến động giá cả, rủi ro thương mại và hàm ý chính sách

Kinh tế thế giới nửa đầu năm 2026: Biến động giá cả, rủi ro thương mại và hàm ý chính sách

Nửa đầu năm 2026 chứng kiến nhiều biến động lớn của kinh tế thế giới khi các rủi ro địa chính trị, năng lượng và thương mại diễn ra đồng thời và có tác động lan tỏa mạnh mẽ tới thị trường tài chính cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều quốc gia. Là nền kinh tế có độ mở cao và phụ thuộc đáng kể vào nhập khẩu năng lượng cũng như xuất khẩu sang các thị trường lớn, Việt Nam chịu ảnh hưởng tương đối rõ nét từ các cú sốc bên ngoài. Trong bối cảnh đó, việc đánh giá đầy đủ cơ chế truyền dẫn, phân tích tác động đối với nền kinh tế Việt Nam và đề xuất các giải pháp ứng phó có ý nghĩa quan trọng đối với công tác điều hành chính sách trong ngắn hạn cũng như nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trong trung và dài hạn.
Xem thêm
Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Bài viết phân tích những định hướng sửa đổi quan trọng của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 7 (IAS 7) về báo cáo lưu chuyển tiền tệ, đồng thời đánh giá tác động đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý trong bối cảnh tăng cường tính minh bạch của báo cáo tài chính.
Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Trong bối cảnh ngành tài chính - ngân hàng chuyển đổi mạnh mẽ dưới tác động của toàn cầu hóa và công nghệ số, đạo đức và lòng tin ngày càng trở thành nền tảng quan trọng đối với quản trị, kiểm soát rủi ro và phát triển bền vững của hệ thống tài chính.
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng gia tăng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng ngày càng cao, những bất cập của pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn.
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại