Phát huy vai trò của kinh tế nhà nước trong ổn định và tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Tóm tắt: Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động phức tạp và yêu cầu phát triển kinh tế Việt Nam ngày càng tăng cao, Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước đã tái định hướng chiến lược mới về vị trí, vai trò quan trọng của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế nhà nước vừa phải đảm bảo ổn định vĩ mô, vừa phải dẫn dắt tăng trưởng và thu hút các thành phần kinh tế khác cùng tham gia phát triển. Kinh tế nhà nước không chỉ là “trụ cột ổn định”, là “công cụ điều tiết”, mà phải được đặt vào vị thế chủ thể tiên phong kiến tạo phát triển, có trách nhiệm mở đường cho không gian tăng trưởng mới của nền kinh tế.
Từ khóa: Kinh tế nhà nước, vai trò, định hướng, Nghị quyết số 79-NQ/TW.
PROMOTING THE ROLE OF THE STATE ECONOMY
IN ECONOMIC STABILITY AND GROWTH IN VIETNAM
Abstract: Amid increasingly complex global economic fluctuations and the growing demands of Vietnam’s economic development, Resolution No. 79-NQ/TW dated January 6, 2026, issued by the Politburo on the development of the state economic sector, establishes a renewed strategic orientation regarding the position and pivotal role of the state economy within the socialist-oriented market economy. The state economy must both ensure macroeconomic stability and lead growth, attracting other economic sectors to participate in development. The state economy should not only be a "pillar of stability" or a "regulatory tool," but must also be positioned as a pioneering force in development, responsible for paving the way for new growth opportunities in the economy.
Keywords: State economy, role, orientation, Resolution 79-NQ/TW.
1. Định hướng, vai trò kinh tế nhà nước với Nghị quyết số 79-NQ/TW
Nghị quyết số 79-NQ/TW khẳng định khu vực kinh tế nhà nước - lực lượng nòng cốt của nền kinh tế - không chỉ giữ vai trò "trụ đỡ", mà phải trở thành lực lượng mở đường, dẫn dắt và kiến tạo tăng trưởng để đưa Việt Nam vững bước tiến vào kỷ nguyên mới. Kinh tế nhà nước được nhìn nhận theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW rộng hơn, gắn với toàn bộ nguồn lực do Nhà nước quản lý và đại diện chủ sở hữu, thay vì chỉ giới hạn trong khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Sức mạnh kinh tế nhà nước không chỉ nằm ở số lượng hay quy mô doanh nghiệp, mà nằm ở chất lượng quản lý, sử dụng, bảo toàn vốn và các nguồn lực quốc gia.
Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo không chỉ với tư cách là khu vực sản xuất - kinh doanh, mà còn là công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết vĩ mô, bảo đảm ổn định kinh tế, giữ vững các cân đối lớn, chủ động ứng phó với các cú sốc từ bên ngoài, đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội. Kinh tế nhà nước là một “hệ tài sản - nguồn lực” quốc gia, từ đất đai, tài nguyên, hạ tầng đến ngân sách, dự trữ và phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Nghị quyết số 79-NQ/TW không đặt trọng tâm vào mở rộng quy mô kinh tế nhà nước, mà nhấn mạnh đến hiệu quả sử dụng nguồn lực và khả năng dẫn dắt toàn bộ nền kinh tế.
Nền tảng của kinh tế nhà nước gồm các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối. Các nguồn lực này phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, ổn định vĩ mô và bảo đảm an ninh, quốc phòng. Kinh tế nhà nước bao gồm: (i) DNNN là doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn hoặc cổ phần chi phối; (ii) Các tài sản công như đất đai, tài nguyên thiên nhiên, hạ tầng chiến lược (giao thông, năng lượng, viễn thông…); (iii) Ngân sách nhà nước và các quỹ tài chính công bao gồm dự trữ quốc gia, quỹ bảo hiểm, quỹ phát triển… (iv) Tổ chức tín dụng nhà nước gồm các ngân hàng thương mại nhà nước, tổ chức tài chính do Nhà nước kiểm soát; (v) Các đơn vị sự nghiệp công lập như các tổ chức cung cấp dịch vụ công: Y tế, giáo dục, nghiên cứu khoa học.
Nghị quyết số 79-NQ/TW đặt ra các mục tiêu lớn nhằm phát triển kinh tế nhà nước, khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong việc dẫn dắt, điều tiết và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng phát triển nền kinh tế quốc dân. Phát triển DNNN trở thành lực lượng nòng cốt, giữ vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực chiến lược, có tầm quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế và quốc phòng, an ninh. Nghị quyết nhấn mạnh, kinh tế nhà nước không chỉ giữ vai trò chủ đạo trong ổn định kinh tế vĩ mô, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn: Kinh tế nhà nước phải trở thành lực lượng dẫn dắt mô hình tăng trưởng mới, trong đó “xanh và bền vững” là tiêu chí xuyên suốt. Bởi khu vực kinh tế nhà nước nắm giữ những nguồn lực then chốt nhất của quốc gia, từ đất đai, tài nguyên, hạ tầng, ngân sách, tín dụng nhà nước cho tới các DNNN. Muốn chuyển đổi xanh, nhanh và thực chất thì phải bắt đầu từ nơi kinh tế nhà nước. Bảng 1 khái quát các mục tiêu của kinh tế nhà nước gắn với Nghị quyết số 79-NQ/TW.
![]() |
Nghị quyết số 79-NQ/TW mang lại nhiều ưu điểm nổi bật cho phát triển kinh tế nhà nước, được thể hiện cụ thể:
Thứ nhất, khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước được xác định là thành phần đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; giữ vai trò định hướng, điều tiết các hoạt động kinh tế, góp phần ổn định vĩ mô và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Thứ hai, nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả sử dụng nguồn lực của kinh tế nhà nước. Yêu cầu then chốt là nâng cao năng lực quản trị kinh tế nhà nước, đặc biệt trong bối cảnh hiệu quả sử dụng nguồn lực còn hạn chế. Mục tiêu 100% DNNN sẽ áp dụng quản trị doanh nghiệp hiện đại theo chuẩn Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), thúc đẩy minh bạch và hiệu quả.
Thứ ba, phát triển các tập đoàn kinh tế nhà nước quy mô lớn. Mục tiêu đến năm 2030 có 50 DNNN vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1 - 3 DNNN vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới năm 2030. Tập trung vào các lĩnh vực then chốt, chiến lược như năng lượng, tài chính, hạ tầng, công nghệ cao.
Thứ tư, thúc đẩy chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Mục tiêu 100% DNNN thực hiện chuyển đổi số toàn diện, ứng dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất vào năm 2030. Tạo điều kiện để DNNN tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.
Thứ năm, tạo động lực cho cải cách và thoái vốn. Nghị quyết số 79-NQ/TW quy định rõ Nhà nước chỉ nắm giữ trên 50% vốn tại các DNNN thuộc lĩnh vực chiến lược, còn lại sẽ thực hiện thoái vốn, tạo điều kiện cho khu vực tư nhân phát triển.
Nghị quyết số 79-NQ/TW là nghị quyết chiến lược, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế nhà nước theo hướng đổi mới, dẫn dắt và hội nhập. Nghị quyết định vị lại vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường. Các DNNN cần tập trung vào các lĩnh vực then chốt, có tính nền tảng hoặc liên quan trực tiếp đến ổn định vĩ mô và an ninh kinh tế như năng lượng, hạ tầng giao thông, tài chính - ngân hàng, viễn thông và một số ngành chiến lược khác. Trong các lĩnh vực mà thị trường vận hành hiệu quả, DNNN không nhất thiết phải giữ vai trò chi phối, qua đó tạo không gian phát triển cho khu vực tư nhân.
Nghị quyết số 79-NQ/TW đã xác định lại vai trò của DNNN - một bộ phận quan trọng của kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước là chủ đạo; các tập đoàn, tổng công ty nhà nước không chỉ hoạt động kinh doanh đơn thuần, mà phải cùng Nhà nước kiến tạo, phát triển, có trách nhiệm dẫn dắt, tạo đột phá trong những ngành, lĩnh vực then chốt của đất nước, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển đổi số. Vai trò cơ bản của kinh tế nhà nước bao gồm:
Một là, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt nền kinh tế; là lực lượng nòng cốt trong các ngành, lĩnh vực then chốt như năng lượng, quốc phòng, cơ sở hạ tầng, tài chính.
Hai là, kinh tế nhà nước có nhiệm vụ bảo đảm ổn định vĩ mô, an ninh quốc phòng và định hướng phát triển kinh tế chiến lược. Đồng thời, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định tỉ giá, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Ba là, kinh tế nhà nước đóng vai trò điều tiết thị trường, đặc biệt trong những thời điểm thị trường biến động mạnh, khủng hoảng hoặc thiếu nguồn cung.
Bốn là, kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chính sách xã hội, đầu tư vào các lĩnh vực ít hấp dẫn hơn đối với khu vực kinh tế tư nhân như y tế, giáo dục; đầu tư vào các vùng sâu, vùng xa; dẫn dắt đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh và bền vững...
Nghị quyết số 79-NQ/TW đặt kinh tế nhà nước đúng vai trò với tất cả các cấu phần của kinh tế nhà nước, không đơn thuần chỉ nói về DNNN. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo bởi cấu phần của kinh tế nhà nước gồm cả các lĩnh vực như đất đai, hạ tầng, vùng trời, vùng biển, dự trữ quốc gia… Do vậy, Nhà nước phải đóng vai trò chủ đạo trong đầu tư và quản lý. Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ với tư cách là một khu vực sản xuất - kinh doanh, mà còn là công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết vĩ mô, bảo đảm ổn định kinh tế, giữ vững các cân đối lớn và chủ động ứng phó với cú sốc bên ngoài.
2. Thực trạng hoạt động của kinh tế nhà nước
Sau 40 năm Đổi mới (1986 - 2026), khu vực kinh tế nhà nước đã chuyển mình mạnh mẽ, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân và vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Thời kỳ đầu đổi mới, kinh tế nhà nước chiếm hơn 40% GDP. Hệ thống DNNN hoạt động theo mô hình bao cấp, hiệu quả thấp. Năm 1990, Việt Nam bắt đầu tiến hành cải cách DNNN, chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Giai đoạn 1995 - 2010, đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN, giảm số lượng DNNN, tập trung vào các lĩnh vực then chốt. Khu vực kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong các ngành chiến lược. Tuy nhiên, tỉ trọng kinh tế nhà nước trong GDP giảm dần, còn 20% GDP nhưng tổng doanh thu tăng mạnh, gấp 70 lần so với hai thập kỷ 1980 và 1990. Kinh tế nhà nước chuyển hướng sang vai trò điều tiết, dẫn dắt và bảo đảm ổn định vĩ mô, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế, bảo đảm an ninh quốc phòng, năng lượng, lương thực và các lĩnh vực thiết yếu.
Năm 2025, quy mô kinh tế nhà nước đạt hơn 500 tỉ USD. Nhiều DNNN đã được cổ phần hóa, giúp nâng cao hiệu quả hoạt động và thu hút vốn đầu tư tư nhân. Nhiều doanh nghiệp, điển hình như Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel), Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam (VNPT), Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn và hệ thống bốn ngân hàng thương mại nhà nước, đóng góp quan trọng vào lực lượng kiến tạo và phát triển kinh tế quốc gia.
Kinh tế nhà nước không chỉ là một thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mà đã trở thành công cụ điều tiết vĩ mô hiệu quả. Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và đại dịch Covid-19 năm 2020, khi khu vực tư nhân có xu hướng co cụm để bảo toàn vốn thì các DNNN là lực lượng tiên phong trong sản xuất - kinh doanh. Hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước luôn là dòng máu lưu thông chính của nền kinh tế, không chỉ dẫn dắt mặt bằng lãi suất, mà còn thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ thanh khoản cho toàn hệ thống trong những giai đoạn khó khăn nhất.
Tính đến năm 2025, các DNNN vẫn chiếm tỉ trọng cao trong sản xuất các sản phẩm thiết yếu như viễn thông, năng lượng, phân bón, hóa chất và hạ tầng tài chính… Đối với lĩnh vực năng lượng, các DNNN cung cấp khoảng 87% sản lượng điện, hơn 84% thị phần bán lẻ xăng dầu, 100% thị phần khí thô và 70% thị phần khí hóa lỏng, đáp ứng 70% nhu cầu xăng dầu và 70 - 75% nhu cầu phân đạm. Xét về quy mô, các DNNN không quá khác biệt với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Các DNNN không quá bất lợi trong cạnh tranh và có xu hướng hoạt động tốt hơn các doanh nghiệp tư nhân trong nước và ngoài nước.
Mặc dù đã đạt được những thành tựu rất quan trọng về tăng trưởng, hội nhập và ổn định kinh tế vĩ mô, nhưng mô hình tăng trưởng của khu vực kinh tế nhà nước cũng bộc lộ một số bất cập. Trong đó, công tác quản lý, khai thác và sử dụng nhiều nguồn lực, tài sản của Nhà nước chưa thực sự hiệu quả. Một số DNNN hoạt động chưa thực sự tương xứng với vị trí, nguồn lực đang nắm giữ, năng lực cạnh tranh quốc tế hạn chế. Việc áp dụng quản trị doanh nghiệp hiện đại còn khá hạn chế, thiếu minh bạch và trách nhiệm giải trình chưa cao. Tình trạng lãng phí, thất thoát nguồn lực nhà nước vẫn diễn ra, đặc biệt trong quản lý đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn và tài sản công. Các DNNN chưa thực sự tiên phong trong đổi mới sáng tạo, thiếu động lực và cơ chế giám sát hiệu quả. Cạnh tranh với các khu vực kinh tế khác chưa bình đẳng khi kinh tế nhà nước vẫn được ưu đãi về vốn, đất đai, gây khó khăn cho khu vực tư nhân và khu vực FDI.
Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, tồn tại đến từ nhận thức chưa đầy đủ về vị trí, vai trò và phạm vi kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể chế pháp luật chưa đồng bộ, kỷ luật thực thi chưa nghiêm; năng lực quản trị yếu và trách nhiệm người đứng đầu chưa cao.
Hiện nay, Việt Nam chưa có DNNN lọt vào danh sách Fortune Global 500. Các DNNN lớn như Viettel có doanh thu khoảng 12 - 15 tỉ USD/năm, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) đạt khoảng 10 tỉ USD/năm và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) khoảng 8 - 10 tỉ USD/năm. Trong khi đó, để hiện thực hóa mục tiêu có từ 1 - 3 DNNN góp mặt trong nhóm 500 doanh nghiệp toàn cầu, các DNNN Việt Nam cần đạt mức doanh thu tối thiểu khoảng 30 - 35 tỉ USD/năm. Điều này đồng nghĩa với việc doanh thu của các DNNN phải tăng gấp 2 - 3 lần trong giai đoạn 2030 - 2035, đòi hỏi tốc độ mở rộng quy mô và nâng cao năng lực cạnh tranh vượt trội. Vì vậy, Nhà nước cần tiếp tục thúc đẩy cải cách DNNN theo hướng quyết liệt, đồng bộ và nhanh chóng hơn.
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước
Nhằm hiện thực hóa định hướng chiến lược của Nghị quyết số 79-NQ/TW cũng như mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại vào năm 2030, nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, cần tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp sau:
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và khung pháp lý
Để thực hiện thành công Nghị quyết số 79-NQ/TW, việc hoàn thiện thể chế và khung pháp lý là một trong những giải pháp trọng tâm, mang tính nền tảng. Thể chế là gốc rễ ảnh hưởng trực tiếp đến con người và cơ chế giám sát. Nếu thể chế chưa đồng bộ và minh bạch, khó thu hút lao động chất lượng cao và cơ chế giám sát sẽ thiếu hiệu lực. Cải cách căn bản thể chế quản trị DNNN phải theo chuẩn mực thị trường và thông lệ quốc tế. Trong đó, điểm cốt lõi của vấn đề nằm ở việc tách bạch thực chất giữa chức năng quản lý nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước.
Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu và thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), do thể chế chưa kịp thích ứng với chuẩn mực quốc tế, khiến DNNN khó áp dụng quản trị hiện đại, minh bạch tài chính và nâng cao trách nhiệm giải trình. Đồng thời, tiếp tục thể chế hóa vai trò dẫn dắt của kinh tế nhà nước như lực lượng kiến tạo, mở đường cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
Nghị quyết số 79-NQ/TW là bước ngoặt quan trọng nhằm khơi thông các "điểm nghẽn" thể chế. Theo đó, Quốc hội cần tiếp tục rà soát, củng cố lại toàn bộ hệ thống pháp luật. Hoàn thiện khung pháp luật về DNNN để tạo hành lang pháp lý riêng, rõ ràng cho DNNN, tách biệt với Luật Doanh nghiệp chung, nhằm phản ánh đúng vai trò đặc thù của DNNN trong nền kinh tế.
Bên cạnh đó, cần tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu vốn của DNNN. Chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo, phát triển, quản trị doanh nghiệp hiện đại theo chuẩn quốc tế, đảm bảo minh bạch, hiệu quả và có trách nhiệm giải trình. Ban hành cơ chế thử nghiệm (sandbox) cho DNNN trong các lĩnh vực công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới. Cho phép thử nghiệm mô hình quản trị tiên tiến, linh hoạt hơn trong đầu tư và huy động vốn. Hỗ trợ pháp lý cho đầu tư vào công nghệ cao, dữ liệu lớn, năng lượng tái tạo. Đảm bảo DNNN có thể tiên phong trong các lĩnh vực chiến lược.
Thứ hai, đổi mới quản trị DNNN
Nghị quyết số 79-NQ/TW không chỉ định hướng mục tiêu chiến lược mới đối với kinh tế nhà nước, mà quan trọng hơn, đặt ra yêu cầu mang tính then chốt, nâng cao năng lực quản trị kinh tế nhà nước để các nguồn lực quốc gia thực sự trở thành động lực phát triển, mang tính dẫn dắt. Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước chỉ được khẳng định thông qua năng lực quản trị và điều hành hiệu quả, không phải bằng mệnh lệnh hành chính và những hình thức khác.
Đổi mới quản trị DNNN bằng cách giảm can thiệp hành chính. Chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang giám sát hiệu quả việc sử dụng vốn và tài sản công. Tách bạch rõ ràng chức năng sở hữu, quản lý kinh tế và việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Theo đó, cần nâng cấp, đổi mới năng lực quản trị doanh nghiệp, từ tư duy, thể chế đến cách thức tổ chức thực hiện. Kinh tế nhà nước phải vận hành dựa trên những nguyên tắc quản trị hiện đại, hiệu quả, minh bạch và tăng cường trách nhiệm giải trình. Vai trò chủ đạo phải được chứng minh bằng kết quả và giá trị tạo ra cho nền kinh tế.
Ngoài ra, nguồn lực nhà nước phải được tập trung cho những ngành then chốt, có vai trò nền tảng, tạo hiệu ứng lan tỏa lớn đối với toàn bộ nền kinh tế như: Năng lượng, quốc phòng, hạ tầng chiến lược, tài chính - ngân hàng, công nghệ cao, chip bán dẫn, dịch vụ hậu cần logistics và một số lĩnh vực bảo đảm an ninh kinh tế quốc gia. Nhà nước cần tiếp tục khuyến khích DNNN đầu tư ra nước ngoài nhằm thăm dò, khai thác các loại khoáng sản mà trong nước chưa có hoặc trữ lượng hạn chế để làm chủ công nghệ lõi.
Thứ ba, tái cơ cấu và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Nghị quyết số 79-NQ/TW đã đặt mục tiêu tái cơ cấu DNNN nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và phát huy vai trò dẫn dắt của khu vực kinh tế nhà nước trong giai đoạn phát triển mới. Trọng tâm là cải cách quản trị, tăng quyền tự chủ và tối ưu hóa nguồn lực tài chính công. Tái cấu trúc DNNN theo hướng tinh gọn, hiệu quả, tập trung vào các lĩnh vực then chốt như năng lượng, hạ tầng, quốc phòng - an ninh. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản nhà nước, giảm thiểu thất thoát, lãng phí.
Tái cơ cấu và phân loại lại DNNN là một nhiệm vụ quan trọng. Theo đó, Nhà nước cần xác định rõ những DNNN giữ vai trò then chốt sẽ tiếp tục được Nhà nước nắm giữ cổ phần. Cho phép DNNN tái đầu tư từ nguồn thu cổ phần hóa để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Cơ cấu lại DNNN theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động, áp dụng công nghệ tiên tiến và mô hình quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế. Đồng thời, tập trung xây dựng, phát triển các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, DNNN và ngân hàng thương mại nhà nước lớn, giữ vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu của nền kinh tế, đồng thời có khả năng cạnh tranh ở tầm khu vực và toàn cầu.
Khơi thông các điểm nghẽn về vốn, đất đai và cơ chế quản lý, giúp tạo đà tăng trưởng mới cho nền kinh tế. Nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNN, giúp khu vực kinh tế nhà nước thực sự đóng vai trò dẫn dắt thị trường. Tăng tính tự chủ và minh bạch tài chính, giảm phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Tập trung vốn cho những doanh nghiệp then chốt, những ngành được sử dụng cho cả mục đích dân sự và quốc phòng như: Đóng tàu, hàng không, công nghệ mới, máy bay và tàu không người lái.
Thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Để đạt được mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, kinh tế nhà nước không chỉ cần đóng vai trò ổn định mà còn phải là động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển bền vững. Do đó, phải có sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy đầu tư, từ ưu tiên số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả.
Các DNNN cần phát triển mạnh năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao trong DNNN. Để vươn tầm khu vực và thế giới, các DNNN không thể chỉ lớn về quy mô vốn, tài sản, mà phải mạnh về công nghệ, quản trị và thương hiệu. Đầu tư vào hạ tầng số là bắt buộc. DNNN phải đủ lớn mạnh để đảm nhận vai trò nòng cốt của nền kinh tế. Các doanh nghiệp như Viettel, VNPT và các ngân hàng thương mại nhà nước cần được củng cố, nâng tầm thương hiệu, dồn lực để tham gia nhóm doanh nghiệp lớn trong khu vực và trên thế giới.
Bên cạnh đó, Nhà nước cần tiếp tục xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong DNNN; hợp tác với các viện nghiên cứu, doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp tư nhân; đầu tư mạnh vào chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, điện toán đám mây trong quản trị và vận hành; đồng thời, thúc đẩy mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo - điều kiện tiên quyết để đạt tầm nhìn 2045.
Thứ năm, tăng cường liên kết với khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn FDI
Quan hệ giữa kinh tế nhà nước và các thành phần kinh tế khác cần được đặt trong khuôn khổ hợp tác và bổ trợ. Nghị quyết số 79-NQ/TW khẳng định kinh tế nhà nước không tách rời các thành phần kinh tế khác, mà giữ vai trò dẫn dắt, tạo động lực và lan tỏa cùng phát triển.
Cụ thể, các DNNN tiếp tục tăng cường kết nối với doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn FDI để hình thành các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị trong những ngành then chốt như năng lượng, công nghiệp chế biến, dịch vụ hậu cần logistics, công nghệ cao. Kinh tế nhà nước tạo nền tảng và môi trường thuận lợi để khu vực tư nhân phát triển, thay vì làm suy giảm động lực thị trường. Sự phối hợp hài hòa giữa kinh tế nhà nước và tư nhân được xem là chìa khóa để nâng cao năng suất toàn nền kinh tế và cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia. Liên kết chặt chẽ với khu vực tư nhân và khu vực FDI thông qua các dự án đầu tư chung, chuỗi giá trị, đổi mới công nghệ. Khuyến khích khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội tham gia cung ứng dịch vụ sự nghiệp công không làm suy giảm vai trò của kinh tế nhà nước, mà ngược lại giúp kinh tế nhà nước tập trung tốt hơn vào những chức năng cốt lõi, mang tính chiến lược như hoạch định chính sách, xây dựng tiêu chuẩn, kiểm soát chất lượng và bảo đảm công bằng xã hội.
Ngoài ra, Nhà nước cần tăng cường mở rộng ở rộng hợp tác công - tư (PPP) nhằm thúc đẩy các dự án đầu tư trong hạ tầng số, y tế, giáo dục, chuyển đổi số và cung cấp các dịch vụ công. Mục tiêu là tận dụng nguồn lực và hiệu quả quản lý của khu vực tư nhân để nâng cao chất lượng dịch vụ công. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò tạo điều kiện, hỗ trợ pháp lý, hoặc góp vốn. Doanh nghiệp tư nhân đảm nhận đầu tư, xây dựng, vận hành và bảo trì dự án. Việc nhấn mạnh, mở rộng và nâng cao hiệu quả cơ chế PPP chứng tỏ Nghị quyết số 79-NQ/TW đã tiếp cận đúng bản chất của PPP. Qua đó, PPP không chỉ là công cụ huy động vốn mà còn là cơ chế phân bổ rủi ro hợp lý, gắn trách nhiệm, lợi ích và hiệu quả quản trị giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân.
Thứ sáu, nâng cao vai trò kiểm tra, giám sát trong khu vực kinh tế nhà nước
Cơ chế giám sát hiện nay vẫn đang thiên về “tiền kiểm” nhưng chưa chú trọng đến “hậu kiểm”. Giám sát quá chú trọng vào phê duyệt ban đầu với nhiều thủ tục hành chính yêu cầu thẩm định, xin phép, phê duyệt rất kỹ lưỡng trước khi được triển khai, gây chậm trễ và làm giảm tính chủ động của các đơn vị thực hiện nhưng thiếu giám sát sau khi triển khai. Khi được phê duyệt, việc theo dõi, đánh giá hiệu quả, kiểm tra thực tế thường bị buông lỏng hoặc làm hình thức. Hậu quả là không phát hiện kịp thời sai phạm, dẫn đến thất thoát, lãng phí.
Nghị quyết số 79-NQ/TW nhấn mạnh giải pháp nâng cao vai trò kiểm tra, giám sát trong khu vực kinh tế nhà nước nhằm khắc phục tình trạng lãng phí, thất thoát và tăng cường hiệu quả quản trị. Chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”. Giảm bớt các thủ tục hành chính rườm rà ban đầu, thay vào đó là tăng cường giám sát sau khi thực hiện. Tăng cường tính minh bạch, công khai thông tin để xã hội và các cơ quan độc lập cùng tham gia giám sát. Đây được xem là giải pháp trọng tâm để kinh tế nhà nước thực sự đóng vai trò chủ đạo, dẫn dắt và kiến tạo phát triển.
Đặc biệt, việc ứng dụng công nghệ số trong giám sát và quản trị, nhằm nâng cao hiệu quả theo dõi, đánh giá hoạt động của các đơn vị kinh tế nhà nước cần tiếp tục được triển khai sâu rộng. Theo đó, Nhà nước cần thiết lập hệ thống giám sát độc lập; đánh giá hiệu quả hoạt động và quản trị của DNNN, chấm dứt tình trạng thanh tra, kiểm tra, kiểm toán chồng chéo, trùng lặp và kéo dài; đồng thời, xử lý nghiêm hành vi lạm dụng thanh tra để gây khó khăn, giảm chồng chéo không có nghĩa là nới lỏng kỷ cương.
4. Kết luận
Nghị quyết số 79-NQ/TW đã xác định: Kinh tế nhà nước - lực lượng nòng cốt của nền kinh tế - không chỉ giữ vai trò "trụ đỡ," mà phải trở thành lực lượng mở đường, dẫn dắt và kiến tạo tăng trưởng để đưa đất nước tiến vào kỷ nguyên mới. Nghị quyết số 79-NQ/TW khi được triển khai đồng bộ sẽ góp phần giải quyết những tồn tại trong mối quan hệ nhà nước - thị trường, đồng thời tạo ra một hệ DNNN mới: Hiện đại về quản trị, dẫn đầu về công nghệ và vững vàng về bản lĩnh chính trị.
Tài liệu tham khảo:
1. Anh Nhi (2026), Nghị quyết số 79-NQ/TW: Kinh tế nhà nước vươn tầm thế giới, https://vneconomy.vn/ban-hanh-nghi-quyet-79-nqtw-dua-kinh-te-nha-nuoc-dan-dat-ky-nguyen-vuon-minh.htm
2. Diệu Thuý (2026), Nghị quyết số 79-NQ/TW: Không gian mới cho kinh tế nhà nước bứt phá, https://baotintuc.vn/kinh-te/nghi-quyet-79nqtw-khong-gian-moi-cho-kinh-te-nha-nuoc-but-pha-20260113132242950.htm
3. Quốc Huy (2026), Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, https://www.vietnamplus.vn/topic/nghi-quyet-79-phat-trien-kinh-te-nha-nuoc-1379.vnp
4. Thu Minh (2026), Ba nhóm ngành hưởng lợi nhiều nhất từ Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, https://vneconomy.vn/ba-nhom-nganh-huong-loi-nhieu-nhat-tu-nghi-quyet-79-phat-trien-kinh-te-nha-nuoc.htm
5. Trí Nhân (2026), Nghị quyết số 79-NQ/TW: "Cú hích" chiến lược đưa kinh tế nhà nước vươn tầm quốc tế, https://thitruongtaichinhtiente.vn/nghi-quyet-79-nq-tw-cu-hich-chien-luoc-dua-kinh-te-nha-nuoc-vuon-tam-quoc-te-76020.html
Tin bài khác
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam
Phòng ngừa gian lận trong thị trường carbon của Việt Nam: Bài học từ Liên minh châu Âu
Bảo vệ người tiêu dùng tài chính giai đoạn 2020 - 2025 và yêu cầu mới trong kỷ nguyên số
Thị trường tài chính toàn cầu năm 2025 và triển vọng 2026
B-READY 2025: Khẳng định vị thế trụ cột của hệ thống tài chính và hiệu quả vận hành tại Việt Nam
Thúc đẩy hoạt động thanh toán biên mậu: Kinh nghiệm của Hoa Kỳ - Canada và bài học cho Việt Nam
Huy động vốn qua thị trường tài sản cho mô hình tăng trưởng kinh tế mới tại Việt Nam
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu
Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng
Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách
