Định hướng tái cấu trúc hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân trong bối cảnh mới

Hoạt động ngân hàng
Quỹ tín dụng nhân dân là mô hình hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Bài viết phân tích bối cảnh ảnh hưởng và nêu bật yêu cầu cấp thiết tái cơ cấu hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân. Trên cơ sở đánh giá những bất cập hiện nay, bài viết đề xuất thu hẹp số lượng quỹ, tăng quy mô hoạt động và xây dựng chiến lược phát triển đến năm 2045.
aa

Tóm tắt: Theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) là một mô hình kinh tế hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng. Cơ cấu tổ chức, hoạt động của một số bộ phận chủ chốt và chức năng, nhiệm vụ của QTDND đã được quy định rất rõ tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 và các thông tư hướng dẫn Luật. Bài viết phân tích bối cảnh chung tác động đến hoạt động của các QTDND, yêu cầu cấp thiết tái cơ cấu hệ thống QTDND với cách tiếp cận là phân tích, đánh giá những hạn chế, bất cập trong hoạt động của hệ thống QTDND hiện nay, trên cơ sở đó, đề xuất định hướng tái cấu trúc hệ thống QTDND bằng sự thu hẹp số lượng quỹ tín dụng và tăng quy mô hoạt động của một số QTDND, đồng thời, gợi ý xây dựng chiến lược tầm nhìn đến năm 2045 để thực hiện quá trình tái cấu trúc này.

Từ khóa: QTDND, mô hình kinh tế hợp tác, tái cấu trúc.

ORIENTATION FOR RESTRUCTURING THE PEOPLE’S CREDIT FUND SYSTEM IN THE NEW CONTEXT

Abtracts: According to the provisions of the Law on Credit Institutions 2024, People’s Credit Fund is a cooperative economic model operating in the monetary and banking sector. The organizational structure, operations of a number of key departments and the functions, tasks of People’s Credit Fund have been clearly stipulated in the Law on Credit Institutions 2024 and the guiding the Law. The article analyzes the general context affecting the operations of People’s Credit Funds, the urgent need to restructure People’s Credit Fund system with the approach of analyzing and evaluating the limitations and shortcomings in the operations of the current People’s Credit Fund system. On that basis the author, proposes the orientation of restructuring People’s Credit Fund system by reducing the number of credit funds and increasing the scale of operations of a number of People’s Credit Funds, simultaneously, suggesting the development of a vision strategy to 2045 to implement this restructuring process.

Keywords: The People's Credit Fund, cooperative economic model, restructuring.

1. Bối cảnh chung tác động đến hoạt động của các QTDND

Hiện nay, cả nước đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển giàu mạnh và thịnh vượng của dân tộc, từ bộ máy hành chính Nhà nước đến sự vận hành của nền kinh tế đã có sự cải cách mạnh mẽ, nhanh chóng: Cơ cấu tổ chức, nhân sự của Đảng, Chính phủ, Quốc hội và các cơ quan quản lý nhà nước đã thay đổi theo hướng tinh giản, gọn nhẹ, lựa chọn những người tài, người tâm huyết cho bộ máy công quyền. Bên cạnh đó, cuộc Cách mạng công nghệ lần thứ tư đã có tác động mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống, kinh tế - xã hội. Các ngân hàng thương mại (NHTM) đã ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số vào đổi mới quản trị, điều hành và sản phẩm, dịch vụ, làm thay đổi cơ bản các hình thức cung ứng dịch vụ ngân hàng truyền thống. Nhiều công nghệ tiên tiến được ứng dụng vào hoạt động ngân hàng như: Trí tuệ nhân tạo (AI), học máy (ML), điện toán đám mây (Cloud Computing), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT) để đánh giá, phân loại khách hàng; quyết định giải ngân hay giúp đơn giản hóa các quy trình, thủ tục và rút ngắn thời gian giao dịch. Bên cạnh việc ứng dụng công nghệ số, các NHTM còn hợp tác với các công ty công nghệ tài chính (Fintech) để nâng cấp các quy trình, nghiệp vụ, cung ứng sản phẩm, dịch vụ tiên tiến, giúp ngân hàng chuyển đổi sang mô hình kinh doanh mới, tích hợp công nghệ theo hướng tự động, thông minh, có thể tiến hành kinh doanh, cung ứng sản phẩm, dịch vụ dễ dàng trên nền tảng số, khai thác dữ liệu hiệu quả. Công nghệ số đã hỗ trợ ngân hàng có độ bao phủ rộng hơn, tiết giảm chi phí hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh, giúp khách hàng tiếp cận dịch vụ dễ dàng hơn, không cần phải đến điểm giao dịch ngân hàng mà có thể truy cập dữ liệu, chuyển tiền thông qua các thiết bị di động. Để ứng dụng công nghệ số đòi hỏi các NHTM và công ty Fintech phải đầu tư lớn nguồn lực, đồng thời, môi trường pháp lý phải có nhiều thay đổi để hỗ trợ cho việc ứng dụng công nghệ số trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.

Những thay đổi nêu trên đã tác động không nhỏ đến hoạt động của hệ thống QTDND, đòi hỏi các QTDND phải có bước chuyển mình mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực. Từ đòi hỏi thực tế khách quan đó, việc tái cơ cấu hệ thống QTDND để thích ứng và phát triển trong môi trường mới là rất cần thiết. Vấn đề đặt ra là tái cấu trúc hệ thống QTDND theo hướng nào là phù hợp và đạt được mục tiêu thúc đẩy hệ thống các tổ chức tín dụng hợp tác phát triển an toàn, hiệu quả, đúng tôn chỉ mục đích.

2. Yêu cầu cấp thiết tái cơ cấu hệ thống QTDND

Tính đến ngày 31/12/2024, hệ thống QTDND có 1.178 quỹ, được phân bố trên 58 tỉnh, thành phố của cả nước, với tổng tài sản là 194.421 tỉ đồng; tổng dư nợ là 138.723 tỉ đồng, chiếm 0,88% dư nợ toàn hệ thống các tổ chức tín dụng. Tuy chiếm thị phần nhỏ, nhưng hoạt động của QTDND góp phần bao phủ thị trường, tăng khả năng tiếp cận thị trường cho các đối tượng ở nông thôn và góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương, xóa đói, giảm nghèo.

Điểm giống nhau của các QTDND đó là hoạt động phục vụ lợi ích thành viên, các khoản tín dụng cung cấp chủ yếu là cho vay thành viên, chiếm khoảng 95 - 99% tổng dư nợ. Kết hợp giữa đặc điểm giới hạn về địa bàn hoạt động và tính chất các khoản vay chủ yếu là cho vay ngắn hạn với giá trị nhỏ, nên thủ tục cho vay tại các QTDND thường đơn giản hơn, giải quyết nhanh, tỉ lệ nợ xấu thấp. Về cơ cấu huy động vốn, khoảng 50 - 75% vốn huy động từ thành viên, còn lại là huy động ngoài thành viên. Về hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ, theo đánh giá của nhóm nghiên cứu Đề tài: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ tại các QTDND Việt Nam” (mã số: ĐTNH.006/20), thì phần lớn hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ của các QTDND còn nhiều hạn chế, bất cập xuất phát từ sự ít quan tâm của lãnh đạo đến hệ thống kiểm soát nội bộ, tiếp đến là thiếu nguồn nhân lực, không ít quỹ cán bộ tín dụng và thẩm định là một người làm. Những quỹ tín dụng có quy mô nhỏ với tổng tài sản dưới 100 tỉ đồng thì nguồn nhân lực càng khó khăn để sắp xếp đủ bộ máy trong hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ, đảm bảo sự phân công, phân nhiệm theo nguyên tắc “bảo đảm một quy trình nghiệp vụ phải có ít nhất 02 cán bộ tham gia, một người thực hiện giao dịch và một người kiểm soát giao dịch, không có cá nhân nào có thể một mình thực hiện và quyết định một quy trình nghiệp vụ”, “tránh xung đột lợi ích”, “bảo đảm một cán bộ không đảm nhiệm cùng một lúc những cương vị, nhiệm vụ có mục đích, quyền lợi mâu thuẫn hoặc chồng chéo với nhau”.

Trong hệ thống QTDND, điểm khác biệt giữa các quỹ là địa bàn hoạt động, quy mô, chất lượng nguồn nhân lực và sự hiểu biết pháp luật không đồng đều. Cụ thể:

- Về quy mô hoạt động: Đa số QTDND có quy mô hoạt động nhỏ và vừa (Hình 1). Trong tổng số 1.178 QTDND, tính đến ngày 31/12/2024, có 32% QTDND có quy mô tài sản dưới 100 tỉ đồng; 42% QTDND có quy mô tài sản từ 100 đến dưới 200 tỉ đồng; 24% QTDND có quy mô tài sản từ 200 đến dưới 500 tỉ đồng; chỉ có 2% QTDND có quy mô tài sản trên 500 tỉ đồng, trong đó có 3 QTDND tổng tài sản trên 1.000 tỉ đồng.

- Về địa bàn hoạt động: Theo quy định, QTDND hoạt động chủ yếu trên địa bàn một phường, một xã, hoặc có thể mở rộng phạm vi hoạt động ở các phường, xã liền kề với trụ sở làm việc của QTDND khi đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại Thông tư số 29/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định về QTDND. Với đặc điểm về địa giới hoạt động, các QTDND thường huy động và cho vay tại chỗ, qua đó, tạo thế mạnh cho QTDND do có điều kiện nắm bắt rõ thông tin và am hiểu về khách hàng của mình hơn.

- Về chất lượng nguồn nhân lực: Nhìn chung, cán bộ chủ chốt hoặc cán bộ nghiệp vụ của QTDND nắm vững cơ chế chính sách, nghiệp vụ, đáp ứng đúng quy định về bằng cấp của nhà nước; tuy nhiên, hiểu biết về pháp luật của cán bộ các QTDND nhìn chung không đồng đều, không ít nhân sự không chủ động rà soát cơ chế, chính sách, một số cán bộ tín dụng, kế toán chưa nắm chắc quy trình nghiệp vụ của mình... Nhận định này cũng được minh chứng tại Đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ tại các QTDND Việt Nam”.

Về mặt lý luận, đối với doanh nghiệp hoạt động ở bất cứ lĩnh vực nào, muốn hoạt động có hiệu quả phải tối ưu hóa được quy trình quản lý và nghiệp vụ; quản lý tài chính hiệu quả, như dự báo nhu cầu tài chính trong tương lai, quản lý sát sao dòng tiền...; người lãnh đạo phải có tầm nhìn chiến lược, khả năng ra quyết định nhanh chóng, tạo môi trường làm việc tích cực, khuyến khích hợp tác giao tiếp và đổi mới sáng tạo của cấp dưới; có khả năng phân tích thị trường, đối thủ cạnh tranh và có chính sách chăm sóc khách hàng tốt; quản lý nhân sự tốt từ khâu tuyển dụng đến phân công vị trí công việc; khuyến khích, động viên cán bộ làm việc tích cực; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại vào quy trình quản lý và sản xuất, kinh doanh; quản trị rủi ro tốt, như xây dựng được chiến lược dự phòng (kế hoạch đối phó với các tình huống khẩn cấp, khủng hoảng để giảm thiểu tổn thất, duy trì hoạt động của doanh nghiệp), bảo đảm bảo mật thông tin doanh nghiệp và khách hàng, tránh các sự cố bảo mật có thể ảnh hưởng đến uy tín và tài chính.

3. Đề xuất định hướng tái cấu trúc hệ thống QTDND

Từ lý luận và thực tiễn hoạt động của hệ thống QTDND như đề cập trên, để đạt được mục tiêu đặt ra thúc đẩy hệ thống các tổ chức tín dụng hợp tác phát triển an toàn, hiệu quả, đúng tôn chỉ mục đích, tác giả bài viết đề xuất định hướng tái cấu trúc hệ thống QTDND như sau:

Tái cấu trúc hệ thống QTDND là hướng tới việc sắp xếp, nâng cao khả năng quản trị điều hành của các QTDND để góp phần bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng và hình thành hệ thống các QTDND có sức mạnh tài chính thực sự, khả năng quản lý, kiểm soát rủi ro, quản trị tốt; theo đó, đến năm 2035 và những năm tiếp theo, bên cạnh việc tiếp tục củng cố bộ máy hoạt động của QTDND theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng năng lực tài chính, năng lực quản trị điều hành của lãnh đạo quỹ, năng lực nghiệp vụ của cán bộ và nâng cao đạo đức nghề nghiệp, thì vấn đề quan trọng có tính quyết định bảo đảm sự thành công cho định hướng tái cấu trúc nêu trên, đó là cần thu hẹp số lượng quỹ tín dụng và tăng quy mô hoạt động của mỗi quỹ tín dụng.

Cơ sở của việc đưa ra định hướng này xuất phát từ bối cảnh chính trị, kinh tế - xã hội đang trong giai đoạn tái cơ cấu quốc gia, thay đổi địa giới hành chính cấp xã, phường; chuyển đổi số mạnh mẽ tạo sức cạnh tranh quyết liệt trên thị trường tài chính, tiền tệ và những tồn tại, hạn chế trong hoạt động của các QTDND như đã đề cập ở trên. Với số lượng QTDND lớn như hiện nay, quy mô hoạt động, năng lực quản trị, chất lượng cán bộ... không đồng đều giữa các quỹ là thách thức rất lớn đối với Ngân hàng Hợp tác xã khi thực hiện vai trò là “Ngân hàng của các QTDND”. Thực tế trong thời gian qua, các QTDND rơi vào kiểm soát đặc biệt phần lớn là những quỹ có quy mô nhỏ, theo đó số lượng nhân sự ít, không đủ sắp xếp bộ máy hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024.

Kinh nghiệm tái cơ cấu Tập đoàn Desjardins là một bài học để chúng ta suy nghĩ và hành động theo định hướng nêu trên (xem hộp 11: Tái cơ cấu Tập đoàn Desjardins).

Hộp 1: Tái cơ cấu Tập đoàn Desjardins (viết tắt là Tập đoàn)

Định hướng tái cấu trúc hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân trong bối cảnh mới

Để thực hiện định hướng trên không phải là đơn giản mà rất khó khăn, phức tạp. Vấn đề khó nhất khi thực hiện định hướng này, đó là nguồn lực tài chính để hỗ trợ cho QTDND được sáp nhập, nguồn lực tài chính để Ngân hàng Hợp tác xã có thể tham gia và hỗ trợ các QTDND thực hiện quá trình sáp nhập, tạo ra những lợi ích vượt trội cho các quỹ khi thực hiện sáp nhập; tiếp đến là sự đồng thuận và tự nguyện sáp nhập của các QTDND, vì các quỹ là những chủ thể độc lập về tài chính.

Bên cạnh đó, để bảo đảm cho hệ thống QTDND hoạt động ổn định, an toàn và phát triển bền vững, cần tiếp tục triển khai kịp thời các chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước liên quan tới hoạt động của QTDND; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và kiểm tra theo chuyên đề, kịp thời cảnh báo, chấn chỉnh, xử lý nghiêm đối với các QTDND có vi phạm thể lệ, chế độ, kiểm tra việc khắc phục tồn tại, sai phạm theo các kết luận thanh tra, kiểm tra.

Đồng thời, các QTDND xây dựng tốt phương án củng cố và phát triển QTDND; trong đó, tập trung nâng cao năng lực quản trị điều hành của QTDND đặc biệt là hệ thống kiểm soát nội bộ; nâng cao năng lực tài chính và chất lượng tín dụng; tăng trưởng phải đi đôi với việc nâng cao chất lượng hoạt động nhất là chất lượng tín dụng; tiếp tục củng cố và nâng cao mức độ an toàn, hiệu quả của QTDND hiện có, bảo đảm các QTDND hoạt động trên nguyên tắc tự chủ, tự nguyện, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên.

Về lâu dài, NHNN cần xây dựng Chiến lược tái cấu trúc hệ thống QTDND tầm nhìn đến năm 2045 nhằm củng cố vững chắc mô hình các tổ chức tín dụng hợp tác theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024.

1 Bài thu hoạch từ đợt học tập khảo sát tại Tập đoàn Desjardins Canada, tháng 10/2024.

Tài liệu tham khảo:

1. Đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ: “Quản trị QTDND - Thực trạng và đề xuất chính sách nhằm đảm bảo hệ thống QTDND hoạt động an toàn, ổn định, phù hợp với thông lệ quốc tế”. Mã số: ĐTN.003/22.

2. Đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ tại các QTDND Việt Nam”. Mã số: ĐTNH.006/20.

3. Cổng thông tin điện tử Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

4. Hạ Thị Thiều Dao (2012), Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Năm năm 2012, xu hướng năm 2013, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 186.

5. TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia (12/11/2023), Chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam: Cơ hội, thực trạng và giải pháp - Tạp chí điện tử Thị trường Tài chính Tiền tệ.

TS. Nguyễn Thị Kim Thanh
Phó Tổng Thư ký Hiệp hội QTDND

Tin bài khác

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố Báo cáo tháng 01/2026, tập trung đánh giá các quy định về tỉ lệ thanh khoản an toàn (LCR) sau 10 năm triển khai và áp dụng.
Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết tổng hợp bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm sau một thập kỷ triển khai Basel III, cho thấy tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản đã góp phần tăng cường chống chịu thanh khoản cho ngân hàng, song cũng đặt ra các đánh đổi về thu hẹp tín dụng, hành vi chấp nhận rủi ro và yêu cầu điều chỉnh linh hoạt trong thiết kế, giám sát và phối hợp chính sách ngân hàng trung ương.
Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Năm 2025, bám sát đường lối, chủ trương hội nhập quốc tế mới của Đảng và Chính phủ, với cách tiếp cận chủ động, linh hoạt và mềm dẻo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thúc đẩy hiệu quả, toàn diện các kênh đối ngoại và hội nhập quốc tế trên cả bình diện đa phương, song phương cũng như trong hợp tác với các tổ chức tài chính, tiền tệ, ngân hàng quốc tế.
Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Bài viết phân tích yêu cầu đột phá phát triển nguồn nhân lực số của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới, làm rõ những bước đi chiến lược về thể chế, đào tạo và làm chủ công nghệ nhằm hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số toàn diện và phát triển bền vững.
Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Bài viết khái quát bức tranh hoạt động ngân hàng tại Khu vực 2 năm 2025 trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động, làm rõ những kết quả nổi bật về tăng trưởng tín dụng, ổn định lãi suất, cải cách hành chính và chuyển đổi số, đồng thời định hướng vai trò đồng hành của hệ thống ngân hàng với các động lực tăng trưởng mới trong giai đoạn tới.
Xem thêm
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Bài viết phân tích những khoảng trống pháp lý trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam, trên cơ sở so sánh kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc, qua đó đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo đảm sự vận hành ổn định, minh bạch của thị trường và hạn chế rủi ro đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích khoảng trống pháp lý đối với dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam, đồng thời đề xuất khung pháp lý nhằm bảo đảm an toàn hệ thống, bảo vệ khách hàng và tạo nền tảng cho sự phát triển minh bạch của thị trường tài sản số.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng