Định hướng tái cấu trúc hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân trong bối cảnh mới

Hoạt động ngân hàng
Quỹ tín dụng nhân dân là mô hình hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Bài viết phân tích bối cảnh ảnh hưởng và nêu bật yêu cầu cấp thiết tái cơ cấu hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân. Trên cơ sở đánh giá những bất cập hiện nay, bài viết đề xuất thu hẹp số lượng quỹ, tăng quy mô hoạt động và xây dựng chiến lược phát triển đến năm 2045.
aa

Tóm tắt: Theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) là một mô hình kinh tế hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng. Cơ cấu tổ chức, hoạt động của một số bộ phận chủ chốt và chức năng, nhiệm vụ của QTDND đã được quy định rất rõ tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 và các thông tư hướng dẫn Luật. Bài viết phân tích bối cảnh chung tác động đến hoạt động của các QTDND, yêu cầu cấp thiết tái cơ cấu hệ thống QTDND với cách tiếp cận là phân tích, đánh giá những hạn chế, bất cập trong hoạt động của hệ thống QTDND hiện nay, trên cơ sở đó, đề xuất định hướng tái cấu trúc hệ thống QTDND bằng sự thu hẹp số lượng quỹ tín dụng và tăng quy mô hoạt động của một số QTDND, đồng thời, gợi ý xây dựng chiến lược tầm nhìn đến năm 2045 để thực hiện quá trình tái cấu trúc này.

Từ khóa: QTDND, mô hình kinh tế hợp tác, tái cấu trúc.

ORIENTATION FOR RESTRUCTURING THE PEOPLE’S CREDIT FUND SYSTEM IN THE NEW CONTEXT

Abtracts: According to the provisions of the Law on Credit Institutions 2024, People’s Credit Fund is a cooperative economic model operating in the monetary and banking sector. The organizational structure, operations of a number of key departments and the functions, tasks of People’s Credit Fund have been clearly stipulated in the Law on Credit Institutions 2024 and the guiding the Law. The article analyzes the general context affecting the operations of People’s Credit Funds, the urgent need to restructure People’s Credit Fund system with the approach of analyzing and evaluating the limitations and shortcomings in the operations of the current People’s Credit Fund system. On that basis the author, proposes the orientation of restructuring People’s Credit Fund system by reducing the number of credit funds and increasing the scale of operations of a number of People’s Credit Funds, simultaneously, suggesting the development of a vision strategy to 2045 to implement this restructuring process.

Keywords: The People's Credit Fund, cooperative economic model, restructuring.

1. Bối cảnh chung tác động đến hoạt động của các QTDND

Hiện nay, cả nước đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển giàu mạnh và thịnh vượng của dân tộc, từ bộ máy hành chính Nhà nước đến sự vận hành của nền kinh tế đã có sự cải cách mạnh mẽ, nhanh chóng: Cơ cấu tổ chức, nhân sự của Đảng, Chính phủ, Quốc hội và các cơ quan quản lý nhà nước đã thay đổi theo hướng tinh giản, gọn nhẹ, lựa chọn những người tài, người tâm huyết cho bộ máy công quyền. Bên cạnh đó, cuộc Cách mạng công nghệ lần thứ tư đã có tác động mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống, kinh tế - xã hội. Các ngân hàng thương mại (NHTM) đã ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số vào đổi mới quản trị, điều hành và sản phẩm, dịch vụ, làm thay đổi cơ bản các hình thức cung ứng dịch vụ ngân hàng truyền thống. Nhiều công nghệ tiên tiến được ứng dụng vào hoạt động ngân hàng như: Trí tuệ nhân tạo (AI), học máy (ML), điện toán đám mây (Cloud Computing), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT) để đánh giá, phân loại khách hàng; quyết định giải ngân hay giúp đơn giản hóa các quy trình, thủ tục và rút ngắn thời gian giao dịch. Bên cạnh việc ứng dụng công nghệ số, các NHTM còn hợp tác với các công ty công nghệ tài chính (Fintech) để nâng cấp các quy trình, nghiệp vụ, cung ứng sản phẩm, dịch vụ tiên tiến, giúp ngân hàng chuyển đổi sang mô hình kinh doanh mới, tích hợp công nghệ theo hướng tự động, thông minh, có thể tiến hành kinh doanh, cung ứng sản phẩm, dịch vụ dễ dàng trên nền tảng số, khai thác dữ liệu hiệu quả. Công nghệ số đã hỗ trợ ngân hàng có độ bao phủ rộng hơn, tiết giảm chi phí hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh, giúp khách hàng tiếp cận dịch vụ dễ dàng hơn, không cần phải đến điểm giao dịch ngân hàng mà có thể truy cập dữ liệu, chuyển tiền thông qua các thiết bị di động. Để ứng dụng công nghệ số đòi hỏi các NHTM và công ty Fintech phải đầu tư lớn nguồn lực, đồng thời, môi trường pháp lý phải có nhiều thay đổi để hỗ trợ cho việc ứng dụng công nghệ số trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.

Những thay đổi nêu trên đã tác động không nhỏ đến hoạt động của hệ thống QTDND, đòi hỏi các QTDND phải có bước chuyển mình mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực. Từ đòi hỏi thực tế khách quan đó, việc tái cơ cấu hệ thống QTDND để thích ứng và phát triển trong môi trường mới là rất cần thiết. Vấn đề đặt ra là tái cấu trúc hệ thống QTDND theo hướng nào là phù hợp và đạt được mục tiêu thúc đẩy hệ thống các tổ chức tín dụng hợp tác phát triển an toàn, hiệu quả, đúng tôn chỉ mục đích.

2. Yêu cầu cấp thiết tái cơ cấu hệ thống QTDND

Tính đến ngày 31/12/2024, hệ thống QTDND có 1.178 quỹ, được phân bố trên 58 tỉnh, thành phố của cả nước, với tổng tài sản là 194.421 tỉ đồng; tổng dư nợ là 138.723 tỉ đồng, chiếm 0,88% dư nợ toàn hệ thống các tổ chức tín dụng. Tuy chiếm thị phần nhỏ, nhưng hoạt động của QTDND góp phần bao phủ thị trường, tăng khả năng tiếp cận thị trường cho các đối tượng ở nông thôn và góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương, xóa đói, giảm nghèo.

Điểm giống nhau của các QTDND đó là hoạt động phục vụ lợi ích thành viên, các khoản tín dụng cung cấp chủ yếu là cho vay thành viên, chiếm khoảng 95 - 99% tổng dư nợ. Kết hợp giữa đặc điểm giới hạn về địa bàn hoạt động và tính chất các khoản vay chủ yếu là cho vay ngắn hạn với giá trị nhỏ, nên thủ tục cho vay tại các QTDND thường đơn giản hơn, giải quyết nhanh, tỉ lệ nợ xấu thấp. Về cơ cấu huy động vốn, khoảng 50 - 75% vốn huy động từ thành viên, còn lại là huy động ngoài thành viên. Về hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ, theo đánh giá của nhóm nghiên cứu Đề tài: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ tại các QTDND Việt Nam” (mã số: ĐTNH.006/20), thì phần lớn hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ của các QTDND còn nhiều hạn chế, bất cập xuất phát từ sự ít quan tâm của lãnh đạo đến hệ thống kiểm soát nội bộ, tiếp đến là thiếu nguồn nhân lực, không ít quỹ cán bộ tín dụng và thẩm định là một người làm. Những quỹ tín dụng có quy mô nhỏ với tổng tài sản dưới 100 tỉ đồng thì nguồn nhân lực càng khó khăn để sắp xếp đủ bộ máy trong hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ, đảm bảo sự phân công, phân nhiệm theo nguyên tắc “bảo đảm một quy trình nghiệp vụ phải có ít nhất 02 cán bộ tham gia, một người thực hiện giao dịch và một người kiểm soát giao dịch, không có cá nhân nào có thể một mình thực hiện và quyết định một quy trình nghiệp vụ”, “tránh xung đột lợi ích”, “bảo đảm một cán bộ không đảm nhiệm cùng một lúc những cương vị, nhiệm vụ có mục đích, quyền lợi mâu thuẫn hoặc chồng chéo với nhau”.

Trong hệ thống QTDND, điểm khác biệt giữa các quỹ là địa bàn hoạt động, quy mô, chất lượng nguồn nhân lực và sự hiểu biết pháp luật không đồng đều. Cụ thể:

- Về quy mô hoạt động: Đa số QTDND có quy mô hoạt động nhỏ và vừa (Hình 1). Trong tổng số 1.178 QTDND, tính đến ngày 31/12/2024, có 32% QTDND có quy mô tài sản dưới 100 tỉ đồng; 42% QTDND có quy mô tài sản từ 100 đến dưới 200 tỉ đồng; 24% QTDND có quy mô tài sản từ 200 đến dưới 500 tỉ đồng; chỉ có 2% QTDND có quy mô tài sản trên 500 tỉ đồng, trong đó có 3 QTDND tổng tài sản trên 1.000 tỉ đồng.

- Về địa bàn hoạt động: Theo quy định, QTDND hoạt động chủ yếu trên địa bàn một phường, một xã, hoặc có thể mở rộng phạm vi hoạt động ở các phường, xã liền kề với trụ sở làm việc của QTDND khi đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại Thông tư số 29/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định về QTDND. Với đặc điểm về địa giới hoạt động, các QTDND thường huy động và cho vay tại chỗ, qua đó, tạo thế mạnh cho QTDND do có điều kiện nắm bắt rõ thông tin và am hiểu về khách hàng của mình hơn.

- Về chất lượng nguồn nhân lực: Nhìn chung, cán bộ chủ chốt hoặc cán bộ nghiệp vụ của QTDND nắm vững cơ chế chính sách, nghiệp vụ, đáp ứng đúng quy định về bằng cấp của nhà nước; tuy nhiên, hiểu biết về pháp luật của cán bộ các QTDND nhìn chung không đồng đều, không ít nhân sự không chủ động rà soát cơ chế, chính sách, một số cán bộ tín dụng, kế toán chưa nắm chắc quy trình nghiệp vụ của mình... Nhận định này cũng được minh chứng tại Đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ tại các QTDND Việt Nam”.

Về mặt lý luận, đối với doanh nghiệp hoạt động ở bất cứ lĩnh vực nào, muốn hoạt động có hiệu quả phải tối ưu hóa được quy trình quản lý và nghiệp vụ; quản lý tài chính hiệu quả, như dự báo nhu cầu tài chính trong tương lai, quản lý sát sao dòng tiền...; người lãnh đạo phải có tầm nhìn chiến lược, khả năng ra quyết định nhanh chóng, tạo môi trường làm việc tích cực, khuyến khích hợp tác giao tiếp và đổi mới sáng tạo của cấp dưới; có khả năng phân tích thị trường, đối thủ cạnh tranh và có chính sách chăm sóc khách hàng tốt; quản lý nhân sự tốt từ khâu tuyển dụng đến phân công vị trí công việc; khuyến khích, động viên cán bộ làm việc tích cực; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại vào quy trình quản lý và sản xuất, kinh doanh; quản trị rủi ro tốt, như xây dựng được chiến lược dự phòng (kế hoạch đối phó với các tình huống khẩn cấp, khủng hoảng để giảm thiểu tổn thất, duy trì hoạt động của doanh nghiệp), bảo đảm bảo mật thông tin doanh nghiệp và khách hàng, tránh các sự cố bảo mật có thể ảnh hưởng đến uy tín và tài chính.

3. Đề xuất định hướng tái cấu trúc hệ thống QTDND

Từ lý luận và thực tiễn hoạt động của hệ thống QTDND như đề cập trên, để đạt được mục tiêu đặt ra thúc đẩy hệ thống các tổ chức tín dụng hợp tác phát triển an toàn, hiệu quả, đúng tôn chỉ mục đích, tác giả bài viết đề xuất định hướng tái cấu trúc hệ thống QTDND như sau:

Tái cấu trúc hệ thống QTDND là hướng tới việc sắp xếp, nâng cao khả năng quản trị điều hành của các QTDND để góp phần bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng và hình thành hệ thống các QTDND có sức mạnh tài chính thực sự, khả năng quản lý, kiểm soát rủi ro, quản trị tốt; theo đó, đến năm 2035 và những năm tiếp theo, bên cạnh việc tiếp tục củng cố bộ máy hoạt động của QTDND theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng năng lực tài chính, năng lực quản trị điều hành của lãnh đạo quỹ, năng lực nghiệp vụ của cán bộ và nâng cao đạo đức nghề nghiệp, thì vấn đề quan trọng có tính quyết định bảo đảm sự thành công cho định hướng tái cấu trúc nêu trên, đó là cần thu hẹp số lượng quỹ tín dụng và tăng quy mô hoạt động của mỗi quỹ tín dụng.

Cơ sở của việc đưa ra định hướng này xuất phát từ bối cảnh chính trị, kinh tế - xã hội đang trong giai đoạn tái cơ cấu quốc gia, thay đổi địa giới hành chính cấp xã, phường; chuyển đổi số mạnh mẽ tạo sức cạnh tranh quyết liệt trên thị trường tài chính, tiền tệ và những tồn tại, hạn chế trong hoạt động của các QTDND như đã đề cập ở trên. Với số lượng QTDND lớn như hiện nay, quy mô hoạt động, năng lực quản trị, chất lượng cán bộ... không đồng đều giữa các quỹ là thách thức rất lớn đối với Ngân hàng Hợp tác xã khi thực hiện vai trò là “Ngân hàng của các QTDND”. Thực tế trong thời gian qua, các QTDND rơi vào kiểm soát đặc biệt phần lớn là những quỹ có quy mô nhỏ, theo đó số lượng nhân sự ít, không đủ sắp xếp bộ máy hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024.

Kinh nghiệm tái cơ cấu Tập đoàn Desjardins là một bài học để chúng ta suy nghĩ và hành động theo định hướng nêu trên (xem hộp 11: Tái cơ cấu Tập đoàn Desjardins).

Hộp 1: Tái cơ cấu Tập đoàn Desjardins (viết tắt là Tập đoàn)

Định hướng tái cấu trúc hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân trong bối cảnh mới

Để thực hiện định hướng trên không phải là đơn giản mà rất khó khăn, phức tạp. Vấn đề khó nhất khi thực hiện định hướng này, đó là nguồn lực tài chính để hỗ trợ cho QTDND được sáp nhập, nguồn lực tài chính để Ngân hàng Hợp tác xã có thể tham gia và hỗ trợ các QTDND thực hiện quá trình sáp nhập, tạo ra những lợi ích vượt trội cho các quỹ khi thực hiện sáp nhập; tiếp đến là sự đồng thuận và tự nguyện sáp nhập của các QTDND, vì các quỹ là những chủ thể độc lập về tài chính.

Bên cạnh đó, để bảo đảm cho hệ thống QTDND hoạt động ổn định, an toàn và phát triển bền vững, cần tiếp tục triển khai kịp thời các chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước liên quan tới hoạt động của QTDND; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và kiểm tra theo chuyên đề, kịp thời cảnh báo, chấn chỉnh, xử lý nghiêm đối với các QTDND có vi phạm thể lệ, chế độ, kiểm tra việc khắc phục tồn tại, sai phạm theo các kết luận thanh tra, kiểm tra.

Đồng thời, các QTDND xây dựng tốt phương án củng cố và phát triển QTDND; trong đó, tập trung nâng cao năng lực quản trị điều hành của QTDND đặc biệt là hệ thống kiểm soát nội bộ; nâng cao năng lực tài chính và chất lượng tín dụng; tăng trưởng phải đi đôi với việc nâng cao chất lượng hoạt động nhất là chất lượng tín dụng; tiếp tục củng cố và nâng cao mức độ an toàn, hiệu quả của QTDND hiện có, bảo đảm các QTDND hoạt động trên nguyên tắc tự chủ, tự nguyện, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên.

Về lâu dài, NHNN cần xây dựng Chiến lược tái cấu trúc hệ thống QTDND tầm nhìn đến năm 2045 nhằm củng cố vững chắc mô hình các tổ chức tín dụng hợp tác theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024.

1 Bài thu hoạch từ đợt học tập khảo sát tại Tập đoàn Desjardins Canada, tháng 10/2024.

Tài liệu tham khảo:

1. Đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ: “Quản trị QTDND - Thực trạng và đề xuất chính sách nhằm đảm bảo hệ thống QTDND hoạt động an toàn, ổn định, phù hợp với thông lệ quốc tế”. Mã số: ĐTN.003/22.

2. Đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ tại các QTDND Việt Nam”. Mã số: ĐTNH.006/20.

3. Cổng thông tin điện tử Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

4. Hạ Thị Thiều Dao (2012), Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Năm năm 2012, xu hướng năm 2013, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 186.

5. TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia (12/11/2023), Chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam: Cơ hội, thực trạng và giải pháp - Tạp chí điện tử Thị trường Tài chính Tiền tệ.

TS. Nguyễn Thị Kim Thanh
Phó Tổng Thư ký Hiệp hội QTDND

Tin bài khác

Hoạt động ngân hàng tại các Trung tâm tài chính quốc tế và hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Hoạt động ngân hàng tại các Trung tâm tài chính quốc tế và hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Bài viết tổng quan hoạt động ngân hàng tại các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), nhấn mạnh bốn khía cạnh: Mô hình tổ chức, khung pháp lý Basel III, tác động kinh tế và đổi mới công nghệ. Từ đó, tác giả đề xuất hoàn thiện pháp lý, thu hút đầu tư tài chính nước ngoài, tăng quản lý rủi ro và phát triển hệ sinh thái công nghệ tài chính (Fintech) cho Việt Nam.
Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Bài viết phân tích yêu cầu về khả năng thanh toán - điều kiện cốt lõi trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp (Emergency Liquidity Assistance - ELA) của ngân hàng trung ương (NHTW), thông qua việc so sánh kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn xử lý các cuộc khủng hoảng ngân hàng gần đây, từ đó đề xuất định hướng hoàn thiện khuôn khổ hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp tại Việt Nam theo hướng linh hoạt, dựa trên đánh giá triển vọng và tăng cường phối hợp chính sách giữa các cơ quan liên quan.
Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) do Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế ban hành ngày càng được áp dụng rộng rãi, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng lộ trình áp dụng IFRS phù hợp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), nhằm nâng cao minh bạch tài chính, năng lực quản trị và hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ.
Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ vai trò của các yếu tố công nghệ, tâm lý và tài chính cá nhân trong việc hình thành hành vi chấp nhận dịch vụ của khách hàng.
Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo -  Động lực phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo - Động lực phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Ngày 18/5 là Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam, tôn vinh trí thức và khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ trong phát triển bền vững. Với ngành Ngân hàng, đây là ngày có ý nghĩa quan trọng, tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi số và xây dựng hệ sinh thái tài chính số hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.
Xem thêm
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng