Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân để phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ngân hàng
Tại Hội thảo khoa học “Hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng là hợp tác xã theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024” được Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam tổ chức ngày 09/4/2025, các nhà quản lý, nhà khoa học đã đưa ra một bức tranh toàn cảnh về hoạt động của các tổ chức tín dụng là hợp tác xã, những khó khăn, thách thức phải đối mặt trước bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh hiện nay, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng là hợp tác xã tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
aa

Phó Thống đốc NHNN Đoàn Thái Sơn: Đã đến lúc xây dựng một chiến lược mới cho hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (QTDND)

Tham dự và chủ trì Hội thảo khoa học, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Đoàn Thái Sơn cho biết, kể từ khi thành lập và đi vào hoạt động từ năm 1993 đến nay, hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) là hợp tác xã (HTX) tại Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh cả về quy mô, năng lực quản trị, điều hành và đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tính đến hết tháng 12/2024, hệ thống các TCTD là HTX bao gồm Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (NHHTX) và 1.180 QTDND có quy mô tổng tài sản đạt trên 253.000 tỉ đồng, hoạt động trên địa bàn 57/63 tỉnh, thành phố phục vụ gần 2 triệu thành viên là các cá nhân, hộ gia đình ở vùng nông nghiệp, nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Phó Thống đốc NHNN Đoàn Thái Sơn phát biểu tại Hội thảo
Phó Thống đốc NHNN Đoàn Thái Sơn phát biểu tại Hội thảo

Luật Các TCTD năm 2024 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2024 đã một lần nữa khẳng định, NHHTX và QTDND được thành lập, tổ chức dưới hình thức HTX, trong đó các QTDND hoạt động nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống; NHHTX là ngân hàng của tất cả các QTDND, do các QTDND và một số pháp nhân khác góp vốn thành lập nhằm mục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống QTDND.

Trước thách thức đặt ra là làm thế nào để các HTX hoạt động an toàn, vận hành dựa trên tôn chỉ, mục đích và thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ theo quy định pháp luật, Phó Thống đốc NHNN Đoàn Thái Sơn kỳ vọng Hội thảo sẽ mang lại những giá trị thiết thực, đưa hoạt động của NHHTX, QTDND ngày càng hiệu quả, an toàn và bền vững, đồng thời là tư liệu quý giá để NHHTX hoàn thiện nội dung Đề án khoa học và công nghệ cấp bộ “Hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của TCTD là HTX theo Luật Các TCTD năm 2024” mà Thống đốc NHNN giao NHHTX chủ trì nghiên cứu.

TS. Cấn Văn Lực - Viện trưởng Viện Đào tạo và Nghiên cứu, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV): Tận dụng thành công cơ hội, QTDND sẽ có nhiều bước đột phá

Tham luận tại Hội thảo, TS. Cấn Văn Lực - Viện trưởng Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV khẳng định các HTX đã góp phần phát triển kinh tế - xã hội, có vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính, tiền tệ quốc gia. Song, thực trạng hoạt động của hệ thống HTX tại Việt Nam còn khá khiêm tốn, chưa tương xứng với vai trò, mục tiêu đặt ra. Hiện nay, tỉ trọng của HTX trong hệ thống TCTD rất nhỏ, với tổng tài sản có chỉ chiếm 1,15% và vốn điều lệ chiếm 0,73% của hệ thống TCTD. Dù đã có những bước phát triển nhất định, song trên thực tế, các HTX mới chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu vay vốn của khu vực nông nghiệp, nông thôn và các hộ gia đình. Hoạt động của các QTDND tại một số tỉnh, thành phố chưa thực sự hiệu quả, rủi ro tác nghiệp, đạo đức còn tương đối cao; sản phẩm, dịch vụ của các QTDND chưa đa dạng, phong phú; hệ thống công nghệ thông tin, dữ liệu chưa được đầu tư phù hợp. Đặc biệt, tính liên kết hệ thống giữa các TCTD là HTX chưa chặt chẽ, bao gồm mối liên kết dọc giữa QTDND với các thành viên, mối liên kết ngang giữa các QTDND với nhau và với NHHTX. Một số bất cập khác như chưa có một quỹ dự phòng để xử lý rủi ro đối với hoạt động của QTDND, chưa phối hợp nhuần nhuyễn giữa NHNN tỉnh, thành phố với NHHTX, bảo hiểm tiền gửi, chính quyền địa phương, chất lượng cán bộ QTDND còn thấp, năng suất lao động chưa cao…

TS. Cấn Văn Lực, Viện trưởng Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV trình bày tham luận tại Hội thảo
TS. Cấn Văn Lực, Viện trưởng Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV trình bày tham luận tại Hội thảo

Tuy nhiên, TS. Cấn Văn Lực cũng chỉ ra cơ hội phát triển của các HTX trong thời gian tới còn rất lớn, từ việc hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện đến việc hoạt động của QTDND đang ngày càng được quan tâm, thúc đẩy. Theo thống kê, có khoảng gần 60% dân số, lao động Việt Nam vẫn đang sống ở các vùng nông thôn và tham gia trong lĩnh vực nông nghiệp; 30% lực lượng lao động của Việt Nam có tài khoản ngân hàng và tỉ lệ này chỉ đạt 20 - 25% tại khu vực nông thôn. Những con số này cho thấy yêu cầu về phát triển tài chính toàn diện tại Việt Nam rất lớn. Ngày 22/01/2020 Chính phủ đã ban hành Quyết định số 149/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Trong Chiến lược này, QTDND có vai trò không thể thay thế. Xu hướng chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, các công nghệ mới giúp tăng khả năng tiếp cận vốn, nâng cao hiệu quả hoạt động, hạ thấp các rào cản về địa lý, giảm chi phí, mở ra các nguồn lực tăng trưởng mới, phương thức kinh doanh mới, hỗ trợ quản lý, quản trị tốt hơn. Xu hướng xanh hóa cũng mở ra cơ hội tiếp cận nguồn vốn mới, kể cả từ quốc tế, quỹ đầu tư. Những lợi ích này đang được tận dụng rất tốt ở không chỉ các ngân hàng, công ty bảo hiểm, chứng khoán... mà còn cả các QTDND trên thế giới. Để tận dụng những cơ hội trên, TS Cấn Văn Lực cũng đề xuất một số giải pháp, cụ thể:

Đối với NHNN, cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, quy định về an toàn hoạt động, quản lý, điều hành, quản trị rủi ro và các quy định khác đối với hệ thống HTX phù hợp với Luật Các TCTD. Đổi mới cơ chế quản lý, giám sát hệ thống QTDND theo hướng phân cấp quy mô tài sản, điều kiện quản trị rủi ro và năng lực cán bộ. Đồng thời, tăng cường và nâng cấp cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống thông tin báo cáo và quản lý của NHNN để quản lý tập trung, có hiệu quả, giám sát đầy đủ, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và cảnh báo các vi phạm trong hoạt động của các QTDND. Triển khai quyết liệt các giải pháp cơ cấu lại hệ thống QTDND theo định hướng, chính sách của Đảng và Nhà nước. Tập trung xử lý theo thẩm quyền các QTDND yếu, kém bằng các hình thức sáp nhập, hợp nhất, giải thể và một số biện pháp khác theo đúng quy định của pháp luật, trên nguyên tắc bảo đảm quyền lợi chính đáng của người gửi tiền và an toàn hệ thống. Phối hợp với Liên minh HTX triển khai các phương án giáo dục tài chính để phổ cập các kiến thức tài chính, nâng cao nhận thức tài chính cộng đồng.

Đối với NHHTX, cần nâng cao vai trò đầu mối của NHHTX, thông qua việc tăng cường năng lực tài chính cho NHHTX, đầu tư đổi mới công nghệ, tạo cơ chế thuận lợi hỗ trợ NHHTX nguồn vốn để điều hòa thanh khoản cho các QTDND và tăng cường trách nhiệm, sự giám sát của các QTDND đối với NHHTX để NHHTX phát huy tốt vai trò điều hòa vốn và tăng tính liên kết hệ thống. Chủ động đề xuất phương án để quản lý và sử dụng quỹ bảo toàn và quỹ dự phòng rủi ro (nếu có) một cách hiệu quả hơn nữa, hướng dẫn, hỗ trợ các QTDND chuyển đổi số…

Đối với các QTDND, cần điều chỉnh về mô hình tổ chức theo hướng: Cơ chế phê duyệt tín dụng phải thực hiện theo hình thức mới với ít nhất là 2 khâu, gồm khâu đề xuất và khâu thẩm định, giải ngân. Chú trọng hơn đến yếu tố con người bằng cách chuẩn hóa yêu cầu đầu vào, chuẩn hóa nội dung, chương trình tập huấn, đào tạo, kiểm tra, đánh giá cán bộ QTDND, trong đó hết sức lưu ý rủi ro nhóm lợi ích (nhiều người trong cùng một quỹ có quan hệ họ hàng, thân quen…)..

PGS.,TS. Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Phụ trách Học viện Ngân hàng: Tăng cường liên kết trong hệ thống TCTD là HTX trên toàn quốc là nền tảng để bảo đảm sự phát triển bền vững.

Tại Hội thảo, PGS,.TS. Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Phụ trách Học viện Ngân hàng chỉ ra rằng, việc tăng cường liên kết trong hệ thống HTX trên toàn quốc đóng vai trò cốt lõi trong việc cải thiện hiệu suất hoạt động, tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đây chính là nền tảng để bảo đảm sự phát triển bền vững của hệ thống tín dụng HTX tại Việt Nam. Phân tích này dựa trên mô hình liên kết tại các quốc gia như Đức, Pháp, Ấn Độ và Philippines. Như hệ thống NHHTX tại Đức, thường được gọi là Raiffeisenbank, là một mô hình tiêu biểu về liên kết hiệu quả giữa các NHHTX cơ sở và ngân hàng trung ương, tập trung vào quản trị tập trung và chia sẻ công nghệ. Hệ thống hoạt động theo mô hình hai cấp, bao gồm hàng trăm ngân hàng cơ sở địa phương, ngân hàng chuyên biệt, và các công ty tài chính ở cấp quốc gia. Đứng đầu hệ thống là DZ Bank AG tại Frankfurt, đóng vai trò là ngân hàng trung ương duy nhất, thực hiện các chức năng quan trọng như cung cấp vốn, bảo đảm thanh khoản, cơ cấu thời hạn sản phẩm tài chính, đầu tư chứng khoán, kết nối thanh toán và phát hành thẻ tín dụng cho các ngân hàng cơ sở. Sự hỗ trợ này giúp các ngân hàng địa phương duy trì hoạt động ổn định và nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu tài chính đa dạng của khách hàng.

PGS,.TS. Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Phụ trách Học viện Ngân hàng phát biểu tại Hội thảo
PGS.,TS. Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Phụ trách Học viện Ngân hàng phát biểu tại Hội thảo

Nhìn lại Việt Nam, PGS.,TS. Phạm Thị Hoàng Anh chỉ ra mức độ liên kết hiện nay được thể hiện qua các mối quan hệ dọc và ngang giữa các QTDND và NHHTX. Tuy đã có những tiến bộ, nhưng hệ thống này vẫn chưa phát huy hết tiềm năng của mô hình HTX. Liên kết dọc phản ánh mối quan hệ giữa các QTDND với NHHTX và các thành viên của quỹ, trong khi liên kết ngang là sự kết nối giữa các QTDND với nhau. Tính chặt chẽ và hiệu quả của các mối liên kết này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.

Mối liên kết dọc giữa QTDND và NHHTX được xác lập dựa trên vai trò của NHHTX như “ngân hàng của các QTDND”. Thực tế cho thấy, NHHTX đã đóng góp vào việc điều hòa vốn và hỗ trợ thanh khoản kịp thời cho các QTDND cần giúp đỡ, đặc biệt thông qua các cơ chế như Quỹ an toàn hệ thống ở tỉnh Thái Bình, Hưng Yên, An Giang... Tuy nhiên, sự liên kết này chưa đủ vững chắc do thiếu kênh chia sẻ thông tin hai chiều, dẫn đến hạn chế trong phối hợp và giám sát. Sự chồng lấn về dịch vụ giữa NHHTX và QTDND cũng gây ra cạnh tranh nội bộ, làm yếu đi tính gắn kết của hệ thống.

Liên kết dọc giữa QTDND và thành viên chủ yếu dựa vào lợi ích vay vốn, tuy nhiên, vai trò giám sát của thành viên đối với hoạt động của QTDND còn yếu do nhận thức hạn chế về tài chính, ngân hàng, cũng như tâm lý đơn giản hóa vấn đề của người dân địa phương. Liên kết ngang giữa các QTDND thể hiện qua việc chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ lẫn nhau mà không có cạnh tranh trực tiếp. Các cụm QTDND tại một số địa phương như Hà Nội, Thái Bình, Hải Dương… đã hình thành để giao lưu và hỗ trợ nhau trong những lúc khó khăn. Sự ra đời của Hiệp hội QTDND Việt Nam từ năm 2006 đã tạo ra cầu nối quan trọng để tập hợp các QTDND, bảo vệ quyền lợi và thúc đẩy phát triển chung. Tuy nhiên, liên kết ngang trên toàn quốc vẫn còn rời rạc, hoạt động của Hiệp hội chưa đủ mạnh để bảo đảm sự gắn kết đồng bộ, do đó cần tiếp tục củng cố vai trò và năng lực của tổ chức này.

Theo PGS.,TS. Phạm Thị Hoàng Anh, để nâng cao hiệu quả và tính bền vững của hệ thống TCTD HTX tại Việt Nam, cần hoàn thiện mô hình liên kết theo Luật Các TCTD năm 2024. PGS.,TS. Phạm Thị Hoàng Anh đề xuất, cần củng cố NHHTX thành trung tâm điều phối và giám sát hệ thống QTDND. Bên cạnh đó cần chuẩn hóa hoạt động và quản trị, đẩy mạnh hoạt động chuyển đổi số với việc NHHTX cần dẫn đầu chuyển đổi số cho hệ thống QTDND.

PGS.,TS. Phạm Thị Hoàng Anh cũng cho rằng, sự gắn kết hệ thống TCTD HTX cần cải thiện cả về liên kết ngang và liên kết dọc. Về liên kết ngang, các QTDND nên hợp tác qua cụm địa phương để chia sẻ nguồn lực và kinh nghiệm, Hiệp hội QTDND đóng vai trò cầu nối tổ chức diễn đàn và cơ chế hỗ trợ toàn quốc. Về liên kết dọc, NHHTX cần thiết lập cơ chế tái cấp vốn linh hoạt, minh bạch dựa trên nhu cầu thực tế của QTDND, đồng thời xây dựng kênh thông tin hai chiều để tăng cường giám sát và hỗ trợ, khuyến khích QTDND cải thiện quản trị. Nhà nước cần hỗ trợ tài chính thông qua NHHTX để thống nhất hạ tầng công nghệ cho QTDND, bảo đảm hoạt động hiệu quả và an toàn. Đồng thời, chính quyền địa phương nên cung cấp kinh phí đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ QTDND, kết nối với các chương trình quốc tế để học hỏi mô hình HTX tiên tiến, từ đó nâng cao năng lực và áp dụng vào thực tiễn.

PGS.,TS. Lê Thanh Tâm - Trưởng bộ môn Ngân hàng thương mại, Viện Ngân hàng - Tài chính, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân: Các HTX thành công có đặc điểm chung là duy trì nguyên tắc hợp tác, đặt thành viên làm trung tâm, đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ tài chính (Fintech)

Phân tích, đánh giá những kinh nghiệm thành công và thất bại của các mô hình HTX tài chính nổi bật trên thế giới, PGS.,TS. Lê Thanh Tâm - Trưởng bộ môn Ngân hàng thương mại, Viện Ngân hàng - Tài chính, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết: Thứ nhất, nguyên lý chung của mô hình HTX tài chính là sự kết hợp của các nguyên lý mô hình HTX và tổ chức trung gian tài chính, với sự gia nhập tự nguyện, lợi nhuận không phải là mục tiêu hoạt động chính, tạo thuận lợi cho mọi thành viên. Thứ hai, chuyển đổi số tác động mạnh mẽ và tích cực đến mô hình và hoạt động của HTX tài chính, giúp cải thiện dịch vụ, tăng cường trải nghiệm thành viên, tối ưu hóa quản trị, kiểm soát rủi ro, mở rộng khả năng tiếp cận tài chính, giảm chi phí hoạt động. Tuy vậy, chuyển đổi số cũng gây ra các thách thức lớn cho các HTX tài chính như yêu cầu vốn lớn, rủi ro an ninh mạng và bảo mật thông tin. Thứ ba, các HTX tài chính thành công có một số đặc điểm chung giúp họ phát triển mạnh và phục vụ hiệu quả như: Duy trì nguyên tắc hợp tác, đặt thành viên làm trung tâm; đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng Fintech; xây dựng mạng lưới rộng, gắn kết với chính quyền địa phương; cung cấp dịch vụ tài chính đa dạng; ưu tiên tài chính toàn diện cho nhóm yếu thế; nhận hỗ trợ chính sách và ưu đãi từ cơ quan quản lý; thu hút khách hàng bằng giá cả cạnh tranh và chia sẻ lợi nhuận với thành viên, tạo lợi thế so với ngân hàng truyền thống. Thứ tư, một số mô hình hoặc trường hợp HTX tài chính thất bại chủ yếu do quản lý yếu, kém; thiếu giám sát, rủi ro hoạt động do gian lận nội bộ, tham nhũng…

PGS,.TS. Lê Thanh Tâm - Trưởng bộ môn Ngân hàng thương mại, Viện Ngân hàng - tài chính, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân chia sẻ tại Hội thảo
PGS., TS. Lê Thanh Tâm - Trưởng bộ môn Ngân hàng thương mại, Viện Ngân hàng - Tài chính, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân chia sẻ tại Hội thảo

Từ phân tích trên, PGS.,TS. Lê Thanh tâm đã đề xuất các bài học nhằm hoàn thiện mô hình HTX ở Việt Nam, đó là: Thứ nhất, hoàn thiện mô hình quản trị và quản lý rủi ro trên cơ sở phát huy tối đa các điểm mạnh của mô hình hợp tác xã. Trong đó, xây dựng mô hình quản trị của NHHTX theo chuẩn quốc tế, phù hợp với đặc thù hợp tác xã. Tạo cơ chế khuyến khích các QTDND hoạt động minh bạch. Về phía NHNN, cần ủy quyền đầy đủ hơn một số nhiệm vụ giám sát và kiểm tra các QTDND, cho phép NHHTX được thực thi cơ chế thưởng, phạt các QTDND một cách triệt để. Trong bối cảnh sáp nhập các chi nhánh NHNN cấp tỉnh, thành, khu vực như hiện nay, NHHTX có nhiều lợi thế hơn trong thực hiện các hoạt động này. Với các quyền hạn trên, vai trò của NHHTX trong hỗ trợ liên kết hệ thống mới được phát huy tối đa. Thứ hai, tăng cường chuyển đổi số mạnh mẽ và hiệu quả trong NHHTX với việc phát triển các tính năng trên nền tảng ngân hàng số app phục vụ khách hàng và thành viên QTDND; ứng dụng công nghệ vào quản lý tín dụng, rủi ro, tăng cường an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu. Thứ ba, nâng cao năng lực tài chính của NHHTX, trong đó nhấn mạnh bộ đệm vốn mạnh giúp NHHTX vượt qua các cú sốc kinh tế trong bối cảnh biến động khó lường hiện nay trên thế giới. Thứ tư, đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ; địa phương hóa hoạt động, phát triển các sản phẩm, dịch vụ tích hợp tài chính xanh và phát triển bền vững. Trong đó tận dụng các điểm mạnh của NHHTX và hệ thống QTDND trong thực hiện tài chính toàn diện tại Việt Nam, phát triển các sản phẩm, dịch vụ cho các đối tượng khách hàng tài chính toàn diện. Thứ năm, tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực cho nhân sự toàn hệ thống trong bối cảnh chuyển đổi số; khuyến khích văn hóa học tập liên tục, đẩy mạnh hợp tác và trao đổi kinh nghiệm với các tổ chức quốc tế, các tổ chức nước ngoài.

TS. Nguyễn Thị Kim Thanh - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội QTDND Việt Nam: Cần thu hẹp số lượng QTDND và tăng quy mô hoạt động của một QTDND

Để thúc đẩy hệ thống các TCTD hợp tác phát triển an toàn, hiệu quả, đúng tôn chỉ, mục đích, TS. Nguyễn Thị Kim Thanh - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội QTDND Việt Nam khuyến nghị, việc sắp xếp, nâng cao khả năng quản trị, điều hành của các QTDND để góp phần bảo đảm an toàn hệ thống các TCTD và hình thành hệ thống QTDND có sức mạnh tài chính thực sự, có khả năng quản lý, kiểm soát rủi ro, quản trị tốt. Cơ sở của việc đưa ra định hướng này đó là xuất phát từ bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đang trong giai đoạn tái cơ cấu quốc gia, thay đổi địa giới hành chính cấp xã, phường; chuyển đổi số mạnh mẽ tạo sức cạnh tranh quyết trên thị trường tài chính tiền tệ… Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Thị Kim Thanh, cần có một quyết định của Bộ Chính trị để thu hẹp số lượng QTDND, đồng thời giải quyết vấn đề khó nhất khi thực hiện định hướng này, đó là nguồn lực tài chính để hỗ trợ cho QTDND được sáp nhập và NHHTX có thể tham gia và hỗ trợ các QTDND thực hiện quá trình sáp nhập, tạo ra những lợi ích vượt trội cho các QTDND…

TS. Nguyễn Thị Kim Thanh - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội QTDND Việt Nam phát biểu tại Hội thảo
TS. Nguyễn Thị Kim Thanh - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội QTDND Việt Nam phát biểu tại Hội thảo

ThS. Phan Đức Tuấn - Chủ tịch Hội đồng quản trị QTDND Kim Chung, Hà Nội: Phải hiểu và xác định chuyển đổi số là xu hướng phát triển tất yếu

“Chuyển đổi số là con đường tất yếu để tăng năng lực canh tranh, phát triển bền vững của QTDND” ThS. Phan Đức Tuấn - Chủ tịch Hội đồng quản trị QTDND Kim Chung, Hà Nội cho biết. Như QTDND Kim Chung nằm ở phía Tây huyện Đông Anh, việc chuyển đổi số đã đóng góp đáng kể vào kết quả kinh doanh của Quỹ. Trong năm 2024, NHHTX phát triển dịch vụ chuyển tiền điện tử nhanh 24/7, mang lại sự thuận tiện vượt trội cho khách hàng. Nhờ đó, số lượng giao dịch chuyển tiền đi/đến tại QTDND Kim Chung tăng khá mạnh, với 6.081 lượt khách hàng thực hiện giao dịch, tổng số giá trị giao dịch lên tới 605,8 tỉ đồng.

  ThS. Phan Đức Tuấn - Chủ tịch Hội đồng quản trị QTDND Kim Chung, Hà Nội phát biểu tại Hội thảo
ThS. Phan Đức Tuấn - Chủ tịch Hội đồng quản trị QTDND Kim Chung, Hà Nội phát biểu tại Hội thảo

Việc áp dụng và triển khai các sản phẩm Fintech hiện đại đã giúp Quỹ “Trẻ hóa thành viên, khách hàng”. Nếu trước đây, giao dịch chủ yếu dựa vào tiền mặt thì nay thanh toán chuyển tiền điện tử ngày càng chiếm tỉ trọng lớn hơn, giảm đáng kể việc kiểm đếm tiền mặt, tiết kiệm thời gian, chi phí và nhân lực. Đặc biệt, dù số lượng cán bộ nhân viên giảm từ 17 cán bộ xuống 14 người nhưng hiệu quả công việc vẫn bảo đảm và không ngừng tăng trưởng. Sự đổi mới này giúp QTDND Kim Chung xây dựng hình ảnh trẻ trung, năng động, hiện đại, thân thiện, chuyên nghiệp; nâng cao niềm tin của khách hàng và thành viên; đồng thời gia tăng khả năng cạnh tranh trong thị trường tài chính.

Tuy nhiên, việc chuyển đổi số tại các QTDND còn gặp nhiều bất cập. Đây không chỉ là bài toán đổi mới công nghệ mà còn đòi hỏi phải đổi mới trong tư duy quản trị. Vì vậy để các QTDND tiếp tục hoạt động ổn định, an toàn và phát triển, phải chuyển đổi nhận thức, tăng cường truyền thông để các QTDND hiểu và có kiến thức về chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng. Đặc biệt, phải tuyên truyền cho lãnh đạo và cán bộ của các QTDND nâng cao trách nhiệm và hiểu đúng về chuyển đổi số. Bên cạnh đó, phải hình thành và phát triển ngân hàng số tại NHHTX và QTDND. Xây dựng các nghiệp vụ cho phép khách hàng, QTDND, thành viên QTDND có thể thực hiện hoàn toàn trên môi trường số thông qua việc kết nối vào hệ thống thanh toán của NHHTX…

Chủ tịch Hội đồng quản trị NHHTX Nguyễn Quốc Cường đề xuất cần có một Chỉ thị mới của Bộ Chính trị thay cho Chỉ thị số 57-CT/TW

Theo Chủ tịch Hội đồng quản trị NHHTX Nguyễn Quốc Cường, hiện nay, các QTDND đang có xu hướng già hóa thành viên. Lợi thế gần dân, sát dân của QTDND bị triệt tiêu trong bối cảnh các TCTD chuyển đổi số mạnh mẽ, các App ngân hàng cung ứng dịch vụ 24/7. Chủ tịch Hội đồng quản trị NHHTX Nguyễn Quốc Cường đề xuất cần có một Chỉ thị mới của Bộ Chính trị thay cho Chỉ thị số 57-CT/TW ngày 10/10/2000 về củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống QTDND làm căn cơ cho phát triển hệ thống trong những năm tiếp theo.

Chủ tịch Hội đồng quản trị NHHTX Nguyễn Quốc Cường phát biểu tại Hội thảo
Chủ tịch Hội đồng quản trị NHHTX Nguyễn Quốc Cường phát biểu tại Hội thảo

Phát biểu kết luận tại Hội thảo, Phó Thống đốc NHNN Đoàn Thái Sơn ghi nhận các ý kiến của các chuyên gia, nhà nghiên cứu và quản lý đã chỉ ra bức tranh toàn diện về kết quả đạt được, thách thức, đề xuất nhiều giải pháp để có bước phát triển mới cho hệ thống QTDND trong kỷ nguyên mới. Đây sẽ là nguồn thông tin gợi ý quan trọng để NHHTX xây dựng Đề án, báo cáo NHNN với những định hướng mới cho hoạt động của hệ thống QTDND trong thời gian tới. Phó Thống đốc NHNN Đoàn Thái Sơn cũng chỉ ra tính ưu việt và khác biệt, làm điểm tựa cho hệ thống QTDND phát triển bền vững, đó chính là hoạt động không vì lợi nhuận mà trên cơ sở vì quyền lợi cộng đồng. Bên cạnh đó là những trợ lực từ khung khổ pháp lý mới cho hoạt động của hệ thống QTDND trong thời gian qua.

Toàn cảnh Hội thảo
Toàn cảnh Hội thảo

Về định hướng trong thời gian tới, Phó Thống đốc NHNN Đoàn Thái Sơn nhấn mạnh, đã đến lúc xây dựng một chiến lược mới cho hệ thống QTDND, trong đó định vị NHHTX và QTDND là hoạt động tài chính vi mô trên cơ sở tương hỗ và phát triển dựa vào cộng đồng. Phó Thống đốc NHNN Đoàn Thái Sơn cũng đặt mục tiêu Đề án phát triển QTDND cần tăng tính liên kết hệ thống, trong đó, vai trò NHHTX là trung tâm của liên kết, đồng thời, đề nghị đánh giá lại vai trò đóng góp của QTDND với NHHTX và ngược lại để có cải cách toàn diện, triệt để trong mô hình liên kết mới.

Mặc dù đã có những bước đi nhanh, mạnh, kịp thời, tuy nhiên thời gian tới, NHHTX không chỉ cần nâng cao năng lực tài chính, mà cả nguồn nhân lực, quản trị. Đặc biệt, việc 63 NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố cơ cấu thành 15 NHNN khu vực, đòi hỏi NHHTX phải hỗ trợ NHNN nhiều hơn nữa, nhất là trong công tác thanh tra, kiểm tra cần phối hợp với NHNN khu vực để giúp hệ thống phát triển an toàn, hiệu quả.

Minh Ngọc

Tin bài khác

Hợp tác quốc tế trong phòng, chống rửa tiền: Vai trò của Việt Nam trong mạng lưới khu vực và toàn cầu

Hợp tác quốc tế trong phòng, chống rửa tiền: Vai trò của Việt Nam trong mạng lưới khu vực và toàn cầu

Trong bối cảnh hợp tác quốc tế về phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố ngày càng được tăng cường, bài viết làm rõ vai trò chủ động của Việt Nam trong các cơ chế khu vực và toàn cầu, đồng thời phân tích thách thức và định hướng nâng cao vị thế, uy tín và hiệu quả đóng góp của Việt Nam trong hợp tác quốc tế về phòng, chống rửa tiền.
Vai trò của bộ phận tuân thủ trong kỷ nguyên số: Từ chức năng kiểm soát đến trụ cột kiến tạo niềm tin

Vai trò của bộ phận tuân thủ trong kỷ nguyên số: Từ chức năng kiểm soát đến trụ cột kiến tạo niềm tin

Bài viết phân tích quá trình chuyển dịch vai trò của bộ phận tuân thủ trong kỷ nguyên số, từ chức năng kiểm soát mang tính tuân thủ pháp lý sang trụ cột chiến lược trong hệ thống quản trị doanh nghiệp, góp phần kiến tạo niềm tin, nâng cao năng lực quản trị rủi ro và thúc đẩy phát triển bền vững của các tổ chức tài chính - ngân hàng.
Chuyển đổi số ngân hàng năm 2025: Kết nối dữ liệu và giữ vững niềm tin số

Chuyển đổi số ngân hàng năm 2025: Kết nối dữ liệu và giữ vững niềm tin số

Với quan điểm, chủ trương nhất quán của Chính phủ: “Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể và là động lực chính của công cuộc chuyển đổi số ngành Ngân hàng”; “dữ liệu là nền tảng cốt lõi, tài sản quan trọng và nguồn lực chiến lược, quyết định hiệu quả chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo giá trị mới cho ngành Ngân hàng và nền kinh tế”, năm 2025 ngành Ngân hàng tiếp tục hoàn thành một năm chuyển mình mang tính chiến lược, khẳng định vai trò huyết mạch của nền kinh tế không chỉ qua dòng tiền mà còn ở sự kết nối dữ liệu và niềm tin số.
Kinh tế Việt Nam 2025: Thành tựu bứt phá trên nền tảng điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén

Kinh tế Việt Nam 2025: Thành tựu bứt phá trên nền tảng điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén

Năm 2025 khép lại với những dấu ấn tăng trưởng nổi bật của kinh tế Việt Nam, bất chấp bối cảnh quốc tế nhiều biến động. Tăng trưởng GDP vượt 8%, lạm phát được kiểm soát và các cân đối lớn duy trì ổn định đã cho thấy hiệu quả rõ nét của điều hành vĩ mô, trong đó chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén đóng vai trò then chốt, tạo bệ đỡ cho phục hồi và phát triển.
Chính sách tiền tệ góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế năm 2025

Chính sách tiền tệ góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế năm 2025

Sáng 31/12, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham dự và chỉ đạo Hội nghị. Giai đoạn 2021 - 2025 là một nhiệm kỳ ghi dấu ấn đặc biệt của ngành Ngân hàng. Những nỗ lực bền bỉ của toàn hệ thống ngân hàng đã tạo nên nhiều thành tựu nổi bật, là những gam màu sáng trong bức tranh tổng thể của nền kinh tế Việt Nam, góp phần quan trọng vào ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đó cũng là nền tảng vững chắc, tạo thế và lực để ngành Ngân hàng vững bước tiến vào chặng đường phát triển mới.
Tác động của cấu trúc nguồn vốn huy động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của vốn chủ sở hữu

Tác động của cấu trúc nguồn vốn huy động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của vốn chủ sở hữu

Nghiên cứu này làm rõ tác động của tiền gửi khách hàng và nguồn vốn phi tiền gửi đến khả năng sinh lời của ngân hàng, đồng thời chỉ ra vai trò điều tiết quan trọng của vốn chủ sở hữu trong mối quan hệ này. Kết quả thực nghiệm cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc tối ưu hóa cấu trúc nguồn vốn và định hướng chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Tác động của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tại các quốc gia ASEAN

Tác động của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tại các quốc gia ASEAN

Bài viết phân tích vai trò của tín dụng xanh trong bối cảnh các quốc gia ASEAN đối mặt với thách thức biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, qua đó làm rõ tác động tích cực của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần, đồng thời xem xét mức độ ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong mối quan hệ này.
Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu đề xuất hàm ý chính sách cho các nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý: Các ngân hàng cần định hình và vận dụng khẩu vị rủi ro như một chiếc la bàn xuyên suốt quá trình quản trị; đồng thời, cần chủ động trích lập dự phòng dựa trên các dự báo và kịch bản kinh tế vĩ mô, tăng cường giám sát sớm để phát hiện kịp thời các dấu hiệu suy giảm chất lượng tín dụng, xử lý nợ xấu một cách dứt khoát nhằm tránh hiệu ứng tích tụ rủi ro.
Xem thêm
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường

Trong bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế nhiều biến động, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã phát huy vai trò trung tâm trong điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn 2023 - 2025, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững giai đoạn 2025 - 2030.
Một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 đối với các ngân hàng tại Việt Nam

Một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 đối với các ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 (hai chuẩn mực báo cáo bền vững toàn cầu đầu tiên do Hội đồng Chuẩn mực Bền vững Quốc tế (ISSB) thuộc Tổ chức Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS Foundation) ban hành năm 2023, giúp doanh nghiệp công bố thông tin về rủi ro và cơ hội liên quan đến phát triển bền vững (S1) và khí hậu (S2) một cách nhất quán, minh bạch, hỗ trợ nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư, hướng tới một ngôn ngữ chung cho báo cáo bền vững trên toàn thế giới) đối với các ngân hàng tại Việt Nam và làm rõ vai trò của hai chuẩn mực báo cáo bền vững này như “ngôn ngữ chung” nhằm giúp hệ thống ngân hàng minh bạch hóa rủi ro cũng như cơ hội khí hậu, từng bước hội nhập sâu vào dòng chảy tài chính toàn cầu.
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Luật Thương mại điện tử năm 2025 ra đời trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ đã tạo ra những thay đổi quan trọng đối với hệ sinh thái thương mại điện tử, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm phát huy vai trò của hệ thống tài chính - ngân hàng và bảo đảm an toàn, ổn định cho nền kinh tế số Việt Nam.
Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Ngày 01/01/2026, Văn phòng Quốc hội công bố 10 sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025
Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Đối với Việt Nam, việc ban hành các văn bản pháp luật đã phần nào đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (viết tắt là cơ chế thử nghiệm), đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, để cơ chế thử nghiệm thực sự phát huy hiệu quả, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý tổng thể, thiết lập quy trình minh bạch, cơ chế giám sát rủi ro chặt chẽ và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý, đồng thời cần gắn với mục tiêu phát triển bền vững và chuyển đổi số quốc gia.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.
Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Kết quả khảo sát năm 2025 của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) cho thấy thị trường ngoại hối toàn cầu đã sôi động trở lại từ đầu quý II/2025, với quy mô giao dịch tăng mạnh dưới tác động của bất ổn kinh tế, biến động tỉ giá USD và những điều chỉnh chiến lược phòng hộ, đầu cơ của các chủ thể tham gia thị trường.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Quyết định vay vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài thị trường tài chính thuần túy, trong đó môi trường thông tin và thể chế ngày càng nổi lên như những biến số quan trọng. Trên cơ sở phân tích định lượng, bài viết đánh giá vai trò của tự do ngôn luận trong mối quan hệ giữa tham nhũng và sự nản lòng vay vốn ngân hàng.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng