Tiền gửi dân cư tiếp tục tăng mạnh

Hoạt động ngân hàng
Theo số liệu vừa được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) công bố, đến hết tháng 7/2025, tiền gửi của dân cư tiếp tục lập đỉnh mới với gần 7,75 triệu tỉ đồng, tăng 9,68% so với đầu năm. Riêng trong tháng 7/2025, tiền gửi cư dân đã tăng thêm khoảng 54.087 tỉ đồng. Trong bối cảnh các kênh đầu tư khác đang hấp dẫn, kênh gửi tiết kiệm vẫn được nhiều người lựa chọn vì sự an toàn, lãi suất thực dương và đảm bảo được quyền lợi người gửi tiền. Trong khi đó, tiền gửi của doanh nghiệp đạt hơn 7,98 triệu tỉ đồng, tăng 4,04% so với cuối năm 2024.
aa
Tiền gửi dân cư tiếp tục tăng mạnh
Trong bối cảnh các kênh đầu tư khác đang hấp dẫn, kênh gửi tiết kiệm vẫn được nhiều người lựa chọn vì sự an toàn. Ảnh: Trần Hiền

NHNN tạo điều kiện cho các TCTD tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp, qua đó hỗ trợ nền kinh tế

Theo báo cáo của NHNN, trong tháng 7/2025, lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước ở mức 0,1- 0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 3,3 - 4,0%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4,6 - 5,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; 4,9 - 6,1%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ trên 12 tháng đến 24 tháng và 6,9 - 7,3%/năm đối với kỳ hạn trên 24 tháng.

Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 9 tháng năm 2025, CPI tăng 3,27% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 3,19%. CPI tháng 9 tăng 2,61% so với tháng 12/2024; tăng 3,38% so với cùng kỳ năm trước.

Với mức lãi suất và diễn biến CPI trên, thì lãi suất vẫn thực dương. Có thể hiểu lãi suất thực dương là mức lãi suất đủ bù đắp sự mất giá của đồng tiền và có lãi thực ở một mức độ nào đó. Nói khác đi, lãi suất tiền gửi ngân hàng phải lớn hơn tỉ lệ lạm phát, nhờ đó bảo đảm người gửi tiền vẫn có lợi. Hơn nữa, quyền lợi người gửi tiền cũng luôn được bảo đảm nhờ chính sách bảo hiểm tiền gửi.

Trong điều hành lãi suất, từ đầu năm 2025 đến nay, NHNN tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp, qua đó có điều kiện để hỗ trợ nền kinh tế. Đồng thời, NHNN thường xuyên chỉ đạo TCTD tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để phấn đấu giảm lãi suất cho vay.

NHNN đã tổ chức làm việc trực tiếp và có công văn chỉ đạo toàn hệ thống TCTD ổn định lãi suất tiền gửi, giảm lãi suất cho vay; thực hiện quyết liệt, hiệu quả hơn nữa chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đơn giản hóa thủ tục và các biện pháp khác để giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh; tiếp tục duy trì công bố lãi suất cho vay bình quân, chênh lệch lãi suất tiền gửi và cho vay bình quân.

Đến ngày 10/9/2025, lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 4,11%/năm, tương đương với mức lãi suất cuối năm 2024 và lãi suất cho vay bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,52%/năm, giảm 0,41%/năm so với cuối năm 2024.

Trên thị trường, để thu hút khách hàng, một số NHTM đã rục rịch tăng lãi suất tiền gửi VND ở kỳ hạn dài từ đầu tháng 10/2025 như: NHTM Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên (TNHH MTV) Kỷ Nguyên Thịnh Vượng (GPBank); NHTM cổ phần Quốc Dân (NCB); Ngân hàng số Vikki (Vikki Bank); NHTM cổ phần Bắc Á (Bac A Bank); NHTM TNHH MTV Ngoại thương Công nghệ số (VCBNeo) - tên gọi mới của NHTM cổ phần Xây dựng (CBBank) sau khi được chuyển giao về Vietcombank; NHTM cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank).

Một số chuyên gia dự báo trong ngắn hạn, mặt bằng lãi suất (cả huy động và cho vay) sẽ ít biến động, có khả năng điều chỉnh giảm nhẹ trong những tháng cuối năm 2025 và có thể tăng trở lại vào đầu năm 2026, nhưng không mạnh.

Thời gian tới, triển vọng kinh tế toàn cầu được dự báo tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức và rủi ro gia tăng. Tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm và không đồng đều, thương mại quốc tế căng thẳng với các rào cản thuế quan gia tăng, rủi ro lạm phát cao dai dẳng tại các nền kinh tế phát triển. Cùng với đó là những bất ổn địa chính trị, căng thẳng thương mại giữa các cường quốc, những tác động gián tiếp của các yếu tố này lên các nền kinh tế đang phát triển.

NHNN cho biết sẽ theo dõi sát tình hình để điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường, kinh tế vĩ mô, lạm phát và mục tiêu chính sách tiền tệ. Tiếp tục chỉ đạo các TCTD tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để giảm lãi suất cho vay.

Từng bước huy động nguồn lực vàng trong dân

Không chỉ gửi tiết kiệm, những kênh đầu tư khác như chứng khoán, vàng đang rất thu hút nhà đầu tư. Mới đây, ngày 8/10/2025 (vào lúc 03 giờ 00 phút theo giờ Hà Nội), tổ chức xếp hạng thị trường FTSE Russell công bố thị trường chứng khoán Việt Nam đã đáp ứng toàn bộ các tiêu chí chính thức và được nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp. Theo các chuyên gia, việc FTSE nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam là một bước tiến rất tích cực, khi giá trị giao dịch trên thị trường đã vượt 3 tỉ USD. Thị trường chứng khoán khép lại với nhiều phiên giao dịch trong sắc xanh, được nâng đỡ mạnh bởi nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn và sự bứt phá của các mã bất động sản, đầu tư công.

Trên thị trường vàng, người dân đổ xô đi mua vàng khi giá vàng liên tiếp lập kỷ lục, vượt mốc 150 triệu đồng/lượng (sáng 17/10/2025, giá vàng miếng SJC ở mức 149,4 - 150,9 triệu đồng/lượng (mua - bán). Lúc 8 giờ 44 phút ngày 17/10/2025 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay ở mức 4.295,7 USD/ounce, tăng 44,7 USD/ounce so với đêm hôm trước. Cũng trong sáng 17/10, vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng ở mức giá gần 137,5 triệu đồng/lượng, đã bao gồm thuế và phí, thấp hơn khoảng 14,7 triệu đồng/lượng so với giá vàng trong nước.

So với đầu năm, vàng thế giới đã tăng giá hơn 50%, đánh dấu một năm bứt phá chưa từng có của kim loại quý này. Các chuyên gia cho rằng, đà tăng mạnh của vàng phản ánh nỗi lo lạm phát dai dẳng, sự bất định của chính sách tiền tệ toàn cầu và tác động của xung đột địa chính trị kéo dài.

Trong báo cáo vừa gửi Quốc hội, Chính phủ cho rằng, vàng tăng giá thời gian qua không loại trừ khả năng một số doanh nghiệp, cá nhân lợi dụng biến động của thị trường để đầu cơ, thao túng giá nhằm trục lợi bất chính.

Chính phủ nhận định, nguyên nhân thứ nhất khiến chênh lệch giá vàng tăng trở lại mấy tháng gần đây là do giá vàng thế giới liên tục tăng mạnh do ảnh hưởng tiêu cực từ diễn biến kinh tế toàn cầu; tình hình địa chính trị thế giới tiếp tục căng thẳng và tác động của chính sách thuế quan của Mỹ. Thứ hai, tâm lý kỳ vọng giá vàng sẽ tiếp tục tăng cao trong bối cảnh USD suy yếu và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã giảm cắt giảm 0,25 điểm phần trăm lãi suất trong kỳ họp tháng 9/2025 khiến nhiều người dân tập trung mua vàng, trong khi nguồn cung hạn chế, dẫn đến mất cân đối cung - cầu. Thứ ba, không loại trừ khả năng một số doanh nghiệp, cá nhân lợi dụng biến động của thị trường để đầu cơ, thao túng giá nhằm trục lợi bất chính…

Theo các chuyên gia, giá vàng trong nước diễn biến tăng theo đà của giá vàng thế giới, tuy nhiên giá vàng quy đổi trong nước vẫn chênh cao so với giá thế giới, do đó nhà đầu tư cần thận trọng, không nên mua bán theo phong trào, đặc biệt, thời gian tới, những quyết sách mới liên quan đến thị trường vàng đang dần được hiện thực hóa.

Cụ thể, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư tại Thông báo số 211-TB/VPTW ngày 30/5/2025 về cơ chế, chính sách quản lý hiệu quả thị trường vàng, NHNN đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 232/2025/NĐ-CP ngày 26/8/2025 (Nghị định số 232/2025/NĐ-CP) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 24/2012/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng. Nghị định số 232/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 10/10/2025; theo đó, Nghị định này bãi bỏ quy định Nhà nước độc quyền vàng miếng, mở rộng đối tượng sản xuất vàng miếng và nhập khẩu vàng nguyên liệu.

Đối với thị trường vàng miếng: Nghị định số 232/2025/NĐ-CP quy định NHNN cấp phép cho các doanh nghiệp, NHTM đủ điều kiện tham gia sản xuất vàng miếng, đồng thời cấp phép cho các đơn vị này được nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng.

Đối với thị trường vàng trang sức, mỹ nghệ: Nghị định số 232/2025/NĐ-CP quy định NHNN cấp phép cho các doanh nghiệp, NHTM được nhập khẩu vàng nguyên liệu để bán cho doanh nghiệp để sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ.

Nghị định số 232/2025/NĐ-CP cũng giao NHNN hướng dẫn quy định hồ sơ, thủ tục cấp Giấy phép sản xuất vàng miếng; kinh doanh mua, bán vàng miếng; sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ.

Đồng thời, NHNN đã khẩn trương ban hành Thông tư số 34/2025/TT-NHNN ngày 09/10/2025 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 232/2025/NĐ-CP. Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động nhập khẩu vàng, sản xuất và kinh doanh mua, bán vàng trong nước.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước về cơ chế, chính sách quản lý thị trường vàng, trong đó có giao NHNN phối hợp các cơ quan liên quan nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế để triển khai thành lập Sàn Giao dịch vàng nhằm mục tiêu góp phần kết nối cung - cầu vàng trong nước một cách công khai, minh bạch, hoạt động theo nguyên tắc thị trường, đồng thời đảm bảo công tác quản lý Nhà nước hiệu lực, hiệu quả, ngày 15/10/2025, NHNN tổ chức Tọa đàm về thành lập Sàn Giao dịch vàng tại Việt Nam.

Tại Tọa đàm, ông Đào Xuân Tuấn, Cục trưởng Cục Quản lý ngoại hối (NHNN) có 3 đề xuất mô hình sàn vàng tại Việt Nam gồm: Thành lập Sàn giao dịch vàng quốc gia; cho phép đưa vàng vào giao dịch trên Sở giao dịch hàng hóa; lập Sàn giao dịch vàng trong Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.

Các phương án thành lập sàn giao dịch vàng tại Việt Nam đều nhằm hướng đến việc tạo lập một trung tâm giao dịch vàng theo lộ trình và các cơ sở hạ tầng, công nghệ phục vụ (như trung tâm thanh toán, các kho lưu trữ,...), từng bước huy động nguồn vàng trong dân.

Bước đầu sẽ là sàn giao dịch vàng vật chất, trở thành kênh phân phối vàng nguyên liệu nhập khẩu đủ tiêu chuẩn, đảm bảo công khai minh bạch. Tiếp đến là từng bước theo lộ trình triển khai các sản phẩm vàng tài khoản, phái sinh. Mục đích cuối cùng là biến sàn vàng thành kênh huy động nguồn lực vàng trong dân, giảm tích trữ vàng, chuyển hóa thành nguồn lực đầu tư vào sản xuất, kinh doanh.

NHNN căn cứ vào diễn biến kinh tế vĩ mô, việc thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ và diễn biến thị trường vàng trong từng thời kỳ để điều tiết hạn mức nhập khẩu vàng nguyên liệu, bảo đảm NHNN thực hiện tốt vai trò hoạch định chính sách của Ngân hàng Trung ương và chức năng quản lý nhà nước đối với thị trường vàng. Trên cơ sở tổng hạn mức hằng năm, NHNN thực hiện cấp hạn mức hằng năm cho doanh nghiệp, NHTM.

Hà Trang
NHNN

Tin bài khác

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Bài viết phân tích những cơ hội và thách thức đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) trong quá trình tái cơ cấu gắn với chuyển đổi số, đồng thời đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao năng lực quản trị, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững của hệ thống trong giai đoạn tới.
Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành. Tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là: Chuyển đổi số phải đi cùng an toàn; khai thác dữ liệu phải đi cùng bảo vệ dữ liệu; ứng dụng AI phải đi cùng quản trị rủi ro; đổi mới sáng tạo phải đi cùng tuân thủ, kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Sự hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đặt ra yêu cầu thiết kế thể chế mới: Dịch vụ ngân hàng số phục vụ IFC không thể được đồng nhất với các tiện ích số bán lẻ vốn đã phát triển nhanh trong thập kỷ qua. Trên cơ sở phân tích đối chứng giữa Singapore và Hồng Kông, bài viết xây dựng khung năng lực vận hành gồm bốn lớp hạ tầng (gia nhập thị trường, giao dịch, tuân thủ, niềm tin thị trường) và chỉ ra rằng sức mạnh của một IFC phụ thuộc vào độ sâu và khả năng liên thông của các lớp dịch vụ ở cấp độ tổ chức, không phải vào quy mô dịch vụ bán lẻ. Trên nền tảng đó, nghiên cứu đề xuất lộ trình ba giai đoạn cho IFC Việt Nam: (1) Chuẩn hóa định danh điện tử (eKYC) cho khách hàng phi cư trú, tài khoản đa tiền tệ và thanh toán xuyên biên giới theo chuẩn ISO 20022 trong giai đoạn 2026 - 2027; (2) Phát triển ngoại hối tổ chức, tài trợ thương mại số và lưu ký số trong giai đoạn 2027 - 2029; (3) Hoàn thiện công nghệ giám sát (SupTech), tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) bán buôn và cơ chế tường lửa tài chính từ năm 2029.
Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính theo hướng hiện đại, an toàn, minh bạch và có khả năng kết nối quốc tế. Trong bối cảnh đó, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số giữ vai trò then chốt; không chỉ hỗ trợ thanh toán, quản lý dòng tiền, giao dịch ngoại hối, tài trợ thương mại, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường tài chính, cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế số.
Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

Bài viết phân tích thực trạng triển khai tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) tại các ngân hàng Việt Nam, làm rõ tác động của ESG đối với hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển ngân hàng bền vững và tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Xem thêm
Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng chịu tác động bởi những rủi ro mới và yêu cầu quản trị ngày càng cao, kiểm toán nội bộ giữ vai trò quan trọng trong củng cố hệ thống kiểm soát, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh tài chính khu vực, đồng thời đòi hỏi những đột phá về thể chế, hạ tầng, địa kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 44/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2025/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí

Thông tư số 43/2026/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối