Hệ thống Ngân hàng Khu vực 14 thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương

Hoạt động ngân hàng
Bám sát định hướng và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), NHNN Chi nhánh Khu vực 14 đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn triển khai mạnh mẽ các giải pháp tín dụng, góp phần ổn định kinh tế - xã hội địa phương, thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
aa

Trong bức tranh tổng thể theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, hệ thống Ngân hàng Khu vực 14 (bao gồm thành phố Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long) tiếp tục khẳng định vai trò then chốt, góp phần duy trì ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội. Sau hơn hai tháng sáp nhập, vận hành theo mô hình mới, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng kinh tế - xã hội của thành phố Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực.

“Bệ phóng” dẫn vốn tăng trưởng tích cực

Năm 2025, bám sát định hướng tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ở mức 16% và các chỉ đạo trọng tâm tại Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 20/01/2025 của Thống đốc NHNN về triển khai nhiệm vụ ngành Ngân hàng, cùng Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 13/01/2022 về đẩy mạnh chuyển đổi số và bảo đảm an toàn thông tin, NHNN Chi nhánh Khu vực 14 đã chỉ đạo các TCTD trên địa bàn triển khai đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp.

Hoạt động tín dụng tiếp tục được định hướng ưu tiên vào các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh và các ngành kinh tế trọng điểm, có động lực tăng trưởng; đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn và hiệu quả.

Trong 9 tháng đầu năm 2025, tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long - địa bàn thuộc NHNN Chi nhánh Khu vực 14 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định, đạt nhiều kết quả tích cực. Tổng thu ngân sách nhà nước toàn khu vực đạt 32.823 tỉ đồng, trong đó thành phố Cần Thơ đạt 17.469 tỉ đồng (chiếm 53,22%), tỉnh Vĩnh Long đạt 15.354 tỉ đồng (chiếm 46,78%).

Hoạt động đầu tư phát triển ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Tổng vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước đạt 23.079 tỉ đồng, trong đó thành phố Cần Thơ đạt 14.075 tỉ đồng (chiếm 60,98%), tỉnh Vĩnh Long đạt 9.004 tỉ đồng (chiếm 39,01%).

Về nông nghiệp và thủy sản, người dân trên địa bàn tích cực xuống giống vụ lúa Thu - Đông, đồng thời tiếp tục chăm sóc, thu hoạch vụ Hè - Thu. Nuôi trồng thủy sản duy trì ổn định, trong khi hoạt động khai thác biển gặp khó khăn do nguồn lợi thủy sản suy giảm. Diện tích gieo trồng lúa toàn khu vực đạt 852.463 ha, với sản lượng đạt khoảng 3.710.849 tấn. Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 100.574 ha, với sản lượng đạt 1.039.993 tấn.

Về công nghiệp, hoạt động sản xuất tiếp tục ổn định và có xu hướng tăng trưởng, tuy nhiên tốc độ tăng có phần chậm lại. Chỉ số sản xuất công nghiệp trong 9 tháng đầu năm 2025, thành phố Cần Thơ tăng 9,1%, tỉnh Vĩnh Long tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước.

Về thương mại - dịch vụ, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Trong 9 tháng đầu năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 380.448 tỉ đồng, tăng 17,9% so với cùng kỳ; kim ngạch xuất khẩu đạt 6.998 triệu USD (tăng 12,50%), nhập khẩu đạt 2.742 triệu USD (tăng 11,52%).

Trong bối cảnh đó, hệ thống ngân hàng Khu vực 14 tiếp tục khẳng định vai trò then chốt trong việc điều tiết dòng vốn, hỗ trợ phát triển kinh tế, góp phần duy trì ổn định kinh tế - xã hội và thúc đẩy tăng trưởng bền vững tại địa phương.

Hoạt động sản xuất trên địa bàn tiếp tục ổn định và có xu hướng tăng trưởng (Nguồn ảnh: Tác giả cung cấp)
Hoạt động sản xuất trên địa bàn tiếp tục ổn định và có xu hướng tăng trưởng

Sản xuất - kinh doanh tiếp tục là “đầu kéo” tăng trưởng tín dụng

Trong 9 tháng đầu năm 2025, các TCTD trên địa bàn Khu vực 14 đã nghiêm túc tuân thủ các quy định của NHNN về trần lãi suất huy động bằng VND đối với tiền gửi dưới 6 tháng, tiền gửi bằng USD, cũng như trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên.

Hoạt động huy động vốn tiếp tục tăng trưởng tích cực, tạo nền tảng ổn định cho hoạt động tín dụng. Tính đến ngày 30/9/2025, tổng nguồn vốn huy động của các TCTD trên địa bàn đạt 386.150 tỉ đồng, tăng 6,79% so với cuối năm 2024, đáp ứng 78,49% tổng dư nợ. Trong đó, thành phố Cần Thơ huy động 219.855 tỉ đồng chiếm 57,12%, tăng 2,69%; tỉnh Vĩnh Long đạt 166.295 tỉ đồng (chiếm 42,88%), tăng 5,92%.

Vốn huy động ngắn hạn đạt 347.508 tỉ đồng, chiếm 89,73% tổng vốn huy động, tăng 9,23%; trong khi vốn huy động kỳ hạn từ 12 tháng trở lên đạt 38.642 tỉ đồng, chiếm 10,27%, giảm 26,41%.

Xét theo cơ cấu tiền gửi, tiền gửi tiết kiệm và có kỳ hạn chiếm tỉ trọng lớn nhất với 314.526 tỉ đồng (83,6%), tăng 22,97%. Ngược lại, tiền gửi thanh toán giảm mạnh 43,9%, còn 56.997 tỉ đồng. Huy động thông qua phát hành giấy tờ có giá đạt 4.710 tỉ đồng, tăng 11,88%.

Về loại hình tổ chức, TCTD nhà nước và có vốn nhà nước chi phối huy động được 207.535 tỉ đồng (55,16%), tăng 0,17%; TCTD ngoài nhà nước đạt 168.698 tỉ đồng (44,84%), tăng 9,26%.

Hoạt động tín dụng tiếp tục đóng vai trò trụ cột trong phát triển kinh tế địa phương. Đến cuối tháng 9/2025, tổng dư nợ cho vay trên địa bàn Khu vực 14 đạt 491.950 tỉ đồng, tăng 7,72% so với cuối năm 2024. Trong đó, dư nợ tại thành phố Cần Thơ đạt 313.564 tỉ đồng (64,11%), tăng 6,37%; Vĩnh Long đạt 178.386 tỉ đồng (35,89%), tăng 2,33%.

Dư nợ cho vay bằng VND chiếm phần lớn với 473.408 tỉ đồng (97,48%), tăng 5,04%; dư nợ bằng ngoại tệ đạt 12.056 tỉ đồng (2,52%), giảm 0,95%.

Xét theo kỳ hạn, dư nợ cho vay ngắn hạn là 291.217 tỉ đồng (59,45%), tăng 3,86%; dư nợ trung và dài hạn đạt 194.248 tỉ đồng (40,55%), tăng 6,41%.

Thời gian qua, NHNN Chi nhánh Khu vực 14 đã tập trung chỉ đạo và giám sát chặt chẽ công tác xử lý nợ xấu theo Đề án tái cơ cấu gắn với xử lý nợ xấu, yêu cầu các TCTD nâng cao chất lượng tín dụng, đảm bảo phân loại nợ, trích lập dự phòng đúng quy định, đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp hạn chế phát sinh nợ xấu mới.

Về cơ cấu tín dụng theo ngành kinh tế, đối với ngành nông, lâm, thủy sản có dư nợ đạt 79.300 tỉ đồng (16,12%), tăng 6,53%; công nghiệp - xây dựng có dư nợ 96.500 tỉ đồng (19,62%), tăng 19,84%; thương mại - dịch vụ có dư nợ 316.150 tỉ đồng (64,26%), tăng 4,78%.

Đối với các lĩnh vực ưu tiên, cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 239.480 tỉ đồng (48,68%), tăng 14,34%; cho vay xuất khẩu đạt 29.400 tỉ đồng (5,98%), tăng 1,44%; cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa 79.800 tỉ đồng (16,22%), tăng 7,9%; cho vay công nghiệp hỗ trợ 1.195 tỉ đồng, tăng 60,19%; cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao đạt 9 tỉ đồng.

Tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, bất động sản tiếp tục được kiểm soát chặt chẽ. Tổng dư nợ cho vay bất động sản đạt 71.000 tỉ đồng (14,43%), tăng 7,23%, trong đó dư nợ cho vay tiêu dùng bất động sản là 61.196 tỉ đồng, tăng 5,27%.

Về triển khai các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ: Đến cuối tháng 9/2025 dư nợ theo chương trình tín dụng lĩnh vực lâm sản, thủy sản đạt 25.460 tỉ đồng, chiếm 5,18% tổng dư nợ, với 16.760 lượt khách hàng được giải ngân. Đối với Chương trình nhà ở xã hội, nhà ở công nhân: Trên địa bàn hiện có 6 dự án đủ điều kiện vay vốn ưu đãi, trong đó đã giải ngân cho 1 dự án (Chung cư nhà ở xã hội Nam Long 2) với tổng doanh số 3,35 tỉ đồng. Dư nợ tính đến ngày 31/8/2025 là 3,26 tỉ đồng (06 khách hàng còn dư nợ). Các dự án còn lại hiện đang xem xét, chưa phát sinh nhu cầu vay vốn cấp thiết.

Về Chương trình cho vay liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long, NHNN Chi nhánh Khu vực 14 đã có văn bản chỉ đạo triển khai đến các TCTD, phối hợp với các sở, ngành và Ủy ban nhân dân (UBND) địa phương. Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại, chương trình vẫn chưa phát sinh khoản vay ưu đãi nào.

Tín dụng đối với kinh tế tập thể có nhiều điểm sáng dù còn nhiều thách thức. Trên địa bàn hiện có 1.382 hợp tác xã, 10 liên hiệp hợp tác xã và 6.713 tổ hợp tác. Dư nợ cho vay kinh tế tập thể đến cuối tháng 9/2025 đạt khoảng 830 tỉ đồng, chiếm 0,17% tổng dư nợ. Trong đó, các chương trình tín dụng triển khai với kinh tế tập thể gồm: Cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn; cho vay theo Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao và phát thải thấp; cho vay tiêu dùng qua thẻ tín dụng... Mức lãi suất cho vay dao động từ 4,0 - 5,5%/năm (ngắn hạn), 6,0 - 7,7%/năm (trung, dài hạn). Tại Ngân hàng Chính sách xã hội, lãi suất áp dụng là 5,13%/năm, thấp hơn từ 2 - 3% so với lĩnh vực thông thường. Một số TCTD còn ưu tiên giảm thêm 0,1 - 1,0% cho khách hàng hợp tác xã tùy theo xếp hạng tín nhiệm.

Triển khai các chương trình, đề án hỗ trợ kinh tế tập thể theo Quyết định số 1804/QĐ-TTg ngày 13/11/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021 - 2025; Đề án nhân rộng mô hình hợp tác xã kiểu mới theo Quyết định số 167/QĐ-TTg ngày 08/02/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khu vực tư nhân kinh doanh bền vững giai đoạn 2022 - 2025; chuyển đổi số trong khu vực kinh tế tập thể theo Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 03/6/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong khu vực kinh tế hợp tác, hợp tác xã. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nhiều hợp tác xã vẫn còn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản bảo đảm, hiệu quả sản xuất - kinh doanh thấp, thiếu báo cáo tài chính, sổ sách kế toán chưa đạt yêu cầu... Do vậy, việc mở rộng tín dụng cho hợp tác xã vẫn còn nhiều hạn chế.

Với sự điều hành chủ động, linh hoạt và hiệu quả, hệ thống ngân hàng Khu vực 14 tiếp tục giữ vai trò trụ cột trong cung ứng vốn cho nền kinh tế, đồng hành cùng doanh nghiệp và người dân. Sự ổn định của hệ thống ngân hàng chính là nền tảng vững chắc để thành phố Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long hướng đến mục tiêu phát triển bền vững và bứt phá trong giai đoạn tiếp theo.

Giải pháp trọng tâm thúc đẩy tăng trưởng

Bám sát nhiệm vụ chính trị của ngành Ngân hàng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long, từ nay đến cuối năm 2025, NHNN Chi nhánh Khu vực 14 xác định 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm như sau:

Một là, tổ chức triển khai kịp thời các chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Thực hiện nghiêm các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, UBND các tỉnh/thành phố, Chỉ thị của Thống đốc NHNN đến các TCTD trên địa bàn, bảo đảm thống nhất, đồng bộ trong tổ chức thực hiện.

Hai là, định hướng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên. Chỉ đạo các TCTD tập trung tín dụng vào sản xuất - kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ. Đồng thời, kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn. Đẩy mạnh triển khai hiệu quả chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp.

Ba là, theo dõi, đôn đốc triển khai các chương trình tín dụng trọng điểm. Giám sát việc thực hiện các chương trình tín dụng cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ (theo Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững); chương trình tín dụng đối với lâm sản, thủy sản; chương trình tín dụng hỗ trợ liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long; cùng các chương trình tín dụng khác theo hướng dẫn của NHNN.

Bốn là, tăng cường thanh tra, kiểm tra và chấn chỉnh sai phạm. Tiếp tục thực hiện chương trình, kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2025 đã được phê duyệt; kịp thời phát hiện, xử lý và chấn chỉnh các vi phạm trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng. Tăng cường công tác đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị và quyết định xử lý sau thanh tra, kiểm tra.

Năm là, thực hiện hiệu quả công tác cơ cấu lại TCTD gắn với xử lý nợ xấu. Giám sát, chỉ đạo các TCTD triển khai nghiêm túc phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu. Tiếp tục triển khai thực hiện Quyết định số 1382/QĐ-NHNN ngày 02/8/2022 của Thống đốc NHNN về việc ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng triển khai thực hiện Đề án “Cơ cấu lại hệ thống TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025”.

Sáu là, giám sát thị trường ngoại hối và vàng. Theo dõi chặt chẽ việc thực hiện các quy định của NHNN và pháp luật liên quan đến quản lý ngoại hối, góp phần ổn định thị trường ngoại hối và vàng trên địa bàn.

Bảy là, thực hiện nghiêm chế độ báo cáo thống kê. Triển khai đúng quy định theo Thông tư số 35/2015/TT-NHNN ngày 31/12/2015 của Thống đốc NHNN quy định chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 11/2018/TT-NHNN ngày 17/4/2018) và các văn bản liên quan, bảo đảm chất lượng và tính kịp thời trong công tác báo cáo thống kê.

Tám là, bảo đảm an toàn kho quỹ và công tác cung ứng tiền mặt. Tổ chức tốt công tác ngân quỹ, bảo quản an toàn tài sản, tiền mặt và giấy tờ có giá tại đơn vị. Đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu tiền mặt về số lượng và cơ cấu mệnh giá cho các TCTD và Kho bạc Nhà nước.

Chín là, đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt và chuyển đổi số. Hướng dẫn các TCTD tuân thủ quy định về hoạt động thanh toán; tăng cường bảo đảm an toàn, thông suốt và phát triển hạ tầng thanh toán không dùng tiền mặt. Tiếp tục triển khai Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến 2030; Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2021 - 2025 và các kế hoạch liên quan đến thực hiện Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

Mười là, nâng cao hiệu quả giám sát nội bộ và cải cách thủ tục hành chính. Thực hiện nghiêm công tác kiểm soát nội bộ, giám sát kho quỹ, tự kiểm tra tài chính, kế toán, kiểm toán tuân thủ theo quy định. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa.

Cùng với đó, NHNN Chi nhánh Khu vực 14 sẽ phối hợp chặt chẽ với Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội các tỉnh/thành phố trong khu vực, kịp thời nắm bắt, giải trình và phản hồi các ý kiến cử tri liên quan đến chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Đồng thời, tăng cường công tác thông tin - tuyên truyền, phổ biến pháp luật và các cơ chế, chính sách của NHNN nhằm tạo sự đồng thuận, gắn kết giữa hệ thống ngân hàng với người dân, doanh nghiệp và các cấp chính quyền.

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo kết quả tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng và phương hướng nhiệm vụ 4 tháng năm 2025 của UBND Thành phố Cần Thơ.

2. Báo cáo kết quả tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng và phương hướng nhiệm vụ 4 tháng năm 2025 của UBND tỉnh Vĩnh Long

3. Báo cáo thực hiện nhiệm vụ của NHNN Chi nhánh Khu vực 14.

ThS. Trần Trọng Triết

Tin bài khác

Chuyển đổi số ngân hàng năm 2025: Kết nối dữ liệu và giữ vững niềm tin số

Chuyển đổi số ngân hàng năm 2025: Kết nối dữ liệu và giữ vững niềm tin số

Với quan điểm, chủ trương nhất quán của Chính phủ: “Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể và là động lực chính của công cuộc chuyển đổi số ngành Ngân hàng”; “dữ liệu là nền tảng cốt lõi, tài sản quan trọng và nguồn lực chiến lược, quyết định hiệu quả chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo giá trị mới cho ngành Ngân hàng và nền kinh tế”, năm 2025 ngành Ngân hàng tiếp tục hoàn thành một năm chuyển mình mang tính chiến lược, khẳng định vai trò huyết mạch của nền kinh tế không chỉ qua dòng tiền mà còn ở sự kết nối dữ liệu và niềm tin số.
Kinh tế Việt Nam 2025: Thành tựu bứt phá trên nền tảng điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén

Kinh tế Việt Nam 2025: Thành tựu bứt phá trên nền tảng điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén

Năm 2025 khép lại với những dấu ấn tăng trưởng nổi bật của kinh tế Việt Nam, bất chấp bối cảnh quốc tế nhiều biến động. Tăng trưởng GDP vượt 8%, lạm phát được kiểm soát và các cân đối lớn duy trì ổn định đã cho thấy hiệu quả rõ nét của điều hành vĩ mô, trong đó chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén đóng vai trò then chốt, tạo bệ đỡ cho phục hồi và phát triển.
Chính sách tiền tệ góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế năm 2025

Chính sách tiền tệ góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế năm 2025

Sáng 31/12, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham dự và chỉ đạo Hội nghị. Giai đoạn 2021 - 2025 là một nhiệm kỳ ghi dấu ấn đặc biệt của ngành Ngân hàng. Những nỗ lực bền bỉ của toàn hệ thống ngân hàng đã tạo nên nhiều thành tựu nổi bật, là những gam màu sáng trong bức tranh tổng thể của nền kinh tế Việt Nam, góp phần quan trọng vào ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đó cũng là nền tảng vững chắc, tạo thế và lực để ngành Ngân hàng vững bước tiến vào chặng đường phát triển mới.
Tác động của cấu trúc nguồn vốn huy động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của vốn chủ sở hữu

Tác động của cấu trúc nguồn vốn huy động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của vốn chủ sở hữu

Nghiên cứu này làm rõ tác động của tiền gửi khách hàng và nguồn vốn phi tiền gửi đến khả năng sinh lời của ngân hàng, đồng thời chỉ ra vai trò điều tiết quan trọng của vốn chủ sở hữu trong mối quan hệ này. Kết quả thực nghiệm cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc tối ưu hóa cấu trúc nguồn vốn và định hướng chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Tác động của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tại các quốc gia ASEAN

Tác động của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tại các quốc gia ASEAN

Bài viết phân tích vai trò của tín dụng xanh trong bối cảnh các quốc gia ASEAN đối mặt với thách thức biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, qua đó làm rõ tác động tích cực của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần, đồng thời xem xét mức độ ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong mối quan hệ này.
Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu đề xuất hàm ý chính sách cho các nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý: Các ngân hàng cần định hình và vận dụng khẩu vị rủi ro như một chiếc la bàn xuyên suốt quá trình quản trị; đồng thời, cần chủ động trích lập dự phòng dựa trên các dự báo và kịch bản kinh tế vĩ mô, tăng cường giám sát sớm để phát hiện kịp thời các dấu hiệu suy giảm chất lượng tín dụng, xử lý nợ xấu một cách dứt khoát nhằm tránh hiệu ứng tích tụ rủi ro.
Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Nghiên cứu này tập trung đánh giá ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng trong bối cảnh ngân hàng số Việt Nam. Kết quả nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm mới cho bối cảnh Việt Nam, đồng thời củng cố các lý thuyết trước đó về niềm tin trong môi trường ngân hàng số.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính tại Trung tâm tài chính quốc tế: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính tại Trung tâm tài chính quốc tế: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và khuyến nghị cho Việt Nam

Việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh và định vị của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong giai đoạn tới. Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, tác giả đề xuất khung sản phẩm, dịch vụ tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam dựa trên bốn yếu tố tích hợp về thể chế, hạ tầng, nhân lực và hợp tác quốc tế.
Xem thêm
Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Ngày 01/01/2026, Văn phòng Quốc hội công bố 10 sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025
Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Đối với Việt Nam, việc ban hành các văn bản pháp luật đã phần nào đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (viết tắt là cơ chế thử nghiệm), đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, để cơ chế thử nghiệm thực sự phát huy hiệu quả, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý tổng thể, thiết lập quy trình minh bạch, cơ chế giám sát rủi ro chặt chẽ và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý, đồng thời cần gắn với mục tiêu phát triển bền vững và chuyển đổi số quốc gia.
Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Bài viết phân tích thực trạng, nguyên nhân và khẳng định sự cần thiết đổi mới đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo hướng áp dụng các chỉ số đo lường hiệu quả công việc (Key Performance Indicators - KPI), đồng thời đề xuất giải pháp triển khai phù hợp với khu vực công.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Bài viết làm rõ triển vọng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, đồng thời chỉ ra những điều kiện then chốt để mô hình này phát triển hiệu quả, bền vững và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Tài chính xanh chỉ có thể phát huy hiệu quả khi dòng vốn được phân bổ đúng địa chỉ, đúng nhu cầu và thực chất, nhằm bảo đảm tín dụng xanh không chỉ là trách nhiệm với cộng đồng mà còn trở thành cơ hội chiến lược để các ngân hàng định vị hướng phát triển bền vững của mình.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Quyết định vay vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài thị trường tài chính thuần túy, trong đó môi trường thông tin và thể chế ngày càng nổi lên như những biến số quan trọng. Trên cơ sở phân tích định lượng, bài viết đánh giá vai trò của tự do ngôn luận trong mối quan hệ giữa tham nhũng và sự nản lòng vay vốn ngân hàng.
Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế  và khuyến nghị đối với Việt Nam

Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa ở Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh xét theo cả quy mô giao dịch và mức độ phổ cập trong đời sống tài chính, yêu cầu hoàn thiện khung phòng, chống rửa tiền trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, bởi các chỉ dấu khách quan cho thấy Việt Nam vừa nằm trong nhóm quốc gia có giá trị giao dịch trên chuỗi rất lớn.
Pháp luật Liên minh châu Âu  về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Pháp luật Liên minh châu Âu về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Dữ liệu cá nhân giữ vai trò nền tảng trong thương mại điện tử, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động tương tác và kinh doanh trên môi trường số. Bài viết phân tích quy định của EU (đặc biệt là GDPR 2016), đánh giá tác động thực thi, so sánh với pháp luật Việt Nam để chỉ ra bất cập và đề xuất hoàn thiện cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng