Hiệu quả hoạt động ngân hàng tạo lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh An Giang

Hoạt động ngân hàng
Các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh An Giang (sau khi sáp nhập địa giới đơn vị hành chính với tỉnh Kiên Giang) tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong cung ứng vốn tín dụng, tạo lực đẩy cho tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tỉnh.
aa

Thực hiện Quyết định số 315/QĐ-NHNN ngày 24/02/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) về việc thành lập, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN Chi nhánh Khu vực 15; Quyết định số 2315/QĐ-NHNN ngày 16/6/2025 của Thống đốc NHNN về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 315/QĐ-NHNN; để đảm bảo đồng bộ với hệ thống chính quyền cấp tỉnh sau sáp nhập phù hợp với điều kiện địa lý, hạ tầng giao thông, tạo thuận lợi trong chỉ đạo, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp, kể từ ngày 01/7/2025, NHNN Chi nhánh Khu vực 15 được sắp xếp lại, có trụ sở đặt tại tỉnh An Giang; có chức năng tham mưu, giúp Thống đốc NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối trên địa bàn các tỉnh An Giang, Cà Mau và thực hiện một số nghiệp vụ ngân hàng trung ương theo ủy quyền của Thống đốc NHNN.

Hiệu quả thực hiện chiến lược phát triển ngành Ngân hàng

Trong bối cảnh kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, tình hình trong nước và địa bàn tỉnh An Giang còn gặp nhiều khó khăn, song với sự quan tâm chỉ đạo của Trung ương, sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, tỉnh đã chủ động triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh An Giang đã ban hành Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh, Kế hoạch tổ chức thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ và các Kế hoạch chuyên đề phục vụ phát triển ngành, lĩnh vực trên địa bàn (thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, Đề án một triệu ha lúa, phát triển OCOP, kinh tế biển, nuôi trồng thủy sản trên biển, phát triển kinh tế tập thể, hỗ trợ, thúc đẩy khởi nghiệp...); chỉ đạo các sở, ban, ngành, các cấp chính quyền địa phương tổ chức thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp tại các kế hoạch.

Hiệu quả chiến lược ngân hàng tạo lực đẩy thúc đẩy tăng trưởng tỉnh An Giang
Quầy giao dịch khách hàng tại Agribank Chi nhánh An Giang. Ảnh: Trọng Triết

Trong đó, đối với lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng trên địa bàn, UBND tỉnh An Giang ban hành nhiều Kế hoạch và văn bản, trong đó giao NHNN Chi nhánh Khu vực 15 chủ trì, phối hợp các sở, ngành, chính quyền địa phương triển khai thực hiện kịp thời, hiệu quả các giải pháp tiền tệ, tín dụng, ngân hàng. Đặc biệt, tập trung giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận vốn vay phục hồi, phát triển sản xuất - kinh doanh, tăng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế; thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh; Kế hoạch tái cơ cấu các TCTD gắn với xử lý nợ xấu; Kế hoạch thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM), Chiến lược tài chính toàn diện... theo mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, ưu tiên hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh các chương trình hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang.

Sau khi được sắp xếp tổ chức lại theo Quyết định số 315/QĐ-NHNN và Quyết định số 2315/QĐ-NHNN, hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh An Giang ổn định, thông suốt, tăng trưởng hợp lý, an toàn, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh. Các TCTD trên địa bàn tập trung huy động vốn nhàn rỗi tại địa phương để có nguồn vốn thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trên địa bàn an toàn, hiệu quả, đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng, cung ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn phục vụ lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Đề án, Kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế, các mặt hàng chủ lực trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Đồng thời, NHNN Chi nhánh Khu vực 15 cũng chỉ đạo các TCTD trên địa bàn triển khai thực hiện tốt các chương trình, chính sách tín dụng, đẩy mạnh tín dụng chính sách xã hội; triển khai hiệu quả chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp theo hướng đa dạng nội dung, hình thức phối hợp phù hợp điều kiện thực tế nhằm tăng khả năng tiếp cận tín dụng, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, cá nhân trên địa bàn.

Số liệu thống kê từ NHNN Chi nhánh Khu vực 15 cho thấy, đến ngày 30/6/2025, huy động vốn tại địa bàn tỉnh An Giang đạt 171.768 tỉ đồng, tăng 43,49% so với cuối năm 2021, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 8,84%; dư nợ tín dụng đạt 266.608 tỉ đồng, tăng 42,18% so cuối năm 2021, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 9,8%. Tín dụng tiếp tục tập trung vào các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh (chiếm 82,4% tổng dư nợ); cơ cấu tín dụng tiếp tục chuyển dịch phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, tập trung vào 3 lĩnh vực kinh tế mũi nhọn là: Tín dụng khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản (chiếm 20,7% tổng dư nợ); tín dụng khu vực công nghiệp và xây dựng (chiếm 11,8% tổng dư nợ); tín dụng khu vực thương mại và dịch vụ (chiếm 67,5% tổng dư nợ).

Nhu cầu vốn đối với các lĩnh vực ưu tiên, chương trình, chính sách theo chỉ đạo của Chính phủ, NHNN được các TCTD trên địa bàn tỉnh An Giang giải quyết tốt và có mức tăng trưởng phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của các đối tượng thụ hưởng trên địa bàn; đảm bảo thực hiện đúng đối tượng và chính sách quy định. Kết quả, đến ngày 30/6/2025 tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 151.790 tỉ đồng, tăng 40,05% so với cuối năm 2021, chiếm 56,9% tổng dư nợ toàn tỉnh. Trong đó: Dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 140.850 tỉ đồng; dư nợ cho vay phục vụ xây dựng nông thôn mới đạt 102.266 tỉ đồng; dư nợ cho vay phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp (nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch) đạt 280 tỉ đồng. Tín dụng đối với lĩnh vực xuất khẩu đạt 11.069 tỉ đồng, tăng 23,32% so với cuối năm 2021, chiếm 4,2% tổng dư nợ tín dụng. Tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 36.960 tỉ đồng, tăng 60,52% so với cuối năm 2021, chiếm 13,9% tổng dư nợ tín dụng.

Bên cạnh đó, tín dụng đối với một số mặt hàng chủ lực của tỉnh An Giang tiếp tục được quan tâm, chú trọng đầu tư từ khâu trồng trọt, khai thác, nuôi trồng, thu mua, tiêu thụ, chế biến, bảo quản, cụ thể: Dư nợ ngành thủy sản đạt 37.965 tỉ đồng, tăng 65,06% so với cuối năm 2021. Trong đó: Dư nợ cho vay cá tra đạt 10.716 tỉ đồng; dư nợ cho vay tôm đạt 4.963 tỉ đồng; dư nợ ngành lúa, gạo đạt 28.232 tỉ đồng, tăng 24,95% so với cuối năm 2021; dư nợ ngành rau quả đạt 2.783 tỉ đồng, tăng 43,33% so với cuối năm 2021.

Điểm đáng chú ý, tín dụng chính sách xã hội tiếp tục tăng trưởng và đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất - kinh doanh của các đối tượng chính sách, góp phần thực hiện tốt chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới với dư nợ cho vay đến ngày 30/6/2025 đạt 12.906 tỉ đồng, tăng 65,75% so cuối năm 2021, chiếm 4,8% tổng dư nợ.

Đối với Chương trình cho vay hỗ trợ nhà ở, như: Cho vay nhà ở xã hội (NƠXH) theo Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý NƠXH, doanh số lũy kế từ đầu chương trình đạt 1.158 tỉ đồng, dư nợ đạt 743 tỉ đồng. Cho vay NƠXH, nhà ở công nhân, cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững, tỉnh An Giang có 6 dự án NƠXH đáp ứng đủ điều kiện. Các chi nhánh ngân hàng giải ngân 395 tỉ đồng với 181 tỉ đồng cho một chủ đầu tư, 214 tỉ đồng cho 234 người mua nhà.

Đối với Chương trình cho vay liên kết, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long, trên cơ sở danh sách các chủ thể tham gia Đề án, vùng chuyên canh chất lượng cao và phát thải thấp (tháng 02/2025) và các liên kết lúa gạo (tháng 5/2025) do Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố, các chi nhánh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) và 6 ngân hàng thương mại (NHTM) đăng ký tham gia Chương trình trong giai đoạn thí điểm đến hết năm 2025 với quy mô vốn khoảng 16.300 tỉ đồng đã chủ động tiếp cận khách hàng, tuy nhiên chưa phát sinh kết quả cho vay.

Về cơ cấu lại và xử lý nợ xấu, kiểm soát chất lượng tín dụng, hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh An Giang đã bám sát Kế hoạch, triển khai thực hiện hiệu quả Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025 do UBND tỉnh ban hành. Theo đó, các TCTD trên địa bàn đẩy mạnh sắp xếp tổ chức mạng lưới hoạt động, cơ cấu lại theo hướng phát triển dịch vụ và đầu tư vào các lĩnh vực an toàn, đổi mới và hiện đại hóa hoạt động điều hành, quản trị; đầu tư, nâng cấp chất lượng cơ sở hạ tầng và công nghệ phục vụ thanh toán, triển khai áp dụng nhiều sản phẩm, dịch vụ mới hiện đại góp phần hạn chế việc sử dụng tiền mặt trong thanh toán. Đến ngày 30/6/2025, tỉnh An Giang có 75 TCTD với mạng lưới 417 cơ sở giao dịch gồm: 1 trụ sở chính NHTM, 114 chi nhánh ngân hàng (84 chi nhánh cấp tỉnh, 30 chi nhánh thuộc Agribank), 260 phòng giao dịch, 42 Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND), 1 chi nhánh tổ chức vi mô CEP.

Các NHTM cũng cơ cấu lại theo hướng phát triển dịch vụ, đầu tư vào các lĩnh vực an toàn, đổi mới và hiện đại hóa hoạt động quản trị, điều hành. Các QTDND cơ cấu lại theo hướng nâng cao các chỉ số an toàn và hiệu quả hoạt động; nhiều chỉ tiêu hoạt động chủ yếu tiếp tục được giữ ổn định, phát huy được vai trò trong công tác huy động vốn, cho vay hỗ trợ cho các thành viên trên địa bàn phát triển sản xuất - kinh doanh, nâng cao đời sống của người dân, góp phần vào việc xóa đói, giảm nghèo và phát triển kinh tế địa phương, hạn chế “tín dụng đen”. Đến ngày 30/6/2025, toàn tỉnh có 42 QTDND đang hoạt động; nguồn vốn huy động đạt 4.042 tỉ đồng; dư nợ đạt 3.709 tỉ đồng, tỉ lệ nợ xấu 1,00%. NHNN Chi nhánh Khu vực 15 cũng chỉ đạo các TCTD tăng cường triển khai nhiều biện pháp thúc đẩy xử lý nợ xấu hiện hữu, kiểm soát chất lượng tín dụng, chủ động rà soát, có kế hoạch xử lý nợ xấu phù hợp nhằm phòng ngừa, ngăn chặn sự gia tăng nợ xấu, nhờ đó nợ xấu qua các năm luôn được kiểm soát trong phạm vi an toàn.

Về thúc đẩy TTKDTM, tài chính toàn diện, chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng trên địa bàn: UBND tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án TTKDTM giai đoạn 2021 - 2025, Chiến lược tài chính toàn diện, các văn bản chỉ đạo các sở, ngành, chính quyền địa phương phối hợp đẩy mạnh tổ chức các hoạt động thúc đẩy phát triển TTKDTM, Kế hoạch đẩy mạnh chi trả an sinh xã hội không dùng tiền mặt; Kế hoạch hỗ trợ, thúc đẩy chuyển đổi số, Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia trên địa bàn; Kế hoạch phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2021 - 2025. Công tác phát triển TTKDTM trên địa bàn đạt được một số kết quả tích cực như: Triển khai thí điểm Mô hình “Tuyến chợ/tuyến phố TTKDTM” tại 3 huyện, thành phố thuộc địa bàn, tổ chức chương trình giáo dục tài chính tại các trường trung học phổ thông; tổ chức hội nghị về giải pháp đẩy mạnh chuyển đổi số, TTKDTM trong các trường học, cơ sở giáo dục đào tạo, bệnh viện, cơ sở y tế; cuộc thi trực tuyến chuyển đổi số với chủ đề “Thanh toán điện tử, TTKDTM” nhằm giúp người dân quan tâm và nâng cao hiểu biết về hoạt động thương mại điện tử, ngân hàng điện tử, TTKDTM; tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày chuyển đổi số quốc gia và Ngày chuyển đổi số tỉnh.

Nhờ sự chủ động, quyết liệt trong chỉ đạo, cùng sự đồng thuận, phối hợp của các cấp, các ngành, hoạt động TTKDTM trên địa bàn có nhiều chuyển biến tích cực, cơ sở hạ tầng và công nghệ được chú trọng đầu tư, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả (100% siêu thị, trung tâm mua sắm có thiết bị chấp nhận thẻ và cho phép người tiêu dùng thanh toán khi mua hàng bằng phương thức POS, quét mã QR thanh toán từ điện thoại thông minh...). TTKDTM trong lĩnh vực dịch vụ công đạt kết quả khả quan khi các cơ quan chức năng đã đẩy mạnh việc nộp thuế bằng phương thức trực tuyến. Việc kết nối giao dịch thanh toán với hệ thống Kho bạc Nhà nước tỉnh đảm bảo thông suốt, thuận tiện, hiệu quả. Nhận thức, hành động của người dân về TTKDTM có nhiều thay đổi, số lượng thực hiện TTKDTM tăng đáng kể. Hoạt động hệ thống thanh toán được diễn ra thông suốt, an toàn, hiệu quả; tiếp tục triển khai đẩy mạnh phát triển về các sản phẩm, dịch vụ và các ứng dụng công nghệ thanh toán hiện đại, góp phần đẩy mạnh TTKDTM trên địa bàn.

Hoạt động ngoại hối, kinh doanh vàng tiếp tục được tăng cường kiểm tra, kiểm soát việc tuân thủ các quy định của pháp luật, góp phần ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối và thị trường vàng trên địa bàn tỉnh An Giang. Theo đó, toàn tỉnh có 24 đại lý chi, trả ngoại tệ; 75 đại lý đổi ngoại tệ; 586 doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ.

Qua công tác chỉ đạo, điều hành linh hoạt, phù hợp điều kiện thực tế, hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh An Giang đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tín dụng thông suốt, tăng trưởng hợp lý, phù hợp nhu cầu vốn phát triển kinh tế tại địa phương và tiếp tục tập trung vào sản xuất - kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên tại địa phương; các chương trình tín dụng hỗ trợ ngành, lĩnh vực theo chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được triển khai thực hiện kịp thời, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp, người dân phát triển sản xuất - kinh doanh, tăng cường khả năng tiếp cận tín dụng, dịch vụ ngân hàng trên địa bàn. Công tác cơ cấu lại của các TCTD cơ bản đạt mục tiêu của NHNN và tỉnh An Giang. Sự ổn định, an toàn hoạt động của các TCTD tiếp tục được giữ vững, quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền được bảo đảm, qua đó giúp củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp vào hệ thống TCTD.

Những vấn đề đặt ra

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh An Giang vẫn còn phát sinh một số tồn tại, hạn chế sau:

Một là, hoạt động cấp tín dụng còn khó khăn, thách thức tín dụng phục vụ nhu cầu của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn duy trì tăng trưởng, góp phần tăng trưởng kinh tế địa phương nhưng tốc độ tăng trưởng thấp hơn so với toàn quốc.

Hai là, một số chương trình tín dụng đối với ngành, lĩnh vực nhận được kỳ vọng, quan tâm của các cấp, các ngành và người dân, doanh nghiệp nhưng việc triển khai còn nhiều khó khăn, nợ xấu tăng và tiềm ẩn phát sinh cao.

Ba là, kinh tế đang phục hồi nhưng vẫn còn nhiều thách thức nên cầu tín dụng khó có sự đột phá lớn. Sức hấp thụ vốn tín dụng của doanh nghiệp và người dân còn thấp, hoạt động sản xuất - kinh doanh còn nhiều khó khăn, “sức khỏe” tài chính bị giảm sút; đồng thời xu hướng thắt chặt, cắt giảm chi tiêu của người dân dẫn đến cầu tín dụng thấp.

Bốn là, một số nhóm khách hàng có nhu cầu nhưng chưa đáp ứng điều kiện vay vốn, năng lực tài chính của doanh nghiệp giảm sút, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa do quy mô vốn nhỏ, năng lực hạn chế, thiếu phương án kinh doanh khả thi, trong khi các cơ chế, định chế hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn vay chưa phát huy hiệu quả.

Năm là, hoạt động sản xuất - kinh doanh các sản phẩm thuộc thế mạnh của địa phương chưa phát huy hết lợi thế như sản xuất nông nghiệp chậm hiện đại hóa, thiếu bền vững, các chuỗi liên kết trong nông nghiệp đã được hình thành nhưng chưa được khai thác tối ưu; số lượng doanh nghiệp tham gia liên kết còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển chuỗi giá trị nông sản; kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp chưa đồng bộ, đặc biệt là hạ tầng phục vụ sản xuất lúa chất lượng cao và phát thải thấp cần tiếp tục được đầu tư, nâng cấp; tiến độ triển khai các dự án trọng điểm còn chưa đáp ứng yêu cầu…

Sáu là, việc triển khai một số chương trình tín dụng còn gặp khó khăn như Chương trình cho vay NƠXH, nhà ở công nhân, cải tạo xây dựng lại chung cư theo Nghị quyết số 33/NQ-CP do quy định thủ tục đầu tư, xây dựng, quy hoạch, đất đai, cấp phép còn nhiều vướng mắc; số lượng dự án NƠXH được công bố còn ít; chương trình cho vay liên kết, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long chưa phát sinh kết quả cho vay…

Giải pháp thời gian tới

Thời điểm từ nay đến cuối năm 2025, hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh An Giang bám sát chặt chẽ tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh và các nội dung chỉ đạo, điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng của NHNN nhằm thực hiện đồng bộ các nội dung sau:

Thứ nhất, tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, nâng cao chất lượng tín dụng. Cùng với đó, cân đối nguồn vốn đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho nền kinh tế, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế, các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Chú trọng đầu tư tín dụng vào các dự án, công trình trọng điểm khả thi phục vụ phát triển kinh tế của khu vực như: Phát triển kinh tế biển, công nghiệp, logistics, phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, du lịch và các mặt hàng nông sản chủ lực như lúa gạo, thủy sản...

Thứ hai, chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về lãi suất, phí cho vay. Huy động hiệu quả các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, đảm bảo đáp ứng đủ, kịp thời nhu cầu vốn của người dân và doanh nghiệp.

Thứ ba, cấp tín dụng hướng vào các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các chương trình, chính sách tín dụng đặc thù của Ngành. Tăng trưởng tín dụng vào các ngành hàng thế mạnh của khu vực như lúa gạo, thủy sản, công nghiệp chế biến..., tiếp tục phát huy đà tăng trưởng cho vay công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, cho vay các mô hình liên kết, tín dụng xanh; quan tâm đầu tư tín dụng vào các ngành, lĩnh vực mới, bền vững như nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp hữu cơ, kinh tế chia sẻ.

Thứ tư, kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, không hạ chuẩn tín dụng. Một số ngân hàng có tỉ lệ dư nợ ngắn hạn rất cao cần cân đối lại tỉ trọng cơ cấu dư nợ theo thời hạn; đa dạng hóa ngành, nghề cho vay, phương thức cho vay để hạn chế rủi ro, đảm bảo tăng trưởng dư nợ bền vững. Thực hiện cho vay ngoại tệ theo chủ trương của Chính phủ và NHNN về hạn chế tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế.

Thứ năm, cắt giảm các thủ tục không phù hợp, đơn giản hóa quy trình và thủ tục cấp tín dụng đi đôi với việc tuân thủ quy định của pháp luật, không nới lỏng các điều kiện cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động, hạn chế nợ xấu phát sinh. Áp dụng chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng, tạo thuận lợi cho khách hàng vay vốn; ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, ứng dụng cơ sở dữ liệu dân cư trong các hoạt động ngân hàng.

Thứ sáu, Ngân hàng Chính sách xã hội Chi nhánh tỉnh An Giang tiếp tục thực hiện các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; triển khai Kế hoạch của tỉnh về việc thực hiện Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 30/10/2024 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về nâng cao hiệu quả của tín dụng chính sách xã hội trong giai đoạn mới.

Thứ bảy, tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng và hoạt động TTKDTM, đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán. Đẩy mạnh triển khai các mô hình thanh toán tại nông thôn, vùng sâu, vùng xa gắn với triển khai Kế hoạch hành động Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia... Đẩy mạnh thanh toán điện tử dịch vụ công, trong đó có hoạt động thanh toán qua ngân hàng đối với dịch vụ công và chi trả các chương trình an sinh xã hội. Bên cạnh đó, cần nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ và gia tăng trải nghiệm để thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán. Đẩy mạnh ứng dụng các sản phẩm, dịch vụ thanh toán qua mã QR, ví điện tử... để từ đó tăng số lượng giao dịch. Hướng dẫn khách hàng áp dụng các biện pháp phòng, tránh gian lận, lừa đảo... để tạo niềm tin cho khách hàng, từ đó thúc đẩy tăng trưởng số lượng và giá trị giao dịch, nhất là các giao dịch có giá trị lớn. Tăng cường phối hợp với các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ như các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, trường học, bệnh viện…

Tài liệu tham khảo:

1. Công văn số 1584/UBND-KT ngày 01/10/2021 của UBND tỉnh Kiên Giang (thời điểm trước khi sáp nhập địa giới đơn vị hành chính với tỉnh An Giang) về việc tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, người dân tiếp cận vốn vay khôi phục, phát triển sản xuất - kinh doanh.

2. Công văn số 1353/UBND-KT ngày 05/8/2022 của UBND tỉnh An Giang (thời điểm trước khi sáp nhập địa giới đơn vị hành chính với tỉnh Kiên Giang) về việc thực hiện hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh theo Nghị định số 31/2022/NĐ-CP và Công văn số 2532/UBND-KT ngày 13/12/2023 về việc phối hợp triển khai kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, tăng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.

3. Công văn số 787/UBND-KT ngày 22/4/2024 của UBND tỉnh Kiên Giang (thời điểm trước khi sáp nhập địa giới đơn vị hành chính với tỉnh An Giang) về việc phối hợp triển khai các giải pháp tiền tệ, tín dụng của Chính phủ, NHNN trên địa bàn tỉnh Kiên Giang năm 2024.

4. Công văn số 1539/UBND-KT ngày 19/7/2024 của UBND tỉnh Kiên Giang (thời điểm trước khi sáp nhập địa giới đơn vị hành chính với tỉnh An Giang) về việc phối hợp tổ chức các hoạt động thúc đẩy phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.

5. Công văn số 1672/UBND-KT ngày 06/8/2024 của UBND tỉnh Kiên Giang (thời điểm trước khi sáp nhập địa giới đơn vị hành chính với tỉnh An Giang) về việc phối hợp ngăn chặn hoạt động mua, bán tài khoản thanh toán của học sinh, sinh viên.

6. Công văn số 272/UBND-KT ngày 13/02/2025 của UBND tỉnh An Giang (thời điểm trước khi sáp nhập địa giới đơn vị hành chính với tỉnh Kiên Giang) về việc tiếp tục phối hợp đẩy mạnh triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

7. Kế hoạch số 183/KH-UBND ngày 16/8/2022 của UBND tỉnh An Giang (thời điểm trước khi sáp nhập địa giới đơn vị hành chính với tỉnh Kiên Giang) triển khai thực hiện Đề án “Cơ cấu lại Hệ thống các TCTD gấn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025” ban hành kèm theo Quyết định số 689/QĐ-TTg ngày 08/6/2022 của Thủ tướng Chỉnh phủ. Kế hoạch số 94/KH-UBND ngày 23/6/2020 của UBND tỉnh An Giang thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

8. Kế hoạch số 813/KH-UBND ngày 24/12/2020 của UBND tỉnh An Giang (thời điểm trước khi sáp nhập địa giới đơn vị hành chính với tỉnh Kiên Giang) về triển khai thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh An Giang.

9. Kế hoạch số 09/KH-UBND ngày 12/01/2022 của UBND tỉnh Kiên Giang (thời điểm trước khi sáp nhập địa giới đơn vị hành chính với tỉnh An Giang) về triển khai thực hiện Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.

10. Báo cáo sơ kết việc thực hiện chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 của UBND tỉnh An Giang (giai đoạn 2021 - 2025 theo địa giới hành chính mới).

ThS. Trần Trọng Triết
NHNN Chi nhánh Khu vực 15

Tin bài khác

Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết tổng hợp bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm sau một thập kỷ triển khai Basel III, cho thấy tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản đã góp phần tăng cường chống chịu thanh khoản cho ngân hàng, song cũng đặt ra các đánh đổi về thu hẹp tín dụng, hành vi chấp nhận rủi ro và yêu cầu điều chỉnh linh hoạt trong thiết kế, giám sát và phối hợp chính sách ngân hàng trung ương.
Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Năm 2025, bám sát đường lối, chủ trương hội nhập quốc tế mới của Đảng và Chính phủ, với cách tiếp cận chủ động, linh hoạt và mềm dẻo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thúc đẩy hiệu quả, toàn diện các kênh đối ngoại và hội nhập quốc tế trên cả bình diện đa phương, song phương cũng như trong hợp tác với các tổ chức tài chính, tiền tệ, ngân hàng quốc tế.
Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Bài viết phân tích yêu cầu đột phá phát triển nguồn nhân lực số của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới, làm rõ những bước đi chiến lược về thể chế, đào tạo và làm chủ công nghệ nhằm hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số toàn diện và phát triển bền vững.
Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Bài viết khái quát bức tranh hoạt động ngân hàng tại Khu vực 2 năm 2025 trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động, làm rõ những kết quả nổi bật về tăng trưởng tín dụng, ổn định lãi suất, cải cách hành chính và chuyển đổi số, đồng thời định hướng vai trò đồng hành của hệ thống ngân hàng với các động lực tăng trưởng mới trong giai đoạn tới.
Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Những điểm nhấn năm 2025

Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Những điểm nhấn năm 2025

Năm 2025, trong bối cảnh toàn ngành Ngân hàng tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam đã bám sát sự lãnh đạo của Đảng ủy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam triển khai đồng bộ, hiệu quả các mặt công tác; qua đó, tiếp tục khẳng định vai trò là chỗ dựa tin cậy của đoàn viên, người lao động, đồng thời lan tỏa mạnh mẽ trách nhiệm xã hội của Ngành.
Hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân: Cơ hội và triển vọng phát triển

Hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân: Cơ hội và triển vọng phát triển

Trong thời gian qua, hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) đã cơ bản duy trì hoạt động ổn định, an toàn, phát huy tốt vai trò là kênh cung ứng vốn hiệu quả cho khu vực kinh tế hộ gia đình, cá nhân và sản xuất - kinh doanh quy mô nhỏ tại địa phương. Thông qua việc bám sát địa bàn, phục vụ linh hoạt và lấy thành viên làm trung tâm, QTDND đã góp phần tích cực hỗ trợ phát triển kinh tế cơ sở, thúc đẩy tài chính toàn diện và ổn định an sinh xã hội địa phương.
Xem thêm
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Bài viết phân tích những khoảng trống pháp lý trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam, trên cơ sở so sánh kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc, qua đó đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo đảm sự vận hành ổn định, minh bạch của thị trường và hạn chế rủi ro đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích khoảng trống pháp lý đối với dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam, đồng thời đề xuất khung pháp lý nhằm bảo đảm an toàn hệ thống, bảo vệ khách hàng và tạo nền tảng cho sự phát triển minh bạch của thị trường tài sản số.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng