Thủ tướng: Có chính sách ưu tiên, nguồn lực ưu tiên, tín dụng ưu tiên với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Chính sách
Nhấn mạnh yêu cầu không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, năm sau phải cao hơn năm trước, nhiệm kỳ sau cao hơn nhiệm kỳ trước, đặc biệt là tạo được phong trào, xu thế của người dân tự lực, tự cường thoát nghèo, làm giàu, Thủ tướng Phạm Minh Chính định hướng bố trí khoảng 160.000 tỉ đồng cho Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong giai đoạn tới.
aa
Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị toàn quốc tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 và định hướng nội dung giai đoạn 2026-2030 - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị toàn quốc tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 và định hướng nội dung giai đoạn 2026-2030 - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Sáng 13/8/2025, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị toàn quốc tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 và định hướng nội dung giai đoạn 2026 - 2030.

Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại trụ sở Chính phủ, trực tuyến với 34 tỉnh, thành phố trong cả nước. Đồng chủ trì hội nghị có các đồng chí: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến; Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương các chương trình mục tiêu quốc gia; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Vũ Hồng Thanh. Dự hội nghị có lãnh đạo các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương; lãnh đạo các tỉnh, thành phố; các đại sứ, đại diện các tổ chức quốc tế tại Việt Nam.

Thu nhập bình quân của đồng bào tăng 3,3 lần

Các báo cáo, ý kiến tại hội nghị đều nhấn mạnh, đây là chương trình có ý nghĩa chính trị, kinh tế, xã hội sâu sắc, là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta đối với sự phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Nhiệm kỳ này, Chính phủ, các bộ, ngành đã nhanh chóng xây dựng, hoàn thiện thể chế chính sách để triển khai Chương trình. Ngay sau khi Nghị quyết 120 của Quốc hội được ban hành, Ban Chỉ đạo đã chỉ đạo Ủy ban Dân tộc (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo) và các bộ, ngành tham mưu Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định đầu tư Chương trình; đồng thời hoàn thành rà soát, xây dựng, ban hành/trình ban hành các quy định cơ chế chính sách, hướng dẫn tổ chức thực hiện dự án, tiểu dự án, nội dung thành phần.

Thủ tướng định hướng bố trí khoảng 160.000 tỷ đồng cho Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong giai đoạn tới - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Thủ tướng định hướng bố trí khoảng 160.000 tỷ đồng cho Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong giai đoạn tới - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Thực hiện Nghị quyết 108/2023/QH15 về giám sát tối cao của Quốc hội đối với 3 chương trình mục tiêu quốc gia, Chính phủ trình Quốc hội thông qua Nghị quyết 111/2024/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc thù và Nghị quyết 142/2024/QH15 thống nhất điều chỉnh một số nội dung liên quan chủ trương đầu tư Chương trình.

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành ban hành văn bản (22 văn bản, gồm: 1 nghị định của Chính phủ; 4 quyết định của Thủ tướng Chính phủ; 17 văn bản của bộ, cơ quan Trung ương) quy định bổ sung, sửa đổi cơ chế, chính sách, hướng dẫn tổ chức thực hiện tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với nội dung còn thiếu hoặc chưa phù hợp, tăng cường phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường công khai, minh bạch, đầu tư và sử dụng nguồn vốn có trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải, kéo dài.

Chương trình đã cơ bản đạt và vượt 6/9 mục tiêu, nhóm mục tiêu đề ra, mặc dù triển khai chậm 1,5 năm do tác động nặng nề của đại dịch Covid-19 và còn chưa hết năm 2025, trong đó có những mục tiêu cốt lõi, có giá trị thực tiễn là: Tỉ lệ giảm nghèo (đến hết giai đoạn I, tỉ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số dự kiến giảm bình quân gần 3,2%/năm, trong khi mục tiêu Kế hoạch là trên 3%, cao hơn so với tỉ lệ giảm nghèo chung của cả nước); thu nhập bình quân của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (dự kiến cuối năm 2025 đạt 45,9 triệu đồng tăng 3,3 lần so năm 2020 - mục tiêu tăng trên 2 lần); giáo dục; lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề (dự kiến cả giai đoạn đạt 57,8% - mục tiêu > 50%); bảo tồn và phát triển các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; tăng cường công tác y tế.

Thủ tướng: Có chính sách ưu tiên, nguồn lực ưu tiên, tín dụng ưu tiên với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Thủ tướng giao Văn phòng Chính phủ tổng hợp, ban hành Thông báo kết luận hội nghị theo tinh thần "6 rõ" làm cơ sở để các bộ, ngành thực hiện - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Các kết quả này đã đóng góp quan trọng, đáng kể vào việc hoàn thành trước tiến độ nhiều mục tiêu chung của cả nước trong thời gian qua, như: Giảm nghèo bền vững, tạo việc làm và tăng thu nhập của người dân; Chương trình đã hoàn thành vượt tiến độ hơn 200% đối với mục tiêu của Chương trình về xóa nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn khó khăn nhất, "lõi nghèo" của cả nước.

Một số chỉ tiêu mới đạt được kết quả bước đầu nhưng tạo tiền đề quan trọng cho giai đoạn tiếp theo, như: Giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt; hỗ trợ khoán bảo vệ gần 1,48 triệu ha rừng đặc dụng, rừng phòng hộ cho gần 323.800 hộ; đầu tư cải tạo hàng nghìn công trình giao thông, thủy lợi nhỏ, điện, các thiết chế văn hóa, giáo dục, y tế…

Theo các nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ, tổng mức vốn để thực hiện Chương trình giai đoạn 2021 - 2025 là trên 137.000 tỉ đồng. Chương trình đạt tỉ lệ giải ngân khá trong các chương trình mục tiêu quốc gia nói chung, cao hơn gần 1,03 lần so với tổng vốn của cả 2 chương trình mục tiêu quốc gia còn lại cùng giai đoạn. Đây là kết quả rất quan trọng, khẳng định được tinh thần trách nhiệm của các cấp, các ngành đã dám nghĩ, dám làm, không ngại khó, tất cả vì đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Chương trình nhận được sự đồng thuận rất cao và tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là trong phát triển kinh tế. Tạo sự chuyển biến về nhận thức, thay đổi "nếp nghĩ, cách làm" của đồng bào, nâng cao quyền năng kinh tế, xóa bỏ các định kiến, khuôn mẫu giới, trao cơ hội cho phụ nữ, trẻ em gái khẳng định vai trò trong gia đình và tham gia xây dựng, phát triển cộng đồng; tận dụng điều kiện tự nhiên để từng bước phát triển vùng trồng dược liệu quý, hỗ trợ phát triển theo chuỗi giá trị, khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp từ dược liệu, nâng cao thu nhập người dân.

Công tác tuyên truyền được đẩy mạnh, nhất là các gương điển hình tiên tiến, mô hình hay, hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, phát triển du lịch, góp phần thay đổi nhận thức, hành động và nâng cao dân trí của đồng bào.

Chương trình đã góp phần thắt chặt niềm tin của đồng bào với Đảng, Nhà nước, tiếp tục củng cố, xây dựng những hạt nhân và hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo an ninh biên giới quốc gia, xây dựng tuyến biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc.

Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Đỗ Văn Chiến phát biểu tại hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Đỗ Văn Chiến phát biểu tại hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn 3/9 nhóm mục tiêu chưa đạt kế hoạch, gồm: Cải thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội ở các xã, thôn đặc biệt khó khăn; số xã, thôn ra khỏi địa bàn đặc biệt khó khăn; công tác định canh, định cư, giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất cho đồng bào. Nguy cơ tái nghèo cao và mức sống chưa bền vững, nhất là ở những vùng có nguy cơ cao về thiên tai; dịch vụ chưa phát triển, vẫn còn tình trạng đồng bào có tâm lý trông chờ, ỷ lại.

Quá trình ban hành một số văn bản hướng dẫn, quy định về thực hiện cơ chế, chính sách ở cấp Trung ương còn kéo dài gây ra những khó khăn nhất định cho thực hiện Chương trình. Một số địa phương còn lúng túng trong quá trình triển khai thực hiện; đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp triển khai thực hiện ở cấp cơ sở còn thiếu và yếu (chủ yếu là kiêm nhiệm); một số công chức, lãnh đạo có tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hoà Bình phát biểu tại hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hoà Bình phát biểu tại hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Tạo xu thế, phong trào quyết tâm xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu

Phát biểu kết luận, Thủ tướng Phạm Minh Chính ghi nhận, đánh giá cao Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo hội nghị và các ý kiến tâm huyết, sát thực tiễn tại hội nghị; giao Văn phòng Chính phủ tổng hợp, ban hành Thông báo kết luận theo tinh thần "6 rõ" làm cơ sở để các bộ, ngành thực hiện.

Cơ bản đồng tình với các báo cáo và ý kiến, Người đứng đầu Chính phủ khái quát 8 mặt được trong triển khai Chương trình thời gian qua: Chủ trương đúng và trúng; ý Đảng hợp lòng dân; chính sách đi đôi với ngân sách; quyết sách đi đôi với tuyên truyền, vận động; nhân dân đồng tình, doanh nghiệp ủng hộ, quân đội, công an vào cuộc tích cực, hiệu quả; tiếp cận giáo dục, y tế, văn hóa bình đẳng hơn; phát triển bao trùm, toàn diện và bền vững hơn; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được nâng cao.

Về quan điểm chỉ đạo và nhận thức, Thủ tướng nhấn mạnh, việc phát triển kinh tế văn hóa xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ của của cả hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành... mà còn là tình cảm sâu sắc, là mệnh lệnh từ trái tim, mang tính nhân văn cao cả, khẳng định tình dân tộc, nghĩa đồng bào, không có ai bị bỏ lại phía sau; do đó, khó mấy cũng phải làm, càng áp lực càng nỗ lực và đã làm thì phải có hiệu quả cụ thể, cân đong đo đếm được.

Lãnh đạo các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương; lãnh đạo các tỉnh, thành phố; các đại sứ, đại diện các tổ chức quốc tế tại Việt Nam... dự hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Lãnh đạo các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương; lãnh đạo các tỉnh, thành phố; các đại sứ, đại diện các tổ chức quốc tế tại Việt Nam... dự hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Thay mặt Tổng Bí thư Tô Lâm, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính biểu dương những đóng góp, ghi nhận những kết quả đã đạt được trong giai đoạn I (2021 - 2025) của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, các địa phương.

Bên cạnh những kết quả đạt được, Thủ tướng chỉ rõ, vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần thẳng thắn nhìn nhận: Chương trình còn manh mún, chia cắt, thiếu trọng tâm, trọng điểm; phân cấp, phân quyền chưa triệt để; thủ tục hành chính còn rườm rà làm chi phí tuân thủ tăng lên; tính tự lực, tự cường của một bộ phận đồng bào chưa cao, nguy cơ tái nghèo cao; lãnh đạo, chỉ đạo, nhất là của người đứng đầu một số địa phương, đơn vị, cơ quan chưa thực sự tập trung, gương mẫu.

Thủ tướng nhấn mạnh một số bài học kinh nghiệm quan trọng: Quyết tâm phải cao, nỗ lực phải lớn, hành động quyết liệt, đầu tư có trọng tâm trọng điểm, làm việc nào dứt việc đó, ra việc đó; sự vào cuộc, phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương trong hệ thống chính trị phải đồng bộ, chặt chẽ, nhất quán, hiệu quả, nhất là người đứng đầu; tổ chức thực hiện phải luôn bám sát thực tiễn, luôn luôn đổi mới tư duy, cách tiếp cận và hành động phải quyết liệt; tạo xu thế, phong trào của đồng bào trong quyết tâm xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu từ bàn tay, khối óc, mảnh đất, khung trời, cửa biển của mình.

Thời gian tới, trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, thách thức từ nguyên nhân chủ quan và khách quan, Thủ tướng nhấn mạnh mục tiêu tổng quát là phải tích cực hơn nữa, cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư Tô Lâm để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, năm sau phải cao hơn năm trước, nhiệm kỳ sau cao hơn nhiệm kỳ trước; tạo được phong trào, xu thế của người dân tự lực, tự cường thoát nghèo, làm giàu.

Về các mục tiêu cụ thể, Thủ tướng đề nghị các cơ quan tính toán thêm nhưng định hướng là phải bảo đảm tiếp cận bình đẳng về giáo dục, y tế, văn hóa, tiếp cận các nguồn lực của đất nước; tạo ra nhiều việc làm, sinh kế cho người dân; các mục tiêu phải thiết thực, cụ thể, khả thi và dễ hiểu, dễ làm, dễ kiểm tra, giám sát, đánh giá và với tinh thần không để ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển đất nước.

Đại biểu Vừ A Ly (xã Vân Hồ, Sơn La) tặng Thủ tướng sản phẩm rau xanh do công ty sản xuất - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Đại biểu Vừ A Ly (xã Vân Hồ, Sơn La) tặng Thủ tướng sản phẩm rau xanh do công ty sản xuất - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Bố trí khoảng 150.000 - 160.000 tỉ đồng trong 5 năm tới

Thủ tướng nêu rõ 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm thời gian tới.

Thứ nhất, tiếp tục nâng cao nhận thức, xác định đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là đầu tư cho phát triển, không những là trách nhiệm, nghĩa vụ mà phải làm bằng cả tình cảm, trái tim, tình dân tộc, nghĩa đồng bào, sự chia sẻ, tính nhân văn cao cả, quyết tâm cao nhất, "nghĩ thật, nói thật, làm thật, hiệu quả thật, nhân dân được thụ hưởng thật".

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tổ chức thực hiện đồng bộ của cả hệ thống chính trị, cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. Duy trì độc lập chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, bảo đảm bình đẳng nhưng đặc biệt chú ý các dân tộc dễ bị tổn thương.

Thứ ba, cân đối, bố trí nguồn lực ưu tiên cho chương trình trong 5 năm tới, dự kiến tăng khoảng 10 - 15% ngân sách (khoảng 150.000 - 160.000 tỉ đồng, so với 137 nghìn tỉ đồng của nhiệm kỳ này); huy động nguồn lực Trung ương, địa phương và các nguồn lực hợp pháp khác; Trung ương bố trí nguồn lực và tăng cường kiểm tra, giám sát, giao địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm.

Thủ tướng nêu rõ, nguồn lực sẽ tập trung cho một số nhiệm vụ: Tạo việc làm, sinh kế cho người dân; bảo đảm tiếp cận bình đẳng y tế, văn hóa, giáo dục, nhất là y tế cơ sở, y tế dự phòng, kiên cố hóa trường học, trong đó có trường học cho 248 xã biên giới; phát triển hạ tầng giao thông, viễn thông, điện, nước, bảo đảm tính bền vững trong phát triển. Chú ý nguồn lực về con người, bố trí bác sĩ, giáo viên.

Thứ tư, có cơ chế, chính sách phát triển, tăng cường liên kết giữa các dân tộc thiểu số và giữa các dân tộc thiểu số với cộng đồng người Kinh; hình thành, liên kết các hợp tác xã, các doanh nghiệp, phát triển hộ kinh doanh thành doanh nghiệp, phát triển doanh nghiệp nhỏ thành doanh nghiệp lớn; chú trọng phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Thứ năm, xây dựng, đầu tư các dự án ứng phó biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì); xây dựng chương trình an sinh xã hội thiết thực, cụ thể, bám sát tình hình thực tế. Tiếp tục triển khai chương trình 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại ĐBSCL.

Thủ tướng thăm các gian hàng trưng bày sản phẩm nông nghiệp của các địa phương, đơn vị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Thủ tướng thăm các gian hàng trưng bày sản phẩm nông nghiệp của các địa phương, đơn vị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Thứ sáu, gắn kết giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân vững chắc; phát huy uy tín, vai trò tiên phong của già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo, người có uy tín. Đầu tư ngân sách cho các nhiệm vụ Đảng, Nhà nước giao.

Thứ bảy, có chính sách ưu tiên, đầu tư thực hiện các nghị quyết "bộ tứ trụ cột" của Bộ Chính trị (về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển kinh tế tư nhân; xây dựng và thực thi pháp luật; hội nhập quốc tế) và các nghị quyết sắp được Bộ Chính trị ban hành về giáo dục, y tế…

Thứ tám, giữ gìn, bảo tồn và phát huy nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, tiếng nói, chữ viết của các dân tộc, góp phần phát triển công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí, biến văn hóa thành nguồn lực, di sản thành tài sản, đồng bào được hưởng thụ văn hóa nhiều hơn.

Thủ tướng thăm các gian hàng trưng bày sản phẩm nông nghiệp của các địa phương, đơn vị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Thủ tướng thăm các gian hàng trưng bày sản phẩm nông nghiệp của các địa phương, đơn vị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Thủ tướng thăm các gian hàng trưng bày sản phẩm nông nghiệp của các địa phương, đơn vị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Thủ tướng thăm các gian hàng trưng bày sản phẩm nông nghiệp của các địa phương, đơn vị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Thứ chín, xây dựng gói tín dụng ưu tiên cho việc xóa đói giảm nghèo bền vững và làm giàu, có chính sách tài khóa ưu tiên về tiếp cận đất đai, thuế, phí, lệ phí…

Thứ mười, thiết kế công cụ đo lường để giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ ngành và vào cuộc của các địa phương.

Thủ tướng nhấn mạnh, với đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi còn nhiều khó khăn thì phải có cơ chế, chính ưu tiên, hoàn thiện thể chế, bố trí nguồn lực tương xứng; tư tưởng phải thông, quyết tâm phải cao, nỗ lực phải lớn, hành động phải quyết liệt, bám sát thực tiễn, đổi mới tư duy, có cách tiếp cận phù hợp, linh hoạt, hiệu quả.

Thủ tướng tin tưởng giai đoạn 2 của chương trình sẽ được làm tốt hơn, đạt mục tiêu là đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi sẽ năm sau tốt hơn năm trước, nhiệm kỳ sau cao hơn nhiệm kỳ trước, không để ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển nhanh, bền vững, bao trùm, toàn diện của đất nước.

Theo Báo Chính phủ

Tin bài khác

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê cũng như thuê nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách về vốn, lãi suất nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đối với phân khúc nhà ở cho thuê cần những giải pháp đồng bộ khác từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng nguồn cung đối với thị trường này.
Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Bài viết phân tích thực trạng an toàn tài chính vĩ mô tại Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời đề xuất các giải pháp củng cố nền tảng tài chính, nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế và hướng tới tăng trưởng bền vững.
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Xem thêm
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê cũng như thuê nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách về vốn, lãi suất nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đối với phân khúc nhà ở cho thuê cần những giải pháp đồng bộ khác từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng nguồn cung đối với thị trường này.
Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Bài viết phân tích thực trạng an toàn tài chính vĩ mô tại Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời đề xuất các giải pháp củng cố nền tảng tài chính, nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế và hướng tới tăng trưởng bền vững.
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam