Mô phỏng quy trình đánh giá nội bộ về mức đủ thanh khoản tại ngân hàng thương mại

Hoạt động ngân hàng
Quy trình đánh giá nội bộ về mức đủ thanh khoản (ILAAP) không chỉ là yêu cầu của Basel III mà còn hỗ trợ ngân hàng thương mại ứng phó với rủi ro thanh khoản. Nghiên cứu mô phỏng các nội dung chính của ILAAP theo chuẩn Basel, hướng dẫn của ECB và quy định tại Việt Nam, bao gồm giám sát, quản lý rủi ro, kiểm tra sức chịu đựng, kế hoạch dự phòng và báo cáo liên quan.
aa

Tóm tắt: Quy trình đánh giá nội bộ về mức đủ thanh khoản (ILAAP) không chỉ là yêu cầu của Basel III mà còn là công cụ quan trọng giúp ngân hàng thương mại (NHTM) đối phó với các tình huống căng thẳng thanh khoản. Nghiên cứu thực hiện mô phỏng các nội dung trong ILAAP, bao gồm giám sát của bộ phận cấp cao về ILAAP, quản lý rủi ro thanh khoản trong ngày, kiểm tra sức chịu đựng thanh khoản, kế hoạch dự phòng thanh khoản và báo cáo ILAAP, kiểm soát, kiểm toán nội bộ về ILAAP. Mô phỏng ILAAP được thực hiện dựa trên quy định quốc tế của Basel, hướng dẫn của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và phù hợp với quy định tại Việt Nam.

Từ khóa: ILAAP, NHTM, mô phỏng ILAAP.

SIMULATING THE INTERNAL LIQUIDITY ADEQUACY ASSESSMENT PROCESS AT COMMERCIAL BANKS

Abtract: The internal liquidity adequacy assessment process (ILAAP) is a requirement of Basel III and a crucial tool that helps banks cope with liquidity stress situations. The study simulates the key components of the ILAAP, including senior management oversight of ILAAP, daily liquidity risk management, liquidity stress testing, contingency funding plans, and ILAAP reporting, as well as internal controls and auditing related to ILAAP. The ILAAP simulation is conducted based on international regulations from Basel, guidelines from the European Central Bank (ECB) and is aligned with regulations in Vietnam.

Keywords: ILAAP, commercial banks, ILAAP simulation.

1. Giới thiệu

Để bảo đảm ngân hàng hoạt động ổn định và bền vững, khi đưa ra các quy định về giám sát ngân hàng, Basel luôn chú trọng đến các vấn đề về thanh khoản và quản lý rủi ro thanh khoản bên cạnh các vấn đề liên quan đến vốn. Về thanh khoản, Basel II chưa đặt ra các chỉ tiêu định lượng cụ thể, mà chỉ yêu cầu các ngân hàng quản lý rủi ro thanh khoản trong khuôn khổ quản trị rủi ro tổng thể (Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, 2006). Tuy nhiên Basel III ra đời năm 2010 đưa ra nhiều quy định, đề xuất mới so với Basel II, bao gồm quy định về tiêu chuẩn thanh khoản như tỉ lệ bao phủ thanh khoản (LCR), tỉ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR), đồng thời ngân hàng cần thực thi ILAAP nhằm bảo đảm bền vững về thanh khoản cho ngân hàng (Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, 2013, 2014). Do vậy, ILAAP được đánh giá đóng vai trò chính trong hoạt động quản lý rủi ro của ngân hàng, bên cạnh quy trình đánh giá nội bộ về mức đủ vốn (ICAAP) (Deloitte, 2019).

ILAAP là quy trình nội bộ mà các ngân hàng xây dựng và thực hiện nhằm mục đích duy trì mức đủ thanh khoản để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính trong ngắn hạn cũng như dài hạn, cả trong điều kiện bình thường và căng thẳng. Ủy ban Ngân hàng châu Âu đã chính thức ban hành bộ 7 nguyên tắc về thực thi ILAAP, trong đó nêu rõ vai trò của ban quản lý cấp cao đối với ILAAP; vai trò của ILAAP trong khung quản trị của ngân hàng nhằm giúp duy trì khả năng hoạt động liên tục của ngân hàng; để thực hiện ILAAP cần bảo đảm các ngưỡng thanh khoản, các phương pháp định lượng phù hợp với thực thi kiểm tra sức chịu đựng thanh khoản (Ủy ban Ngân hàng châu Âu, 2018). Sau quy định của Basel và hướng dẫn của ECB về thanh khoản và quy trình ILAAP, các ngân hàng trung ương và cơ quan giám sát trên thế giới đã nhanh chóng ban hành, thực thi quy định về thanh khoản theo Basel III, ILAAP như tại Bỉ, Bungaria, Đức, Ireland, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Luxembourg, Hungary, Áo, Anh, Nigeria, Singapore, Hồng Kông, Tanzania…

Tại Việt Nam, một số NHTM công bố đang nghiên cứu hoặc sớm ứng dụng Basel III trong công tác quản lý rủi ro thanh khoản thông qua tính toán tỉ lệ NSFR và LCR như NHTM cổ phần Hàng Hải (MSB), NHTM cổ phần Tiên Phong (TPBank), NHTM cổ phần Quốc tế (VIB), NHTM cổ phần Phương Đông (OCB), trong đó, có một số ngân hàng đã tiên phong thực hiện ILAAP như: TPBank, OCB và NHTM cổ phần Á Châu (ACB). Tuy nhiên, việc thực hiện ILAAP tại các NHTM Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn khởi đầu và còn gặp nhiều vướng mắc, cần được nghiên cứu sâu để triển khai rộng rãi hơn. Trong bối cảnh đó, tại Quyết định số 689/QĐ-TTg ngày 08/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025", trong đó, một trong những giải pháp về điều hành chính sách tiền tệ đó là: “Nghiên cứu, có giải pháp phù hợp để khuyến khích các ngân hàng thực hiện Basel II theo phương pháp nâng cao, hướng đến triển khai Basel III khi TCTD có đủ điều kiện về tài chính, nhân lực”. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm làm rõ các nội dung trong ILAAP và mô phỏng thực hiện ILAAP tại một NHTM phù hợp với yêu cầu và quy định của Basel, ECB và bối cảnh tại Việt Nam.

2. Quy trình đánh giá nội bộ về mức đủ thanh khoản

Dựa trên hướng dẫn của Basel và ECB, kết hợp kinh nghiệm quốc tế, ILAAP tại NHTM được thiết kế, xây dựng theo các bước và nội dung được thể hiện như Hình 1:

Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Bước 1: Giám sát của các bộ phận cấp cao, bao gồm nội dung về cấu trúc quản trị và hệ thống các quy định, văn bản về ILAAP.

Bước 2: Quản lý rủi ro thanh khoản trong ngày: NHTM chủ động quản lý các trạng thái, chỉ tiêu thanh khoản nhằm đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán nội bộ và bên ngoài trong ngày, đồng thời, bảo đảm tuân thủ các quy định pháp luật và quy định nội bộ về thanh khoản.

Bước 3: Kiểm tra sức chịu đựng thanh khoản: Ngân hàng cần thực hiện kiểm tra sức chịu đựng thanh khoản nhằm đánh giá mức độ bền vững về thanh khoản trong các kịch bản và tình huống bất lợi.

Bước 4: Ban hành kế hoạch dự phòng: NHTM cần ban hành kế hoạch tài trợ đầy đủ nhằm bảo đảm hỗ trợ hoạt động kinh doanh của ngân hàng diễn ra liên tục trong cả điều kiện bình thường và trong các tình huống căng thẳng, triển khai các cải thiện cần thiết đối với cấu trúc tài trợ và bảo đảm khẩu vị rủi ro, các chỉ số trọng yếu về thanh khoản sẽ không bị vi phạm khi thực hiện kế hoạch. Ngân hàng cần xây dựng các kế hoạch dự phòng thanh khoản để chủ động ứng phó với các tình huống căng thẳng, bao gồm việc xác định các nguồn vốn khẩn cấp, các tài sản có thể bán để huy động vốn, các biện pháp cắt giảm chi phí.

Bước 5: Báo cáo ILAAP, kiểm soát, kiểm toán nội bộ về ILAAP.

3. Mô phỏng quy trình đánh giá nội bộ về mức đủ thanh khoản

Nghiên cứu tiến hành mô phỏng cụ thể các nội dung cần thực hiện trong ILAAP. Cụ thể như sau:

3.1. Giám sát của các bộ phận cấp cao

Mục đích giám sát của các bộ phận cấp cao là tóm lược lại cấu trúc của NHTM và chính sách nội bộ liên quan tới quản trị rủi ro nói chung và ILAAP nói riêng. Trong đó, cấu trúc của NHTM cần bao hàm hội đồng quản trị, ban điều hành và các khối liên quan với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể... Cơ cấu tổ chức giám sát của hội đồng quản trị/hội đồng thành viên bảo đảm có ủy ban quản lý rủi ro, ban điều hành thành lập ủy ban quản lý tài sản/nợ phải trả (ALCO), hội đồng rủi ro. Nhiệm vụ cụ thể như sau:

Hội đồng quản trị: Chịu trách nhiệm xác định và giám sát chiến lược thanh khoản tổng thể của ngân hàng; phê duyệt chính sách quản lý thanh khoản (bao gồm chiến lược quản lý rủi ro thanh khoản), khẩu vị rủi ro về quản lý rủi ro thanh khoản và báo cáo ILAAP; đánh giá định kỳ các báo cáo về tình hình thanh khoản.

Ủy ban ALCO: Quản lý chiến lược về tài sản và nguồn vốn, bảo đảm sự cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro thanh khoản; đề xuất các điều chỉnh cần thiết với hội đồng quản trị. Ủy ban ALCO họp hàng tháng để phân tích biến động LCR và NSFR, phân tích biến động chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản - nguồn vốn, đánh giá hiệu quả các công cụ quản lý thanh khoản như tài sản có tính thanh khoản cao (HQLA) và thực hiện các bài kiểm tra sức chịu đựng thanh khoản theo các kịch bản giả định.

Phòng quản lý tài sản - nợ (ALM): Bảo đảm các kế hoạch thanh khoản được thực hiện đúng, quản lý chi tiết về dòng tiền ngắn hạn, dài hạn, theo dõi các chỉ số thanh khoản hằng ngày và hằng tuần. Phòng ALM cập nhật và phân tích dòng tiền thực tế và dự báo; báo cáo hằng ngày về vị thế thanh khoản (dòng tiền vào/ra, tình trạng các khoản vay ngắn hạn, biến động trên thị trường tiền tệ và vốn); báo cáo hằng tuần cho ủy ban ALCO về các khoản rủi ro thanh khoản cụ thể.

Quy trình phối hợp giám sát được thực hiện như sau:

Hằng ngày: Phòng ALM cập nhật tình hình dòng tiền và báo cáo cho ALCO.

Hằng tuần: Ủy ban ALCO tổ chức họp với các phòng ban chức năng để xem xét biến động rủi ro thanh khoản.

Hằng tháng: Báo cáo tổng hợp ILAAP được ủy ban ALCO gửi cho hội đồng quản trị.

Hằng quý: Hội đồng quản trị đánh giá toàn diện về tình hình thanh khoản, phê duyệt hoặc điều chỉnh chiến lược.

Hằng năm: Kiểm toán nội bộ thực hiện đánh giá toàn diện hệ thống ILAAP, gửi báo cáo độc lập cho hội đồng quản trị.

3.2. Quản lý rủi ro thanh khoản trong ngày

Quản lý rủi ro thanh khoản trong ngày bao gồm: Giám sát dòng tiền trong ngày; quản lý thanh khoản dữ trữ trong ngày (xác định lượng tiền mặt hoặc tài sản thanh khoản sẵn sàng sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh toán trong ngày, bảo đảm dự trữ tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đáp ứng yêu cầu thanh khoản tối thiểu); dự báo tình huống làm thay đổi bất thường thanh khoản trong ngày; lập kế hoạch khắc phục sự cố thanh khoản trong ngày (khi cần kích hoạt các công cụ thanh khoản). Cụ thể, ngân hàng thực hiện đo lường và quản lý các chỉ tiêu thanh khoản trong ngày, bao gồm:

(i) Tỉ lệ dự trữ thanh khoản (%) = Tài sản có tính thanh khoản cao/Tổng nợ phải trả. Tỉ lệ này bảo đảm tối thiểu 10%;

(ii) Tỉ lệ khả năng chi trả trong 30 ngày (%) = Tài sản có tính thanh khoản cao/Dòng tiền ra ròng trong 30 ngày tiếp theo. Tỉ lệ này bảo đảm tối thiểu 50% với dòng tiền ra ròng đối với đồng Việt Nam trong 30 ngày tiếp theo là dương và tối thiểu 10% với dòng tiền ra ròng đối với ngoại tệ (USD) trong 30 ngày tiếp theo là dương;

(iii) Tỉ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi LDR = Tổng dư nợ cho vay theo quy định/Tổng tiền gửi theo quy định của Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019 của Thống đốc NHNN quy định các giới hạn, tỉ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tỉ lệ này bảo đảm tối đa 85%;

(iv) Tỉ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung dài hạn, bảo đảm tối đa 30%;

(v) Các chỉ tiêu thanh khoản theo Basel III;

(vi) LCR bảo đảm tối thiểu 100%;

(vii) NSFR bảo đảm tối thiểu 100%.

Nguồn: Mô phỏng của tác giả
Nguồn: Mô phỏng của tác giả

Bảng 1 mô phỏng các chỉ tiêu thanh khoản trong ngày của NHTM X. Theo đó, NHTM X đã bảo đảm tình hình thanh khoản ổn định và đáp ứng các hạn mức đã đặt ra với các chỉ tiêu thanh khoản trong ngày. Cuối năm 2024, Ngân hàng X đạt tỉ lệ dự trữ thanh khoản là 17,28%, tỉ lệ khả năng chi trả trong 30 ngày với VND là 65,90%, tỉ lệ khả năng chi trả trong 30 ngày với USD là 89,63% và tỉ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung dài hạn đạt 25,57%. Tất cả các tỉ lệ theo yêu cầu của NHNN đều được bảo đảm với biên độ cao. Bên cạnh đó, Ngân hàng X duy trì LCR là 137,85% và NSFR là 135,59%, cao hơn nhiều so với tỉ lệ tối thiểu 100% theo yêu cầu của Basel III.

Nguồn: Mô phỏng của tác giả
Nguồn: Mô phỏng của tác giả

Để đạt được kết quả trên, theo Hình 2, Ngân hàng X đã duy trì được nguồn dự phòng thanh khoản cao với tài sản thanh khoản có xu hướng tăng tương quan với mức tăng của tổng nợ phải trả. Tài sản thanh khoản cao đến từ tiền mặt, dự trữ bắt buộc và trái phiếu chính phủ, chiếm khoảng 65%, còn lại 45% phụ thuộc vào tiền gửi không kỳ hạn và tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của doanh nghiệp mở tại ngân hàng đại lý (Nostro). Về phía huy động, Ngân hàng X thực hiện đa dạng hóa các nguồn huy động theo loại khách hàng và kỳ hạn, bảo đảm duy trì cơ cấu bảng cân đối an toàn với kỳ hạn được phân bổ hợp lý giữa nguồn vốn và các khoản cho vay.

3.3. Kiểm tra sức chịu đựng thanh khoản

Theo quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, ngân hàng cần xây dựng mô hình đánh giá và thử nghiệm khả năng chi trả, thanh khoản, trong đó có các phân tích tình huống khả năng chi trả, tính thanh khoản có thể xảy ra và phải bảo đảm: (i) Phân tích tình huống tối thiểu gồm hai trường hợp: Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong điều kiện hoạt động bình thường; dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong điều kiện gặp khó khăn về khả năng chi trả, thanh khoản.

(ii) Phân tích tình huống phải bảo đảm thể hiện được các nội dung sau: Khả năng thực hiện các nghĩa vụ và cam kết hằng ngày; các biện pháp xử lý để có đủ khả năng đáp ứng quy định về khả năng chi trả. Theo Thông tư số 13/2018/TT-NHNN ngày 18/5/2018 của Thống đốc NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng cũng cần thực hiện kiểm tra sức chịu đựng về thanh khoản định kỳ tối thiểu 6 tháng một lần và đột xuất, tối thiểu 2 kịch bản hoạt động bình thường, kịch bản bất lợi với tối thiểu các kịch bản giả định về tiền gửi và chất lượng tín dụng. Bên cạnh đó, theo nguyên tắc của ECB về thực hiện ILAAP, ngân hàng cần thực hiện kiểm tra sức chịu đựng thanh khoản thường xuyên

(ít nhất mỗi năm một lần và thường xuyên hơn) nhằm bảo đảm mức đủ thanh khoản trong các trường hợp bất lợi. Ngoài ra ngân hàng cũng có thể thực hiện kiểm tra sức chịu đựng về thanh khoản ngược một cách phù hợp.

Xây dựng kịch bản

Ngân hàng thực hiện xây dựng 3 kịch bản bao gồm: Kịch bản 1 - kịch bản căng thẳng nhẹ, kịch bản 2 - kịch bản căng thẳng trung bình và kịch bản 3 - kịch bản căng thẳng nghiêm trọng. Theo đó, các kịch bản đưa ra bên tài sản gồm có các tỉ lệ thu về đúng hạn của khoản cho vay khách hàng cá nhân (KHCN) và khách hàng doanh nghiệp (KHDN), tỉ lệ cho vay tuần hoàn (roll-over) là tỉ lệ phần trăm của các khoản nợ hoặc tín dụng được tái cấp vốn hoặc gia hạn khi chúng đến hạn, tỉ lệ

hair-cut của giấy tờ có giá là tỉ lệ giảm giá trị của các giấy tờ có giá khi được sử dụng để cho vay hoặc chuyển thành tiền mặt. Bên nguồn bao gồm các tỉ lệ run-off các khoản tiền gửi ổn định và ít ổn định của khách hàng cá nhân, doanh nghiệp, là tỉ lệ phần trăm các khoản tiền gửi bị rút khỏi ngân hàng. Các kịch bản được xây dựng trong khung thời hạn 3 tháng (Bảng 2).

Nguồn: Mô phỏng của tác giả
Nguồn: Mô phỏng của tác giả

Ngân hàng cần đánh giá tác động của các kịch bản tới các tỉ lệ thanh khoản nhằm đánh giá khả năng bền vững về thanh khoản trước các kịch bản nghiêm trọng. Ngân hàng tính toán số ngày chống chịu căng thẳng (survival period), là số ngày mà ngân hàng có thể duy trì khả năng thanh khoản hay duy trì các tỉ lệ bảo đảm thanh khoản mà không cần huy động thêm nguồn vốn bên ngoài khi đối mặt với các kịch bản căng thẳng về thanh khoản. Chỉ số về số ngày chống chịu căng thẳng hỗ trợ ngân hàng thiết lập các giới hạn về rủi ro thanh khoản nhằm tối ưu hóa danh mục tài sản thanh khoản cao, giúp ban quản trị và cơ quan quản lý nhận diện sớm rủi ro thanh khoản để có biện pháp ứng phó kịp thời.

Nguồn: Mô phỏng của tác giả
Nguồn: Mô phỏng của tác giả

Bảng 3 thể hiện số ngày chống chịu căng thẳng của NHTM X theo tỉ lệ bảo đảm thanh khoản theo từng kịch bản. Theo đó, số ngày chống chịu căng thẳng theo từng kịch bản là số ngày tối thiểu để bảo đảm đáp ứng các hạn mức thanh khoản của các tỉ lệ bảo đảm thanh khoản. Trước các kịch bản căng thẳng liên quan đến việc khách hàng rút các khoản tiền gửi, cho vay khách hàng gặp khó khăn trong việc thu hồi các khoản nợ và cho vay các khoản vay mới, tiếp cận thị trường 2 khó khăn hơn, giá trị tài sản thanh khoản bị giảm giá khi thanh lý dẫn đến việc dòng tiền vào bị hạn chế cũng như dòng tiền ra tăng đột biến. Các kịch bản căng thẳng xảy ra dẫn đến việc ngân hàng gặp khó khăn trong việc đáp ứng các tỉ lệ bảo đảm thanh khoản. NHTM X có số ngày chống chịu căng thẳng theo các kịch bản 1, kịch bản 2, kịch bản 3 tương ứng là 5 ngày, 4 ngày và 3 ngày. Để tuân thủ các tỉ lệ bảo đảm thanh khoản tối thiểu 5 ngày, ngân hàng cần tính toán số tài sản thanh khoản cần tăng thêm 5.712 tỉ đồng đến 6.529 tỉ đồng tương ứng với các kịch bản căng thẳng (Bảng 4).

Nguồn: Mô phỏng của tác giả
Nguồn: Mô phỏng của tác giả

Kiểm tra sức chịu đựng ngược

Kiểm tra sức chịu đựng ngược (Reverse stress test) là một kỹ thuật được sử dụng trong Kiểm tra sức chịu đựng thanh khoản ngân hàng để xác định mức độ căng thẳng tối đa mà ngân hàng có thể duy trì để không vi phạm các giới hạn quy định thanh khoản.

NHTM X thực hiện kiểm tra sức chịu đựng ngược bằng cách xác định kịch bản về tỉ lệ rút tiền khiến cho ngân hàng không thể duy trì các tỉ lệ bảo đảm thanh khoản trong vòng 3 tháng. Mức độ suy giảm tiền gửi khách hàng được xác định sẽ được so sánh với tỉ lệ suy giảm tiền gửi khách hàng trong 20 năm lịch sử của NHTM X, từ đó tính ra xác suất xảy ra là 0,03%, nhỏ hơn ngưỡng 0,05% theo chuẩn mực Basel về xác suất đổ vỡ tối thiểu áp dụng cho danh mục khoản phải thu không phải với Chính phủ. Do vậy, NHTM X được đánh giá là tương đối bền vững về thanh khoản.

3.4. Kế hoạch dự phòng thanh khoản

Theo quy định tại Thông tư số 13/2018/TT-NHNN, ngân hàng cũng cần thực hiện kiểm tra sức chịu đựng về thanh khoản và lập kế hoạch dự phòng trong trường hợp không đáp ứng được các yêu cầu về thanh khoản. Kế hoạch dự phòng tối thiểu gồm các nội dung: Dự kiến các biện pháp xử lý về nguồn vốn, sử dụng vốn, dòng tiền tương lai bảo đảm đáp ứng các yêu cầu quy định.

NHTM cần nêu được nguồn dự phòng thanh khoản, đây là một trong các biện pháp dự phòng mà NHTM có thể sử dụng nhằm bảo đảm an toàn thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm các tài sản NHTM có thể chuyển đổi thành tiền trong thời gian ngắn nhằm thanh toán các nghĩa vụ đến hạn trong điều kiện bình thường và trong các tình huống căng thẳng. Quy mô, cấu trúc của nguồn dự phòng thanh khoản phụ thuộc vào khẩu vị rủi ro của NHTM, quy định của pháp luật và quy định nội bộ của ngân hàng. Ngân hàng cần lưu ý về các tài sản ràng buộc là các tài sản của ngân hàng đã được thế chấp, cầm cố hoặc sử dụng làm tài sản bảo đảm cho các nghĩa vụ tài chính, do đó không thể dễ dàng bán hoặc sử dụng để tạo thanh khoản trong trường hợp căng thẳng về thanh khoản.

Bảng 4 trình bày kế hoạch dự phòng thanh khoản của NHTM X tương ứng với các kịch bản căng thẳng thanh khoản khác nhau. Theo đó NHTM X dự kiến tăng tài sản thanh khoản đến từ vay NHNN và thanh lý trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu TCTD với giá trị 5.712 tỉ đồng với kịch bản 2 và 6.529 tỉ đồng với kịch bản 3.

3.5. Báo cáo về mức độ đủ thanh khoản, kiểm soát, kiểm toán nội bộ về ILAAP

Báo cáo về mức độ đủ thanh khoản (Báo cáo ILAAP)

Báo cáo ILAAP cần ghi nhận lại quá trình và cách thức NHTM xác định, đo lường, quản lý và giám sát rủi ro thanh khoản của ngân hàng và đánh giá mức đủ thanh khoản của ngân hàng. Một trong những mục tiêu chính của báo cáo ILAAP là hỗ trợ các bộ phận cấp cao trong việc phê duyệt, xác nhận cũng như bảo đảm tính thống nhất về các nội dung và nguyên tắc thực hiện. Báo cáo ILAAP bao gồm các nội dung, cấu phần của ILAAP khi được triển khai tại ngân hàng. Báo cáo cần được lập theo yêu cầu nội bộ và yêu cầu của cơ quan giám sát, đồng thời, được nộp cho cơ quan giám sát mỗi năm.

Theo đề xuất của nghiên cứu, trên báo cáo ICAAP tại các NHTM khi đưa ra cần có chữ ký phê duyệt đồng thời của ba cấp lãnh đạo là chủ tịch hội đồng quản trị/tổng giám đốc, giám đốc khối tài chính (chief financial officer) và giám đốc khối quản lý rủi ro (chief risk officer).

Kiểm soát, kiểm toán nội bộ về ILAAP

Để bảo đảm thực hiện chức năng một cách đầy đủ và hiệu quả, các bộ phận kiểm soát rủi ro, kiểm toán nội bộ và tuân thủ cần phải độc lập với bộ phận kinh doanh, đồng thời cũng phải độc lập với nhau.

Trong ILAAP, ngân hàng được yêu cầu phải có chiến lược, quy trình để đánh giá, duy trì một cách liên tục mức độ đủ thanh khoản nội bộ, ngoài ra còn phải thực hiện đánh giá nội bộ thường xuyên về những chiến lược và quy trình đó. Hoạt động này được thực hiện nhằm bảo đảm tính đầy đủ và toàn vẹn của ILAAP. Những yêu cầu như vậy cũng liên quan tới hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng.

Về chức năng kiểm soát rủi ro

Kiểm soát rủi ro là quá trình bảo đảm hồ sơ rủi ro của ngân hàng được duy trì tương ứng với các rủi ro mà ngân hàng gặp phải. Với các rủi ro có thể lượng hóa được, ngân hàng có thể kiểm soát thông qua các giới hạn định lượng. Với các rủi ro không thể lượng hóa, kiểm soát các rủi ro này thông qua các yêu cầu liên quan đến quy trình hoặc các giới hạn định tính. Như vậy kiểm soát rủi ro nói chung dựa trên so sánh giữa mục tiêu và tình trạng thực tế của ngân hàng. Trong ILAAP, những thông số mục tiêu được hiểu là các giới hạn được ngân hàng đưa ra. Ngân hàng cần phải đưa ra quy trình chuẩn xử lý trong trường hợp các giới hạn bị vi phạm và vượt giới hạn. Cần có hệ thống cảnh báo để kiểm soát việc vi phạm các giới hạn. Khi vi phạm các giới hạn thì các biện pháp kiểm soát cần được thực hiện. Bên cạnh đó, cần thiết lập cơ chế hoạt động trong khi khả năng chịu đựng rủi ro của ngân hàng rơi vào trường hợp nguy kịch.

Về chức năng tuân thủ

Chức năng tuân thủ là một công cụ để quản lý, nhằm xác định, đánh giá những thay đổi diễn ra thực tế và tiềm tàng trong luật, quy định, quy chuẩn cũng như các quy tắc nội bộ, từ đó, báo cáo những sai phạm đến trưởng các bộ phận chức năng liên quan và những nhà quản lý cấp cao nếu cần. Bên cạnh đó, bộ phận tuân thủ còn hỗ trợ hoạt động quản lý trong việc duy trì và cập nhật những quy định hiện tại, đánh giá tác động tiềm tàng khi có những quy định mới liên quan tới ngân hàng.

Với ILAAP, bộ phận tuân thủ cần xác nhận những sản phẩm mới, giao dịch và quy trình mới thực hiện phù hợp với các quy định hiện tại cũng như tương lai. Nhiệm vụ quan trọng khác là cần tạo nên một văn hóa tuân thủ trong ngân hàng, cũng như đào tạo nhân viên liên quan đến những quy định hiện tại và quy định đang thay đổi, từ đó có thể giảm thiểu rủi ro tuân thủ trong ngân hàng.

Về chức năng kiểm toán nội bộ

Bộ phận kiểm toán nội bộ cần rà soát việc áp dụng ILAAP một cách liên tục, báo cáo khi phát hiện được các sai phạm và đánh giá giải pháp để xử lý sai phạm. Để bảo đảm các chức năng kiểm soát rủi ro, kiểm toán nội bộ và tuân thủ được thực hiện hiệu quả, các bộ phận này cần phải được độc lập, tách biệt với bộ phận kinh doanh và tách biệt với nhau.

Ngân hàng cũng cần xác định các báo cáo do kiểm toán nội bộ và/hoặc kiểm toán độc lập thực hiện đối với ILAAP, đồng thời cung cấp các tóm tắt và phát hiện chính liên quan đến giai đoạn được đề cập trong báo cáo, nêu rõ các biện pháp đã được thực hiện dựa trên các phát hiện từ kiểm toán nội bộ và/hoặc kiểm toán độc lập với ILAAP.

Tài liệu tham khảo:

1. Bank of Nigeria (2021), Guidelines on Internal Liquidity Adequacy Assessment Process, Publication.

2. Bank of Tanzania (2022), Guidelines on Internal Liquidity Adequacy Assessment Process, Publication.

3. Basel Committee on Banking Supervision (2006). Basel II: International Convergence of Capital Me surement and Capital Standards: A Revised Framework.

4. Basel Committee on Banking Supervision (2013). Basel III: The Liquidity Coverage Ratio and liquidity risk monitoring tools. Bank for International Settlement.

5. Basel Committee on Banking Supervision (2014). Basel III: The net stable funding ratio. Bank for International Settlement.

6. Deloitte (2019). Internal Capital Adequacy Assessment and Internal Liquidity Adequacy Assessment Process.

7. ECB (2018), Guide to the internal liquidity adequacy assessment process (ILAAP), Publication, November.

TS. Nguyễn Thị Thu Trang
Học viện Ngân hàng

Tin bài khác

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo -  Động lực phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo - Động lực phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Ngày 18/5 là Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam, tôn vinh trí thức và khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ trong phát triển bền vững. Với ngành Ngân hàng, đây là ngày có ý nghĩa quan trọng, tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi số và xây dựng hệ sinh thái tài chính số hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Dòng vốn ngân hàng "mở đường" cho mục tiêu tăng trưởng cao

Dòng vốn ngân hàng "mở đường" cho mục tiêu tăng trưởng cao

Trong bối cảnh áp lực lạm phát, tỉ giá và biến động tài chính quốc tế gia tăng, ngành Ngân hàng đang triển khai hàng loạt giải pháp nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng vẫn bảo đảm an toàn hệ thống tín dụng. Đây là những nội dung các chuyên gia, nhà khoa học thảo luận tại Tọa đàm “Vai trò của ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” do Thời báo Ngân hàng tổ chức ngày 08/5/2026.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích xu hướng tích hợp các yếu tố Môi trường, Xã hội và Quản trị (Environmental, Social, Governance - ESG) trong ngân hàng từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam, qua đó đề xuất hàm ý chính sách thúc đẩy tài chính xanh và phát triển bền vững.
Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - NHNN). Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu lần đầu tiên nước ta có một ngân hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân. Sự ra đời này là kết quả của quá trình xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, mở ra bước phát triển mới về chất trong hoạt động tài chính - tiền tệ. Trải qua 75 năm xây dựng, củng cố và phát triển, ngành Ngân hàng Việt Nam không ngừng lớn mạnh, đóng góp quan trọng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Xem thêm
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng