Điểm nhấn kinh tế Việt Nam 10 tháng năm 2025

Sự kiện
Về tổng thể, trong 10 tháng năm 2025, Việt Nam đã nỗ lực vượt bậc, đạt kết quả toàn diện, ấn tượng trên hầu hết các lĩnh vực, khẳng định sức chống chịu, khả năng thích ứng linh hoạt và hiệu quả điều hành chính sách vĩ mô. Việt Nam đang đi đúng hướng với lạm phát được kiểm soát chặt chẽ; đầu tư công và xuất khẩu là hai động lực tăng trưởng then chốt...
aa
Điểm nhấn kinh tế Việt Nam 10 tháng năm 2025
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

1. Một số điểm nhấn về kinh tế trong 10 tháng năm 2025

1.1. Mức tăng trưởng GDP được dự báo cao nhất khu vực châu Á

Mức tăng trưởng GDP cao nhất châu Á năm 2025 là đánh giá chung của nhiều dự báo quốc tế về kinh tế Việt Nam: Theo Báo cáo Cập nhật Kinh tế Đông Á và Thái Bình Dương của Ngân hàng Thế giới (WB) công bố ngày 07/10/2025, Việt Nam dẫn đầu khu vực với mức tăng trưởng 6,6% (giá thị trường cố định), tiếp theo là Mông Cổ (5,9%) và Philippines (5,3%). Trung Quốc, Campuchia và Indonesia dự kiến đều tăng trưởng ở mức 4,8%, trong khi các quốc đảo Thái Bình Dương dự kiến tăng 2,7% và Thái Lan 2,0%. Lạm phát dự kiến cả năm 2025 của Việt Nam là 3,8%.

Trước đó, nhiều dự báo khác của nước ngoài cũng khẳng định mức tăng trưởng ấn tượng của Việt Nam: Ngân hàng Standard Chartered đã nâng dự báo GDP Việt Nam năm 2025 lên 7,5%, năm 2026 lên 7,2%; lạm phát 3,4% (2025) và 3,7% (2026). Ngân hàng HSBC nhấn mạnh năm 2025 Việt Nam là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất ASEAN, gần sát mục tiêu trên 8% và lạm phát là 3,3% năm 2025; mức tăng tương ứng năm 2026 là 6,7% và 3,5%. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dự báo tăng trưởng của Việt Nam là 6,7% nhưng hạ còn 6,0% cho năm 2026. Ngân hàng UOB của Singapore dự báo Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng 7,7% trong năm 2025 và tiếp tục nằm trong nhóm kinh tế phát triển nhanh nhất ASEAN.

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), đến hết quý III/2025, GDP tăng 7,85%, với quý sau cao hơn quý trước và tăng đều các khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản (tăng 3,83%), công nghiệp và xây dựng (tăng 8,69%), dịch vụ (tăng 8,49%). Đặc biệt, tính chung 10 tháng năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2024 tăng 8,3%) và mức tăng được ghi nhận ở tất cả 34 địa phương.

Quy mô nền kinh tế năm 2025 ước tăng lên 510 tỉ USD (so với 346 tỉ USD năm 2020), xếp vị trí 32 thế giới (tăng 5 bậc so với năm 2020); GDP bình quân đầu người ước đạt khoảng 5.000 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, vào nhóm thu nhập trung bình cao. Tính chung giai đoạn 2021 - 2025, Việt Nam đã đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu chủ yếu, đặc biệt vượt toàn bộ các chỉ tiêu về xã hội và an sinh xã hội. Năm 2025, GDP dự kiến tăng trên 8% (bình quân giai đoạn 2021 - 2025 tăng 6,3%, cao hơn mức tăng 6,2% của nhiệm kỳ trước).

1.2. Duy trì các động lực tăng trưởng, nhất là xuất khẩu và đầu tư

Chính phủ đã chủ động điều hành bằng nhiều giải pháp: Miễn giảm, gia hạn thuế, phí cho doanh nghiệp; ưu tiên thanh khoản ngân hàng; mở rộng tín dụng cho sản xuất và doanh nghiệp vừa và nhỏ; đồng thời kích cầu tiêu dùng nội địa để giảm phụ thuộc vào xuất khẩu.

Theo Cục Thống kê, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10 tháng ước đạt 5.772,9 nghìn tỉ đồng, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,0% (cùng kỳ năm 2024 tăng 4,8%). Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 762,44 tỉ USD, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 16,2%; nhập khẩu tăng 18,6%. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 19,56 tỉ USD. Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 126,2 tỉ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 150,9 tỉ USD. Số lượng cảnh báo từ EU đối với nông sản xuất khẩu của Việt Nam giảm khoảng 50% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh nỗ lực cải thiện chất lượng và tuân thủ quy định của các doanh nghiệp. Hiện nay, Việt Nam là một trong những quốc gia có ít sản phẩm bị kiểm soát biên giới, chỉ còn 4 sản phẩm nằm trong danh sách kiểm tra gồm: Sầu riêng (tần suất kiểm tra 20%); đậu bắp, ớt chuông (50% kèm chứng thư); thanh long (30%).

Tính chung 10 tháng năm 2025, cả nước có 255,9 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 26,5% so với cùng kỳ năm trước; tổng số vốn đăng ký bổ sung là 5,2 triệu tỉ đồng, tăng 98,2% so với cùng kỳ năm 2024; trong đó, số vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp đang hoạt động đạt gần 3,6 triệu tỉ đồng, tăng 175,6%; bình quân một tháng có 25,6 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động; có 19,1 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước ước đạt 640,2 nghìn tỉ đồng, bằng 63,1% kế hoạch năm và tăng 27,8% so với cùng kỳ. Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 31/10/2025 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 31,52 tỉ USD, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước; FDI thực hiện ước đạt 21,3 tỉ USD, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 1,1 tỉ USD, gấp 2,3 lần so với cùng kỳ năm trước. Tổng khách quốc tế đến Việt Nam đạt gần 17,2 triệu lượt người, tăng 21,5% so với cùng kỳ…

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, đến hết quý III/2025 đã giải ngân hơn 440 nghìn tỉ đồng, đạt khoảng 50% kế hoạch Thủ tướng giao đầu năm. Việc đẩy nhanh giải ngân không chỉ giúp thúc đẩy xây dựng, mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa cho doanh nghiệp sản xuất - vật liệu - logistics, góp phần cải thiện chuỗi giá trị và tăng năng suất sử dụng vốn. Trên cơ sở mục tiêu của Chính phủ về tăng trưởng kinh tế và các chỉ tiêu vĩ mô năm 2025, ngay từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã xây dựng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025 khoảng 16% và có điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế1. Cũng theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến 28/10/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng 14,77% so với cuối năm 20242.

1.3. Lạm phát được kiểm soát dưới 4%, các cân đối lớn của nền kinh tế và an sinh xã hội được bảo đảm, môi trường đầu tư tiếp tục cải thiện

Theo Cục Thống kê, bình quân CPI 10 tháng tăng 3,27% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 3,20%. Chỉ số giá vàng bình quân tăng 44,02% và chỉ số giá đô la Mỹ bình quân tăng 3,98% so với cùng kỳ năm trước.

Đặc biệt, tổng thu ngân sách nhà nước đạt 2.182,7 nghìn tỉ đồng, bằng 111% dự toán năm và tăng 30,8% so với cùng kỳ năm trước; trong khi tổng chi ngân sách nhà nước lũy kế 10 tháng đạt 1.835,7 nghìn tỉ đồng, bằng 71,2% dự toán năm và tăng 32,1%. Giải ngân vốn đầu tư công từ đầu năm đến hết ngày 23/10/2025 là 464.828 tỉ đồng, bằng 51,7% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. 29 bộ, cơ quan trung ương và 16 địa phương có tỉ lệ giải ngân đạt dưới bình quân chung cả nước. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025 của Việt Nam xếp hạng 44/139 quốc gia, vùng lãnh thổ. Hạ tầng số phát triển mạnh mẽ, rộng khắp... Nhiều dự án tồn đọng, kéo dài nhiều năm được xử lý quyết liệt, đạt kết quả tích cực, góp phần giải phóng nguồn lực cho phát triển. Đời sống của nhân dân được nâng lên.

Chính phủ sau khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy gồm 14 bộ, 3 cơ quan ngang bộ (giảm 5 bộ, cơ quan ngang bộ, 3 cơ quan thuộc Chính phủ. Biên chế tại các bộ, ngành giảm khoảng 22.000 người (đạt khoảng 20%). Biên chế khối hành chính nhà nước giảm 145.000 người; chi thường xuyên giảm 39.000 tỉ đồng/năm. Tiềm lực quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia được giữ vững; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm.

Về tổng thể, năm 2025, Việt Nam đã nỗ lực vượt bậc, đạt kết quả toàn diện, ấn tượng trên hầu hết các lĩnh vực, khẳng định sức chống chịu, khả năng thích ứng linh hoạt và hiệu quả điều hành chính sách vĩ mô. Việt Nam đang đi đúng hướng với lạm phát được kiểm soát chặt chẽ; đầu tư công và xuất khẩu là hai động lực tăng trưởng then chốt.

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn không ít hạn chế về năng lực điều hành ổn định kinh tế vĩ mô và hiệu quả khai thác nguồn lực từ con người, thiên nhiên, văn hóa và bảo vệ môi trường, phát triển và quản lý thị trường bất động sản, vàng, trái phiếu, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cũng như nguồn nhân lực chất lượng cao. Thị trường vàng diễn biến phức tạp, làm hạn chế khả năng huy động vốn trung và dài hạn. Tiến độ giải ngân có thể bị ảnh hưởng bởi thủ tục hành chính, vốn ODA chậm; thị trường xuất khẩu có thể gặp khó nếu kinh tế thế giới đột ngột suy giảm; chi phí đầu vào - từ nguyên liệu, logistics - tiếp tục tăng, gây áp lực lên doanh nghiệp; việc “kích cầu” tiêu dùng nội địa cuối năm phụ thuộc nhiều vào thu nhập và tâm lý người dân. Tình hình an ninh trật tự tại một số địa bàn, tội phạm an ninh mạng, công nghệ cao còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp…

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm 2025 trên 8,4%, Chính phủ yêu cầu tăng tốc giải ngân đầu tư, đẩy vốn nhanh vào sản xuất - kinh doanh và thị trường nội địa; triển khai các gói hỗ trợ doanh nghiệp, mở rộng thị trường mới ở Trung Đông, Nam Á và châu Phi; nâng cao quản trị nợ xấu, bản lĩnh vượt khó và khát vọng phát triển bền vững.

Về điều hành chính sách tiền tệ, trong nội dung Công điện số 221/CĐ-TTg ngày 19/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính về tập trung ưu tiên giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy xuất khẩu, Thủ tướng yêu cầu đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: "a) Thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả; tăng cường hơn nữa về kiểm tra, thanh tra, kiểm soát chặt chẽ hướng dòng vốn tín dụng vào sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng, gắn với bảo đảm chất lượng tín dụng, kiểm soát nợ xấu; b) Điều hành tỉ giá, lãi suất phù hợp với tình hình thị trường, bảo đảm linh hoạt, hiệu quả, góp phần tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, thu hút đầu tư".

2. Mục tiêu và triển vọng kinh tế năm 2026

Theo dự báo của WB công bố tháng 10/2025, tăng trưởng thực tế GDP của Việt Nam theo giá cố định sẽ chậm lại còn 6,1% năm 2026, sau đó phục hồi lên 6,5% năm 2027; lạm phát giảm dần còn 3,7% năm 2026 và 3,5% năm 2027; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 8,7% (nhập khẩu tăng 10,0%) vào năm 2026 và 8,9% (nhập khẩu tăng 9,6%) vào năm 2027 nhờ việc thương mại toàn cầu hồi phục và Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn dưới vai trò là một trung tâm công nghiệp cạnh tranh trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Tỉ lệ nghèo theo chuẩn thu nhập trung bình thấp (4,2 USD/ngày, PPP 2021) dự kiến là 3,4% năm 2026 và chỉ còn 3,2% vào năm 2027.

Quốc hội và Chính phủ đã xác định mục tiêu năm 2026 là ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; ổn định tổ chức bộ máy, xây dựng nền hành chính hiện đại, thông minh, tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. GDP phấn đấu đạt 10% trở lên; GDP bình quân đầu người đạt 5.400 - 5.500 USD; CPI bình quân tăng khoảng 4,5%; tốc độ năng suất lao động xã hội bình quân tăng khoảng 8,5%; tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm khoảng 1 - 1,5%; tăng thu ngân sách nhà nước ít nhất 10%; kế hoạch giai đoạn 2026 - 2030 tăng chi đầu tư phát triển lên 40%...

Năm 2026, mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam tiếp tục chịu nhiều sức ép từ xuất khẩu, tiêu dùng và đầu tư, cũng như chất lượng tăng trưởng; một số mặt hàng thiết yếu tăng cao, trực tiếp tác động đến đời sống người dân, đặc biệt nhóm thu nhập thấp. Việc điều hành tỉ giá gặp nhiều thách thức, thị trường trái phiếu doanh nghiệp chưa phục hồi, thị trường vàng diễn biến phức tạp, làm hạn chế khả năng huy động vốn trung và dài hạn.

WB cũng cảnh báo Việt Nam về triển vọng dòng vốn FDI và thặng dư thương mại năm 2026 có thể giảm sút; tăng trưởng tín dụng nhanh có nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, đòi hỏi củng cố sức chống chịu của hệ thống ngân hàng bằng cách siết chặt giám sát, tăng cường thanh khoản và dự trữ vốn… Chính phủ cần tiếp tục tăng chính sách tài khóa hỗ trợ tăng trưởng trung hạn và củng cố khả năng chống chịu, do dư địa chính sách tiền tệ hạn chế bởi chênh lệch lãi suất và áp lực tỉ giá…

Thực tiễn đòi hỏi Việt Nam cần tiếp tục kiên định ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững các cân đối lớn; điều hành linh hoạt, chủ động, thận trọng trong chính sách tài khóa, tiền tệ; quản lý hiệu quả thị trường vàng; củng cố năng lực nội sinh và sức chống chịu của nền kinh tế, nâng cao tỉ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng trong nước; ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, mũi nhọn và mới nổi; thúc đẩy các lĩnh vực công nghệ, năng lượng sạch, xanh, nguyên tử, bán dẫn, không gian vũ trụ, lượng tử…; phát triển thực chất các vùng động lực; xây dựng, sớm đưa vào vận hành, phát huy hiệu quả Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và các khu thương mại tự do thế hệ mới tại một số địa phương. Đặc biệt, cần quyết liệt tháo gỡ vướng mắc về thể chế, pháp luật, nhất là trong đầu tư, kinh doanh để giải phóng sức sản xuất, huy động nguồn lực cho phát triển; kịp thời tháo gỡ vướng mắc, chồng chéo trong hoạt động của bộ máy, nhất là ở cấp cơ sở, tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình chính quyền địa phương hai cấp…

1Thời báo Ngân hàng, https://thoibaonganhang.vn/tin-dung-9-thang-tang-1337-von-chu-yeu-chay-vao-san-xuat-kinh-doanh-171275.html

2Tạp chí Kinh tế - Tài chính, https://tapchikinhtetaichinh.vn/dong-von-tin-dung-tang-14-77-lai-suat-cho-vay-giam-them-0-38.html

Tài liệu tham khảo:

1. Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ, WB: Triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam dẫn đầu Đông Á - Thái Bình Dương năm 2025, https://thitruongtaichinhtiente.vn/wb-trien-vong-tang-truong-kinh-te-viet-nam-dan-dau-dong-a-thai-binh-duong-nam-2025-70964.html

2. VnEconomy, Nền tảng vững vàng và chặng về đích để tăng trưởng trên 8%, https://vneconomy.vn/nen-tang-vung-vang-va-chang-ve-dich-de-tang-truong-tren-8.htm

3. Tạp chí điện tử VIETTIMES, Thủ tướng: Gần 1.200 dự án được tháo gỡ, xử lý hàng loạt ngân hàng yếu kém và dự án thua lỗ, https://viettimes.vn/thu-tuong-gan-1200-du-an-duoc-thao-go-xu-ly-hang-loat-ngan-hang-yeu-kem-post190660.html.

4. Quy mô kinh tế Việt Nam đã tăng gần 106 lần, sẽ sớm vượt Thái Lan, https://soha.vn/quy-mo-kinh-te-viet-nam-da-tang-gan-106-lan-se-som-vuot-thai-lan-198250822165037323.htm

5. Cục Thống kê - Bộ Tài chính, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng Mười và 10 tháng năm 2025, https://www.nso.gov.vn/bai-top/2025/11/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-thang-muoi-va-10-thang-nam-2025/

6. Thời báo Ngân hàng, Tín dụng 9 tháng tăng 13,37%, vốn chủ yếu chảy vào sản xuất, kinh doanh, https://thoibaonganhang.vn/tin-dung-9-thang-tang-1337-von-chu-yeu-chay-vao-san-xuat-kinh-doanh-171275.html

7. Tạp chí Kinh tế - Tài chính, Dòng vốn tín dụng tăng 14,77%, lãi suất cho vay giảm thêm 0,38%, https://tapchikinhtetaichinh.vn/dong-von-tin-dung-tang-14-77-lai-suat-cho-vay-giam-them-0-38.html

TS. Nguyễn Minh Phong

Tin bài khác

Xây dựng tư duy số, văn hóa số và tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn ngành Ngân hàng

Xây dựng tư duy số, văn hóa số và tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn ngành Ngân hàng

Sáng 22/5/2026, Hội thi “Chuyển đổi số ngành Ngân hàng” năm 2026 với chủ đề “Chủ động số hóa - Bứt phá tương lai” nhằm chào mừng 75 năm thành lập Ngân hàng Việt Nam (06/5/1951 - 06/5/2026) và hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (11/5/2026) do Công đoàn Ngân hàng Việt Nam tổ chức chính thức khai mạc.
Dòng vốn ngân hàng "mở đường" cho mục tiêu tăng trưởng cao

Dòng vốn ngân hàng "mở đường" cho mục tiêu tăng trưởng cao

Trong bối cảnh áp lực lạm phát, tỉ giá và biến động tài chính quốc tế gia tăng, ngành Ngân hàng đang triển khai hàng loạt giải pháp nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng vẫn bảo đảm an toàn hệ thống tín dụng. Đây là những nội dung các chuyên gia, nhà khoa học thảo luận tại Tọa đàm “Vai trò của ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” do Thời báo Ngân hàng tổ chức ngày 08/5/2026.
Infographic: Các thành viên Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031

Infographic: Các thành viên Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031

Sáng 08/4, Quốc hội biểu quyết thông qua các Nghị quyết về phê chuẩn việc bổ nhiệm Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Ông Phạm Đức Ấn giữ chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Ông Phạm Đức Ấn giữ chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Sáng 08/4/2026, trong khuôn khổ Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm các thành viên của Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031, trong đó ông Phạm Đức Ấn được phê chuẩn giữ chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm 6 Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên Chính phủ

Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm 6 Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên Chính phủ

Với 100% đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội đã biểu quyết thông qua các Nghị quyết về phê chuẩn việc bổ nhiệm 6 Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và các thành viên của Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Khơi thông nguồn lực tài chính cho lộ trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp

Khơi thông nguồn lực tài chính cho lộ trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp

Trước áp lực kép từ biến động địa chính trị năng lượng và các rào cản thương mại xanh khắt khe, chuyển đổi xanh đã không còn là câu chuyện của tương lai mà trở thành yêu cầu cấp bách để kiến tạo sức chống chịu cho nền kinh tế. Trong khuôn khổ Tọa đàm “Chuyển đổi xanh - chìa khoá tiết kiệm nguồn lực” do Thời báo Ngân hàng tổ chức sáng 27/3/2026 tại Hà Nội, các chuyên gia quản lý và kinh tế đã cùng nhận diện những “điểm nghẽn” về vốn, công nghệ, dữ liệu. Đồng thời, nhiều đề xuất quan trọng về việc hoàn thiện Danh mục phân loại xanh, cơ chế hỗ trợ lãi suất từ ngân sách đã được gợi mở, nhằm khơi thông dòng vốn tín dụng, giúp ngành Ngân hàng thực hiện tốt vai trò dẫn dắt nền kinh tế hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.
Thanh niên với tương lai đất nước

Thanh niên với tương lai đất nước

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm với tiêu đề: “THANH NIÊN VỚI TƯƠNG LAI ĐẤT NƯỚC”.
Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân

Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm với tiêu đề "Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân".
Xem thêm
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng