Phát triển thị trường ví điện tử góp phần thúc đẩy thanh toán số và chuyển đổi số

Công nghệ & ngân hàng số
Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã hoàn thiện môi trường pháp lý vững chắc, rõ ràng hơn cho hoạt động của các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán (TGTT), trong đó có dịch vụ ví điện tử. Ví điện tử không chỉ là công cụ thanh toán tiện lợi mà còn trở thành một phần thiết yếu của hệ thống tài chính quốc gia, góp phần thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và chuyển đổi số ngành Ngân hàng.
aa

Theo NHNN, đến hết tháng 9/2025, có 53 tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT được NHNN cấp Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT đang hoạt động trên thị trường, trong đó có 49 tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử. Số lượng ví điện tử đang hoạt động là gần 30,35 triệu ví (chiếm 61,26% trong tổng số gần 49,57 triệu ví điện tử đã được kích hoạt) với tổng số dư trên các ví này là khoảng 3.110 tỉ đồng. Theo đó, NHNN đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển của thị trường ví điện tử.

Phát triển thị trường ví điện tử góp phần thúc đẩy thanh toán số và chuyển đổi số
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Tạo lập môi trường pháp lý thúc đẩy hoạt động cung ứng dịch vụ ví điện tử

Nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo công nghệ tài chính phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế số quốc gia, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính và hiện đại hóa hệ thống ngân hàng theo chủ trương, định hướng của Đảng và Chính phủ về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, NHNN đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng (Nghị định 94/2025/NĐ-CP). Đây là văn bản pháp lý quan trọng về lĩnh vực Fintech, tạo hành lang pháp lý thử nghiệm trong phạm vi kiểm soát về các giải pháp Fintech trong môi trường thực tế, giúp các tổ chức, trong đó có tổ chức TGTT, có căn cứ pháp lý để triển khai các hoạt động kinh doanh mới.

Đáng chú ý, theo Thông tư số 40/2024/TT-NHNN ngày 17/7/2024 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT: Từ ngày 01/7/2025, khách hàng sử dụng ví điện tử có thể nhận tiền từ ví điện tử khác ngoài hệ thống, chuyển tiền đến ví điện tử khác ngoài hệ thống, chuyển tiền từ ví qua tài khoản, từ tài khoản qua ví, không nhất thiết phải qua tài khoản ngân hàng liên kết …

Tuy nhiên, tại Điều 9 Thông tư số 41/2025/TT-NHNN ngày 05/11/2025 của Thống đốc NHNN (sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư số 40/2024/TT-NHNN), đã sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điểm, khoản của Điều 25 Thông tư 40/2024/TT-NHNN như sau:

“1. Bãi bỏ khoản 1.

2. Sửa đổi, bổ sung điểm a, điểm b khoản 2 như sau:

“a) Rút tiền ra khỏi ví điện tử về tài khoản đồng Việt Nam hoặc thẻ ghi nợ có gắn với tài khoản đồng Việt Nam của chủ ví điện tử tại ngân hàng liên kết;

b) Chuyển tiền đến tài khoản đồng Việt Nam hoặc thẻ ghi nợ có gắn với tài khoản đồng Việt Nam mở tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này;”...

Bên cạnh đó, Thông tư số 41/2025/TT-NHNN cũng đã sửa đổi, bổ sung một số quy định sau:

(i) Về các biện pháp đảm bảo khả năng thanh toán cho dịch vụ hỗ trợ thu hộ, chi hộ: Thông tư cho phép tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT có thể lựa chọn các biện pháp bảo đảm khả năng thanh toán khác nhau cho dịch vụ hỗ trợ thu hộ, chi hộ (như mở tài khoản đảm bảo thanh toán hoặc các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác), đảm bảo phù hợp với thực tiễn triển khai (Điều 1).

(ii) Về đảm bảo an toàn trong cung ứng dịch vụ TGTT: Thông tư bổ sung quy định tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT phải thường xuyên rà soát, đảm bảo khách hàng chỉ được sử dụng nguồn tiền từ tài khoản thanh toán, thẻ ngân hàng, ví điện tử để thực hiện giao dịch thanh toán trên các trình duyệt, ứng dụng cung ứng dịch vụ TGTT theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 2).

(iii) Về trình tự, thủ tục mở ví điện tử: Thông tư bổ sung yêu cầu tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử phải gặp mặt trực tiếp và đối chiếu thông tin sinh trắc học của chủ ví điện tử, người đại diện đối với khách hàng cá nhân, người đại diện hợp pháp đối với khách hàng tổ chức (trừ trường hợp mở ví điện tử bằng phương thức điện tử) và việc kiểm tra xác minh thông tin số điện thoại trong trường hợp khách hàng mở ví điện tử và có đăng ký thực hiện các giao dịch thanh toán bằng phương tiện điện tử (Điều 6).

(iv) Về hạn mức giao dịch qua ví điện tử của khách hàng cá nhân: Thông tư quy định tăng hạn mức giao dịch qua ví điện tử cá nhân đối với một số giao dịch thanh toán từ 100 triệu đồng tại Thông tư số 40/2024/TT-NHNN hiện nay lên 300 triệu đồng trong một tháng (Điều 10).

(v) Về việc cung cấp thông tin: Bổ sung trách nhiệm cung cấp thông tin của tổ chức cung ứng dịch vụ phục vụ người khởi tạo cho tổ chức cung ứng dịch vụ phục vụ người thụ hưởng khi được yêu cầu đối với các giao dịch chuyển tiền giữa các ví điện tử hoặc giữa ví điện tử với tài khoản đồng Việt Nam/thẻ ghi nợ (khoản 2 Điều 13).

(vi) Về trách nhiệm của tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử: Sửa đổi, bổ sung theo hướng tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử phải có trách nhiệm cập nhật thông tin khách hàng khi có nghi ngờ về tính chính xác và đầy đủ của các thông tin nhận biết khách hàng đã thu thập trước đó; phải tổ chức thực hiện và tuân thủ đầy đủ quy định nội bộ về mở và sử dụng ví điện tử tại tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử; bổ sung trách nhiệm báo cáo NHNN khi tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT thay đổi tên thương mại hoặc thương hiệu ví điện tử, thực hiện cung ứng dịch vụ TGTT cho khách hàng để thực hiện giao dịch thanh toán cho hàng hóa, dịch vụ nước ngoài;…(khoản 1, 2, 3 Điều 15).

Ngoài ra, Thông tư số 41/2025/TT-NHNN còn sửa đổi, bổ sung một số nội dung khác như: Sửa đổi tên gọi của các đơn vị NHNN phù hợp với cơ cấu tổ chức mới của NHNN; sửa đổi, bổ sung quy định về sử dụng ví điện tử, đảm bảo an toàn, bảo mật trong mở và sử dụng ví điện tử, phù hợp với thực tiễn triển khai; sửa đổi, bổ sung trình tự thực hiện, trách nhiệm của các đơn vị thuộc NHNN khi thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT (khoản 4, 5 Điều 15; Điều 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22).

Về hiệu lực thi hành, Thông tư số 41/2025/TT-NHNN có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/11/2025. Đối với một số quy định mới tại Điều 6, Điều 12; khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 15 của Thông tư số 41/2025/TT-NHNN có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026, để có thời gian cho các tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT nghiên cứu, tổ chức triển khai thực hiện và chỉnh sửa, cập nhật giải pháp công nghệ, xây dựng quy trình nội bộ có liên quan.

Với các quy định trên sẽ góp phần nâng cao tính an toàn, bảo mật và sự tiện lợi cho người sử dụng dịch vụ ví điện tử, đồng thời tạo điều kiện cho các dịch vụ Fintech phát triển bền vững và minh bạch hơn trong tương lai.

Đặc biệt, để bảo đảm quyền lợi hợp pháp của khách hàng trong sử dụng dịch vụ ngân hàng, ngăn ngừa rủi ro bị mất tiền trong tài khoản, NHNN đã triển khai Hệ thống giám sát các tài khoản thanh toán, ví điện tử nghi ngờ gian lận, giả mạo (SIMO) cho phép các tổ chức thành viên tham gia thực hiện báo cáo thông tin về các tài khoản đáng ngờ khi phát hiện và chia sẻ thông tin tới các thành viên khác. Trên cơ sở nguồn dữ liệu tập trung của Hệ thống SIMO, các tổ chức tín dụng (TCTD) có thể đưa ra các quyết định thực hiện ngăn chặn giao dịch ngay lập tức hoặc yêu cầu xác thực, định danh tài khoản trước khi thực hiện giao dịch trực tuyến qua đó sẽ góp phần giúp giảm thiểu tình trạng gian lận, lừa đảo, bảo vệ an toàn tài khoản của khách hàng. Theo Vụ Thanh toán (NHNN), tính đến ngày 28/10/2025, đã có trên 547 nghìn lượt khách hàng tạm dừng/hủy bỏ giao dịch sau khi nhận được cảnh báo từ SIMO, với tổng số tiền giao dịch là hơn 2,21 nghìn tỉ đồng.

Tiện lợi, an toàn cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ ví điện tử

Thực tế, thị trường ví điện tử tại Việt Nam tuy phát triển nhanh nhưng cũng gặp không ít thách thức. Thói quen sử dụng tiền mặt vẫn còn phổ biến, đặc biệt khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Vấn đề an toàn, bảo mật luôn là mối quan tâm hàng đầu, khi các vụ lừa đảo công nghệ cao ngày càng tinh vi. Một số người dùng thiếu kiến thức an toàn thông tin, dễ bị kẻ gian lợi dụng. Việc triển khai các công nghệ bảo mật hiện đại như mã hóa, xác thực sinh trắc học, AI giám sát gian lận… đòi hỏi chi phí lớn. Hạ tầng thanh toán chưa đồng bộ, một số ngân hàng hoặc tổ chức TGTT chưa mở API (giao diện lập trình ứng dụng) đầy đủ hoặc ổn định, làm hạn chế khả năng tích hợp. Việc áp dụng AI, Big Data, Blockchain, sinh trắc học đòi hỏi năng lực kỹ thuật mạnh và chi phí lớn, không phải doanh nghiệp nào cũng đáp ứng được. Hạ tầng kỹ thuật và dữ liệu còn phân mảnh, thiếu liên thông và kết nối.

Thời gian tới, để thị trường ví điện tử phát triển an toàn, bền vững, góp phần thúc đẩy thanh toán số và chuyển đổi số, NHNN cần triển khai mở rộng hệ thống giám sát các tài khoản thanh toán, ví điện tử nghi ngờ gian lận, giả mạo; tạo cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa ví điện tử - ngân hàng - cơ quan quản lý để giám sát rủi ro.

Đồng thời, NHNN tiếp tục phối hợp Bộ Công an trong triển khai Đề án 06 (Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030), trong đó có việc kết nối, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (CSDLQGvDC), làm sạch dữ liệu khách hàng và các hoạt động nghiệp vụ của ngành Ngân hàng; ứng dụng thẻ căn cước công dân gắn chip và ứng dụng định danh điện tử (VNeID) để xác minh khách hàng khi cung ứng dịch vụ, qua đó góp phần tăng cường an ninh, an toàn trong quá trình phổ cập thanh toán số.

Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn các TCTD, tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT đẩy nhanh tiến độ triển khai tích hợp ứng dụng VNeID để tạo sự tiện lợi cho khách hàng trong quá trình cung ứng dịch vụ; đẩy mạnh làm sạch, xác thực kết nối dữ liệu chuyên ngành với CSDLQGvDC, giảm thiểu tài khoản rác, ví điện tử rác; tiến tới ứng dụng dữ liệu từ CSDLQGvDC trong việc đánh giá khách hàng vay của TCTD (xây dựng, hoàn thiện giải pháp chấm điểm khả tín); tích hợp, kết nối, chia sẻ thông tin với các ngành, lĩnh vực khác góp phần hình thành hệ sinh thái số liên thông, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận các dịch vụ nhanh chóng, an toàn, hiệu quả; triển khai các giải pháp an toàn, bảo mật trong thanh toán trực tuyến, thanh toán thẻ ngân hàng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.

Về phía các bộ, ngành liên quan, cần tiếp tục tăng cường công tác trấn áp tội phạm trên không gian mạng; tiếp tục hợp tác quốc tế để ngăn chặn, phòng ngừa, phát hiện các tổ chức lừa đảo trên không gian mạng để kịp thời cảnh báo tới người dân; phối hợp kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xóa bỏ các nội dung, trang web, đường dẫn, ứng dụng, hội, nhóm, tài khoản trên không gian mạng liên quan đến hoạt động lừa đảo; phối hợp với ngành Ngân hàng để có phương án đối khớp thông tin chủ tài khoản, người đại diện hợp pháp với thông tin chủ thuê bao di động theo số điện thoại di động đã đăng ký trong hồ sơ mở tài khoản thanh toán, ví điện tử; nghiên cứu giải pháp kỹ thuật để ngăn chặn có hiệu quả các cuộc gọi, tin nhắn nghi vấn lừa đảo; cung cấp thông tin thuê bao, thông tin chủ thể tên miền được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khi được yêu cầu.

Về phía các tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT, cần tăng cường ứng dụng công nghệ bảo mật tiên tiến như triển khai xác thực đa yếu tố; ứng dụng công nghệ như AI, Machine Learning để nhận diện hành vi bất thường, ngăn chặn gian lận giao dịch theo thời gian thực; xây dựng nền tảng mở (Open API) cho phép kết nối với các đối tác Fintech khác; tích hợp hệ thống cảnh báo sớm; đẩy mạnh chương trình giáo dục người dùng về nhận diện lừa đảo, đường link giả mạo.

Về phía khách hàng, cần bảo mật thông tin cá nhân; cảnh giác trước các chiêu lừa đảo mới của tội phạm trong giao dịch ví điện tử. Để đảm bảo an toàn tài khoản, tránh rủi ro mất tiền trong tài khoản, khách hàng tuyệt đối cảnh giác trước các cuộc gọi từ số điện thoại lạ, hoặc từ các tin nhắn, email yêu cầu quét mã QR; tuyệt đối không bấm vào các đường link không rõ nguồn gốc được nhận qua tin nhắn/email; không đăng ký tài khoản/định danh điện tử hộ người khác; không cung cấp thông tin cá nhân/thông tin tài khoản ngân hàng/ví điện tử qua điện thoại hoặc mạng xã hội; không tải hoặc cài đặt ứng dụng qua các đường dẫn (url) hoặc các hướng dẫn khác không chính thống, không rõ nguồn gốc qua link; tuyệt đối không cấp quyền hỗ trợ trên điện thoại, bởi tất cả các ứng dụng của ngân hàng, thuế hay bất kỳ cơ quan nào khác đều không yêu cầu người dùng quyền này…

Tài liệu tham khảo:

1. Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 của Chính phủ quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng.

2. Thông tư số 40/2024/TT-NHNN ngày 17/7/2024 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.

3. Thông tư số 41/2025/TT-NHNN ngày 05/11/2025 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.

Hải Linh
NHNN

Tin bài khác

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Vai trò kiến tạo của hạ tầng thanh toán xuyên biên giới

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Vai trò kiến tạo của hạ tầng thanh toán xuyên biên giới

Bài viết nghiên cứu vai trò then chốt của hệ thống thanh toán xuyên biên giới trong lộ trình hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính, tổng hợp và phân tích dữ liệu thứ cấp kết hợp so sánh điển cứu quốc tế, nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù thị trường công nghệ tài chính (Fintech) Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, hạ tầng thanh toán vẫn còn khoảng cách về chuẩn hóa kỹ thuật (ISO 20022) và năng lực bán buôn so với chuẩn IFC toàn cầu. Kết quả nghiên cứu khẳng định việc nâng cấp hạ tầng mềm và hoàn thiện khung pháp lý thử nghiệm (Sandbox) là điều kiện tiên quyết để thu hút dòng vốn quốc tế. Từ đó, bài viết đề xuất các hàm ý chính sách trọng tâm về khung pháp lý, chuẩn hóa dữ liệu, thí điểm công nghệ chuỗi khối (Blockchain) và gia nhập các mạng lưới thanh toán đa phương nhằm tối ưu hóa năng lực cạnh tranh cho IFC tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
Ứng dụng hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và tự động hóa trong chiến lược tối ưu hóa phễu chuyển đổi khách hàng tại các ngân hàng thương mại

Ứng dụng hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và tự động hóa trong chiến lược tối ưu hóa phễu chuyển đổi khách hàng tại các ngân hàng thương mại

Trong bối cảnh chuyển đổi số, bài viết đề xuất mô hình kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa nhằm tối ưu phễu chuyển đổi khách hàng (mô hình mô phỏng hành trình của một khách hàng từ lúc lần đầu biết đến thương hiệu cho đến khi thực hiện hành động mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ) tại ngân hàng thương mại, qua đó giảm chi phí thu hút, rút ngắn thời gian ra quyết định tín dụng và cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng.
Xây dựng năng lực tự bảo vệ trước rủi ro tâm lý và công nghệ cho thế hệ Z trong bối cảnh thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam

Xây dựng năng lực tự bảo vệ trước rủi ro tâm lý và công nghệ cho thế hệ Z trong bối cảnh thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam đang được triển khai thí điểm, thế hệ Z với lợi thế về khả năng tiếp cận công nghệ lại đứng trước nhiều rủi ro đan xen, đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực tài chính số và xây dựng cơ chế bảo vệ khi tham gia thị trường.
Ứng dụng AI thúc đẩy kinh tế xanh và Net-Zero trong doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế, bài học cho Việt Nam

Ứng dụng AI thúc đẩy kinh tế xanh và Net-Zero trong doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế, bài học cho Việt Nam

Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI) trong thúc đẩy kinh tế xanh và thực hiện chiến lược Net-Zero, qua đó, đề xuất bài học và giải pháp giúp doanh nghiệp Việt Nam kết hợp chuyển đổi số với chuyển đổi xanh, hướng đến phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Hệ khuyến nghị học liên kết: Xu hướng phát triển trong kỷ nguyên dữ liệu phân tán

Hệ khuyến nghị học liên kết: Xu hướng phát triển trong kỷ nguyên dữ liệu phân tán

Trong bối cảnh dữ liệu ngày càng phân tán và yêu cầu nghiêm ngặt về bảo vệ quyền riêng tư, hệ khuyến nghị học liên kết (Federated Recommender Systems - FRS) nổi lên như một hướng tiếp cận tiềm năng, cho phép khai thác dữ liệu từ nhiều nguồn mà không cần chia sẻ dữ liệu gốc, qua đó mở rộng khả năng ứng dụng trong ngân hàng, thương mại điện tử, y tế và giáo dục.
Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngày 18 - 19/8/2026, sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 với chủ đề “Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo (AI)” đã chính thức diễn ra tại Hà Nội.
Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành. Tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là: Chuyển đổi số phải đi cùng an toàn; khai thác dữ liệu phải đi cùng bảo vệ dữ liệu; ứng dụng AI phải đi cùng quản trị rủi ro; đổi mới sáng tạo phải đi cùng tuân thủ, kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Trí tuệ nhân tạo trong bảo mật dữ liệu chuỗi cung ứng tài chính

Trí tuệ nhân tạo trong bảo mật dữ liệu chuỗi cung ứng tài chính

Bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI) trong tăng cường bảo mật dữ liệu và quản trị rủi ro an ninh mạng đối với chuỗi cung ứng tài chính (Financial Supply Chain - FSC) trong ngành Ngân hàng, qua đó làm rõ những lợi ích, thách thức và hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng AI trong bối cảnh chuyển đổi số.
Xem thêm
Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng chịu tác động bởi những rủi ro mới và yêu cầu quản trị ngày càng cao, kiểm toán nội bộ giữ vai trò quan trọng trong củng cố hệ thống kiểm soát, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh tài chính khu vực, đồng thời đòi hỏi những đột phá về thể chế, hạ tầng, địa kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 44/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2025/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí

Thông tư số 43/2026/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối