Khơi thông dòng vốn cho vay nhà ở xã hội

Hoạt động ngân hàng
Mặc dù có nhiều khó khăn nhưng với sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và sự nỗ lực của ngành Ngân hàng, doanh số giải ngân cho vay nhà ở xã hội đã có sự cải thiện qua thời gian, tháng sau cao hơn tháng trước, tương ứng với nguồn cung nhà ở xã hội gia tăng. Tuy nhiên so với quy mô chương trình, doanh số giải ngân vẫn chưa được như kỳ vọng.
aa

Phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân vừa là một trong những trụ cột của các chính sách an sinh xã hội, vừa là giải pháp hữu hiệu thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, đôn đốc các bộ ngành, địa phương tập trung tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội.

Khơi thông dòng vốn cho vay nhà ở xã hội
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Ngày 11/3/2023, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 33/NQ-CP về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững (Nghị quyết 33/NQ-CP). Theo đó, để hỗ trợ nguồn vốn cho phát triển nhà ở xã hội, đề xuất triển khai Chương trình tín dụng khoảng 120 nghìn tỉ đồng (tương đương khoảng 12% nhu cầu vốn để thúc đẩy thực hiện mục tiêu hoàn thành ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội, nhà ở công nhân giai đoạn 2021 - 2030) để cho chủ đầu tư và người mua nhà của các dự án nhà ở xã hội, nhà ở công nhân vay với lãi suất thấp hơn khoảng từ 1,5 - 2% so với lãi suất cho vay trung, dài hạn VND bình quân của các ngân hàng thương mại (NHTM) nhà nước (bao gồm Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank), NHTM cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), NHTM cổ phần Công thương Việt Nam (VietinBank)) trên thị trường trong từng thời kỳ và các NHTM ngoài nhà nước có đủ điều kiện với từng gói tín dụng cụ thể.

Tạo điều kiện cho người dân vay mua nhà ở xã hội với lãi suất ưu đãi

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết 33/NQ-CP, để triển khai Chương trình tín dụng 120 nghìn tỉ đồng cho vay lãi suất ưu đãi đối với chủ đầu tư, người mua nhà của các dự án nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã có nhiều văn bản chỉ đạo và hướng dẫn các NHTM triển khai chương trình bằng nguồn lực của các NHTM (triển khai tối đa đến năm 2030 hoặc kết thúc sớm hơn nếu doanh số giải ngân đạt 120 nghìn tỉ đồng, quy mô chương trình hiện nay là 145 nghìn tỉ đồng) và chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng tổ chức Hội nghị đẩy mạnh giải ngân Chương trình, tham gia Hội nghị về tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy triển khai các dự án nhà ở xã hội và chỉ đạo đẩy mạnh triển khai Chương trình do Chính phủ tổ chức.

Hiện nay, ngoài 04 NHTM nhà nước, còn có các ngân hàng: NHTM cổ phần Tiên Phong (TPBank), NHTM cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank), NHTM cổ phần Quân đội (MB), NHTM cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank) và NHTM cổ phần Kỹ thương (Techcombank) cũng đăng ký tham gia Chương trình tín dụng, mỗi ngân hàng 5 nghìn tỉ đồng.

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã có Công văn số 55/NHNN-TD ngày 03/01/2025 chỉ đạo các NHTM tham gia Chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo, xây dựng lại chung cư theo Nghị quyết 33/NQ-CP, theo đó các NHTM không phải tính dư nợ cho vay các đối tượng thuộc Chương trình cho vay nhà ở xã hội mà các NHTM đã đăng ký tham gia với NHNN (hiện nay là 145 nghìn tỉ đồng của 9 NHTM) để thực hiện Nghị quyết 33/NQ-CP vào chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng hằng năm của các NHTM đã được NHNN thông báo; thời gian thực hiện chính sách này tối đa đến năm 2030 và doanh số cho vay không vượt quá số tiền mà NHTM đã đăng ký tham gia Chương trình.

Về lãi suất cho vay: Thời gian qua, NHNN đã thực hiện nhiều biện pháp, chỉ đạo các TCTD tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để phấn đấu hạ lãi suất cho vay. Do đó, kể từ khi triển khai chương trình đến nay, mức lãi suất đã giảm 2,3% so với thời điểm ban đầu công bố (hiện đang là 6,4%/năm đối với chủ đầu tư và 5,9%/năm đối với người mua nhà, áp dụng từ ngày 01/7/2025 đến hết tháng 12/2025).

Đáng chú ý, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tại Nghị quyết số 46/NQ-CP ngày 08/3/2025 Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 02/2025, Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 10/4/2025 Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3/2025 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương, Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 01/3/2025 về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đột phá thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng cả nước năm 2025 đạt 8% trở lên, Thông báo số 120/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ về giao NHNN nghiên cứu triển khai gói tín dụng ưu đãi cho người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở; ngày 29/5/2025, NHNN đã có Công văn số 4290/NHNN-TD triển khai đến các NHTM nói trên về việc cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội. Theo đó, NHNN yêu cầu các NHTM:

Tiếp tục quán triệt, đẩy mạnh triển khai chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết 33/NQ-CP, theo đúng chỉ đạo tại các Nghị quyết của Chính phủ, Chỉ thị, Công điện của Thủ tướng Chính phủ và Công văn chỉ đạo của Thống đốc NHNN; trong đó, riêng cho vay đối với người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội thì thực hiện chính sách cho vay ưu đãi hơn. Theo đó, tại ngày ký kết thỏa thuận cho vay, các khách hàng vay vốn mua nhà ở xã hội dưới 35 tuổi được áp dụng lãi suất như sau: (i) Lãi suất cho vay thấp hơn 2% lãi suất cho vay trung, dài hạn VND bình quân của 04 NHTM nhà nước (Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank) trong 5 năm đầu vay vốn (kể từ ngày giải ngân đầu tiên). Lãi suất cho vay áp dụng đến hết ngày 30/6/2025 là 6,1%/năm. Lãi suất cho vay áp dụng từ ngày 01/7/2025 đến ngày 31/12/2025 là 5,9%/năm. (ii) Lãi suất cho vay thấp hơn 1% lãi suất cho vay trung, dài hạn VND bình quân của 04 NHTM nhà nước trong 10 năm vay vốn tiếp theo. Kể từ ngày 01/7/2025, định kỳ 6 tháng, NHNN thông báo lãi suất cho vay trong thời gian ưu đãi cho các NHTM tham gia chương trình.

Về nguồn vốn thực hiện: Sử dụng nguồn vốn của các ngân hàng đã đăng ký tham gia chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết 33/NQ-CP.

Như vậy, với khách hàng dưới 35 tuổi được hưởng thời gian áp dụng lãi suất ưu đãi tối đa 15 năm kể từ ngày giải ngân.

Theo báo cáo từ NHNN, đến ngày 30/9/2025, doanh số giải ngân cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội đạt khoảng 91 tỉ đồng, dư nợ đạt trên 89 tỉ đồng. Nhiều NHTM đã tự chủ động nghiên cứu và ban hành ngay chương trình cho vay đối với người dưới 35 tuổi để mua nhà. Trong đó, 04 NHTM nhà nước cũng đưa ra các gói tín dụng cho người dưới 35 tuổi mua nhà ở với mức lãi suất 5,5%/năm trong 3 năm đầu tiên vay vốn.

Về kết quả chung trong cho vay nhà ở xã hội theo Nghị quyết 33/NQ-CP, theo NHNN, đến cuối tháng 9/2025 có 26/34 tỉnh, thành phố gửi văn bản hoặc công bố trên Cổng thông tin điện tử về danh mục dự án tham gia Chương trình với tổng số khoảng 109 dự án toàn quốc. Đến ngày 30/9/2025, doanh số giải ngân của Chương trình đạt trên 4.900 tỉ đồng, tăng 75,27% so với cuối năm 2024; dư nợ đạt trên 3.700 tỉ đồng.

Trước đó, đến cuối tháng 8/2025, đã có 26/34 tỉnh, thành phố gửi văn bản hoặc công bố trên Cổng thông tin điện tử về danh mục dự án tham gia Chương trình với tổng số khoảng 103 dự án toàn quốc. Đến ngày 31/8/2025, doanh số giải ngân của chương trình đạt gần 4.728 tỉ đồng; dư nợ đạt 3.685 tỉ đồng. Thời điểm đến cuối tháng 7/2025, doanh số giải ngân của Chương trình đạt 4.577,8 tỉ đồng; dư nợ đạt 3.607,8 tỉ đồng.

Như vậy, mặc dù có nhiều khó khăn nhưng với sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và nỗ lực của ngành Ngân hàng, doanh số giải ngân đã có sự cải thiện qua thời gian, tháng sau cao hơn tháng trước, tương ứng với nguồn cung nhà ở xã hội gia tăng. Tuy nhiên so với quy mô chương trình, doanh số giải ngân vẫn chưa đạt được như kỳ vọng.

Tăng cung nhà ở xã hội và đa dạng nguồn vốn

Nguyên nhân chính là do nguồn cung nhà ở xã hội còn thiếu hụt. Số lượng dự án đã hoàn thành, khởi công xây dựng nhà ở xã hội còn hạn chế (chỉ đạt 59,6% so với chỉ tiêu đặt ra năm 2025). Việc bố trí quỹ đất độc lập để phát triển nhà ở xã hội tại nhiều địa phương không đáp ứng yêu cầu; một số địa phương chưa quan tâm, bố trí nguồn lực thỏa đáng cho phát triển nhà ở xã hội. Nhiều địa phương hiện nay chưa có danh mục dự án. Một số quy định pháp luật về phát triển nhà ở xã hội chưa được hướng dẫn cụ thể; vẫn còn mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật, gây vướng mắc cho việc thi hành. Ngoài ra, nhiều dự án đã hoàn thành, huy động được nguồn lực nên chưa có nhu cầu tiếp cận nguồn vốn tín dụng theo Chương trình. Vì vậy, chưa có nhiều dự án nhà ở xã hội để các NHTM tiếp cận, thẩm định, cho vay. Hơn nữa, việc xây dựng nhà ở xã hội tại các khu công nghiệp để bán thì khó tiêu thụ hơn do không phù hợp với đặc điểm lao động của công nhân (không ổn định trong dài hạn, thường chỉ có nhu cầu thuê nhà).

Về cầu, đối tượng đủ điều kiện tham gia chương trình chủ yếu là công nhân khu công nghiệp, người có thu nhập thấp, tuy nhiên các đối tượng này thường ưu tiên chọn thuê nhà để ở hơn là mua nhà. Tình hình kinh tế khó khăn, người dân ưu tiên các nhu cầu cấp bách, trang trải cuộc sống hơn là dành nguồn lực cho mua nhà. Một số dự án nhà ở xã hội ở xa trung tâm, chất lượng chưa bảo đảm nên không thu hút được khách hàng. Người mua không có nhiều lựa chọn đối với nhà ở xã hội phù hợp với nhu cầu của mình.

Nhận thấy khó khăn, vướng mắc chủ yếu của chương trình là do thiếu hụt nguồn cung nhà ở xã hội, NHNN đã có các văn bản báo cáo, đề xuất Chính phủ xem xét, chỉ đạo các bộ, cơ quan liên quan và các ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện giải pháp để giải quyết vấn đề này. Đồng thời, NHNN đã chỉ đạo các NHTM tham gia chương trình thường xuyên rà soát quy trình, thủ tục, hồ sơ, điều kiện vay vốn chương trình theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận vốn trên cơ sở tuân thủ đúng các quy định pháp luật, chủ động tiếp cận, tư vấn cho khách hàng các thông tin về chương trình…

Thời gian tới, để khơi thông nguồn vốn cho vay nhà ở xã hội, bảo đảm dòng vốn ưu đãi đến đúng đối tượng nhiều hơn nữa, cần giải pháp tổng thể, đồng bộ, không chỉ riêng sự nỗ lực của ngành Ngân hàng.

Về phía các bộ, ngành, cơ quan liên quan cần tiếp tục khẩn trương triển khai các giải pháp đã đề ra tại Nghị quyết số 201/2025/QH15, tổ chức thực hiện Nghị định số 192/2025/NĐ-CP hướng dẫn Nghị quyết số 201/2025/QH15 về thí điểm về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển nhà ở xã hội; phối hợp với các địa phương rà soát, đánh giá, nhu cầu của người dân để xây dựng định hướng phát triển nhà ở xã hội phù hợp với nhu cầu; rà soát vướng mắc tại các dự án để có giải pháp tháo gỡ khó khăn nhằm tăng nguồn cung nhà ở xã hội; đôn đốc các địa phương thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp được giao về phát triển nhà ở xã hội; tiếp tục báo cáo cấp có thẩm quyền bố trí vốn để Ngân hàng Chính sách xã hội triển khai cho vay người mua, thuê mua nhà ở xã hội, cải tạo nhà ở theo Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội.

Bên cạnh đó, các bộ, ngành cần nghiên cứu và ban hành các bộ tiêu chí, tiêu chuẩn theo dõi và cảnh báo sớm diễn biến thị trường bất động sản, làm cơ sở cho việc đánh giá, phân loại và giám sát hoạt động của các chủ thể trên thị trường. Thông qua hệ thống chỉ số này, các cơ quan quản lý có thể kịp thời phát hiện các dấu hiệu như tình trạng đầu cơ, mất cân đối cung - cầu, tăng giá bất thường hoặc suy giảm thanh khoản cục bộ, để đưa ra biện pháp can thiệp, điều chỉnh phù hợp. Việc xây dựng cơ chế giám sát chủ động này sẽ giúp ngăn ngừa rủi ro và ổn định thị trường từ sớm, từ xa.

Nhà ở xã hội và các dự án nhà ở phù hợp thu nhập phải được ưu tiên trong quy hoạch và có các cơ chế khuyến khích. Phát triển đô thị phải gắn với hạ tầng giao thông, đặc biệt là đường vành đai, metro và cao tốc nhằm mở rộng không gian đô thị và giảm áp lực giá đất tại trung tâm. Song song, cần phát triển thị trường thuê nhà chuyên nghiệp.

Ngoài ra, cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai, nhà ở và thị trường bất động sản thống nhất, đồng bộ và minh bạch trên phạm vi toàn quốc. Đây sẽ là hạ tầng thông tin trọng yếu giúp các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp theo dõi, phân tích, dự báo và điều hành thị trường một cách kịp thời và chính xác.

Về phía các địa phương, cần tiếp tục rà soát, khẩn trương công bố danh mục các dự án nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư để các NHTM có cơ sở xem xét, cho vay; thực hiện các giải pháp để đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội, bảo đảm hoàn thành chỉ tiêu nhà ở xã hội được giao.

Bên cạnh đó, cần quan tâm đa dạng hóa kênh vốn cho thị trường bất động sản nhằm giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng; tái cấu trúc thị trường trái phiếu doanh nghiệp để trở thành nguồn vốn trung, dài hạn hiệu quả. Đồng thời, cần thúc đẩy hình thành quỹ nhà ở quốc gia, phát triển quỹ đầu tư tín thác bất động sản…

Tài liệu tham khảo:

1. Chính phủ (2024), Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội.

2. Quốc hội (2025), Nghị quyết số 201/2025/QH15 ngày 29/5/2025 thí điểm về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển nhà ở xã hội.

3. Chính phủ (2025), Nghị định số 192/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 201/2025/QH15 ngày 29/5/2025 của Quốc hội thí điểm về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển nhà ở xã hội.

Hà Anh

Tin bài khác

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích xu hướng tích hợp các yếu tố Môi trường, Xã hội và Quản trị (Environmental, Social, Governance - ESG) trong ngân hàng từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam, qua đó đề xuất hàm ý chính sách thúc đẩy tài chính xanh và phát triển bền vững.
Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - NHNN). Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu lần đầu tiên nước ta có một ngân hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân. Sự ra đời này là kết quả của quá trình xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, mở ra bước phát triển mới về chất trong hoạt động tài chính - tiền tệ. Trải qua 75 năm xây dựng, củng cố và phát triển, ngành Ngân hàng Việt Nam không ngừng lớn mạnh, đóng góp quan trọng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Xem thêm
Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) không chỉ tạo áp lực đối với các doanh nghiệp mà còn làm gia tăng yêu cầu xanh hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu.
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng