Tín dụng tiếp tục là điểm sáng của ngành Ngân hàng

Hoạt động ngân hàng
Kinh tế Việt Nam những tháng đầu năm 2025 ghi nhận tín hiệu tích cực với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng khá. Tuy nhiên, sức ép từ các biện pháp thuế quan của Mỹ bắt đầu ảnh hưởng rõ nét đến hoạt động sản xuất, thể hiện qua đà sụt giảm của chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI). Trong bối cảnh đó, công tác điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng tiếp tục được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) triển khai linh hoạt để giữ ổn định vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng.
aa

Thời gian qua, kinh tế trong nước tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, lĩnh vực sản xuất bước đầu ghi nhận khó khăn do ảnh hưởng từ các biện pháp thuế quan của Mỹ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, nhiều chỉ tiêu kinh tế đạt mức tăng cao hơn hoặc tương đương cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, một số chỉ số cho thấy xu hướng tăng chậm lại, như xuất khẩu tăng 13% (so với mức tăng 15% của cùng kỳ năm 2024), cán cân thương mại đạt xuất siêu 3,79 tỉ USD (so với 9,06 tỉ USD cùng kỳ năm trước).

Đáng chú ý, chỉ số PMI giảm mạnh từ 50,5 điểm trong tháng 3/2025 xuống còn 45,6 điểm trong tháng 4/2025. Sự sụt giảm này phản ánh rõ nét việc sản lượng, đơn đặt hàng mới, việc làm và hoạt động mua hàng đều giảm đáng kể trước thông tin về thuế quan từ Mỹ.

Lạm phát tháng 4/2025 tiếp tục nằm trong tầm kiểm soát với chỉ số CPI tăng nhẹ 0,07% so với tháng trước. Mức tăng chủ yếu đến từ nhóm hàng phi cơ bản, khi giá gạo, xăng dầu và nhiên liệu giảm theo xu hướng thị trường thế giới, trong khi giá một số mặt hàng tiêu dùng thiết yếu như thịt lợn, nhà ở cho thuê, điện nước sinh hoạt và dịch vụ ăn uống tăng do nhu cầu cao trong dịp lễ và mùa nắng nóng. So với cùng kỳ, lạm phát cơ bản đạt 3,14%; bình quân 4 tháng là 3,05%, thấp hơn mức lạm phát chung, cho thấy áp lực lạm phát vẫn đang được kiểm soát tốt.

Trong bối cảnh đó, NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ một cách chủ động, linh hoạt, hiệu quả; đồng thời phối hợp đồng bộ, hài hòa và chặt chẽ với chính sách tài khóa cũng như các chính sách vĩ mô khác, nhằm hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng.

Tín dụng tích cực hỗ trợ nền kinh tế

Giữa bức tranh kinh tế còn tiềm ẩn nhiều rủi ro từ bên ngoài, tín dụng nổi lên như một điểm sáng, phản ánh rõ nét sự hồi phục của nhu cầu vốn và khả năng điều hành linh hoạt của hệ thống ngân hàng.

Tín dụng phản ánh sự linh hoạt trong điều hành của hệ thống ngân hàng
Tín dụng phản ánh sự linh hoạt của hệ thống ngân hàng trong điều hành chính sách tiền tệ (Nguồn ảnh: Internet)

Nhằm tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp, góp phần hỗ trợ nền kinh tế, nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) đã điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi theo chỉ đạo của NHNN và quán triệt tinh thần Công điện số 19/CĐ-TTg ngày 24/02/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hiện các giải pháp giảm lãi suất. Mức giảm dao động từ 0,1 - 1,0%/năm, tùy theo kỳ hạn và hình thức gửi tiền.

Cùng với đó, các TCTD triển khai nhiều gói tín dụng ưu đãi nhằm kích cầu, đặc biệt tập trung vào cho vay tiêu dùng và cho vay nhà ở xã hội dành cho người nghèo, người có thu nhập thấp. Việc thúc đẩy tín dụng tiêu dùng được xác định là một trong ba động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế, bên cạnh đầu tư công và xuất khẩu, theo đúng tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Kết quả mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục có xu hướng giảm; các TCTD đã công bố thông tin lãi suất cho vay trên website của ngân hàng nhằm cung cấp thêm thông tin cho khách hàng tham khảo khi tiếp cận vốn vay. Đến ngày 20/5/2025, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của các NHTM ở mức 6,25%/năm, giảm 0,68%/năm so với cuối năm 2024.

NHNN tiếp tục chỉ đạo các TCTD tập trung triển khai hiệu quả chính sách tín dụng chung và tín dụng theo ngành, lĩnh vực. Một số nội dung trọng tâm gồm: (i) Tiếp tục thực hiện các giải pháp giảm mặt bằng lãi suất cho vay, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phát triển sản xuất - kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; (ii) Đảm bảo tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ; đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; (iii) Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách thủ tục hành chính, đồng thời sẵn sàng chia sẻ một phần lợi nhuận để giảm lãi suất, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn thuận lợi hơn; (iv) Tiếp tục triển khai các chương trình tín dụng chuyên biệt theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đối với một số ngành, lĩnh vực trọng điểm; (v) Xem xét điều chỉnh hạn mức tín dụng, tạo điều kiện tiếp cận vốn cho các ngành hàng thiết yếu, trong đó có ngành lúa gạo.

Tính đến ngày 19/5/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 16,49 triệu tỉ đồng, tăng 5,59% so với cuối năm 2024 và tăng 18,67% so với cùng kỳ năm trước (trong khi cùng kỳ năm 2024 chỉ tăng 2,41% so với cuối năm 2023).

Tín dụng tiếp tục giữ vai trò “đầu tàu” trong hoạt động của ngành Ngân hàng năm 2025, phản ánh sự chủ động, linh hoạt trong điều hành và khả năng phản ứng chính sách kịp thời của NHNN. Tuy nhiên, để tín dụng thực sự trở thành đòn bẩy bền vững cho tăng trưởng lợi nhuận và ổn định hệ thống, các TCTD cần chú trọng nâng cao năng lực nội tại, tối ưu hóa chi phí vốn và tăng cường khả năng thích ứng với biến động kinh tế vĩ mô.

Dù vẫn là điểm sáng trong bức tranh toàn ngành, tín dụng cũng đang đối mặt với không ít thách thức, đòi hỏi sự theo dõi sát sao và các giải pháp điều hành phù hợp trong thời gian tới.

Đẩy mạnh các chương trình tín dụng

Hiện nay, bên cạnh các NHTM nhà nước, một số NHTM cổ phần cũng đã đăng ký tham gia Chương trình tín dụng cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân và các dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững với tổng số vốn đăng ký bổ sung là 25.000 tỉ đồng. Như vậy, tổng quy mô chương trình đến thời điểm hiện tại đã đạt 145.000 tỉ đồng.

Qua thống kê, có 38/63 UBND tỉnh đã gửi văn bản hoặc công bố trên cổng thông tin điện tử về danh mục dự án tham gia Chương trình tín dụng cho vay nhà ở xã hội với tổng số 100 dự án. Đến ngày 31/3/2025, doanh số giải ngân của Chương trình đạt 3.652 tỉ đồng, trong đó 3.109,3 tỉ đồng cho chủ đầu tư tại 22 dự án; 542,7 tỉ đồng cho người mua nhà tại 21 dự án.

Thực hiện Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 01/3/2025 của Thủ tướng Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đột phá nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2025 đạt từ 8% trở lên, NHNN đã ban hành Văn bản số 2756/NHNN-TD ngày 15/4/2025 chỉ đạo các NHTM mở rộng Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản. Cụ thể, phạm vi và đối tượng thụ hưởng của Chương trình được mở rộng thành Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản, với quy mô tín dụng nâng lên khoảng 100.000 tỉ đồng. Đây là bước đi quan trọng nhằm hỗ trợ các lĩnh vực sản xuất chủ lực, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Kết quả đến cuối tháng 4/2025, doanh số giải ngân lũy kế của Chương trình đạt trên 80.000 tỉ đồng cho gần 20.200 lượt khách hàng vay vốn, đạt khoảng 80% doanh số cam kết triển khai Chương trình (theo quy mô 100.000 tỉ đồng).

Chương trình tín dụng hỗ trợ liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long ngoài Agribank là ngân hàng chủ lực thực hiện và luôn sẵn sàng nguồn vốn cho vay, không giới hạn quy mô, còn có 6 NHTM đăng ký tham gia Chương trình trong giai đoạn thí điểm (đến hết năm 2025) với quy mô khoảng 16.300 tỉ đồng.

Mặc dù các NHTM đã sẵn sàng nguồn vốn để cho vay theo Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản, tuy nhiên, đến cuối tháng 5/2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường mới chỉ tổng hợp danh sách các hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp tham gia; chưa công bố danh mục vùng chuyên canh lúa chất lượng cao và các mô hình liên kết lúa gạo. Do đó, các NHTM chưa thể triển khai cho vay có hỗ trợ lãi suất theo nội dung của Chương trình.

Dù chưa chính thức áp dụng chính sách ưu đãi lãi suất trong khuôn khổ Chương trình, các NHTM vẫn đang chủ động cho vay phục vụ sản xuất, chế biến, thu mua, tạm trữ và tiêu thụ lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Trong 3 tháng đầu năm 2025, doanh số cho vay đạt khoảng 114.000 tỉ đồng; dư nợ đến cuối tháng 3/2025 đạt 127.000 tỉ đồng. Trong đó, dư nợ tín dụng phục vụ trồng trọt chiếm khoảng 18%; chế biến, bảo quản chiếm khoảng 12%; thu mua, tiêu thụ chiếm tỉ trọng lớn nhất với khoảng 70%.

Tiếp tục hỗ trợ, ưu tiên tăng trưởng kinh tế

Trong thời gian tới, ngành Ngân hàng tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2025 theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Trọng tâm tập trung vào các nội dung sau:

Thứ nhất, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ cán bộ ngành Ngân hàng có trình độ chuyên môn, năng lực điều hành đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Đặc biệt chú trọng công tác đào tạo, đào tạo lại đối với đội ngũ cán bộ thuộc diện được sắp xếp, bố trí công tác mới sau quá trình tinh gọn bộ máy.

Thứ hai, theo dõi sát diễn biến kinh tế thế giới và trong nước, chủ động, linh hoạt và kịp thời trong điều hành chính sách tiền tệ. Chính sách tiền tệ cần được phối hợp hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm hỗ trợ ưu tiên tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy sản xuất - kinh doanh, đồng thời góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Thứ ba, tiếp tục thực hiện các giải pháp tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và lạm phát, bảo đảm đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn tín dụng cho nền kinh tế. Chỉ đạo các TCTD tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, tập trung vốn vào các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Đồng thời, triển khai các chương trình, chính sách tín dụng đặc thù cho một số ngành, lĩnh vực, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Thứ tư, theo dõi sát diễn biến thị trường vàng, triển khai các giải pháp ổn định thị trường theo đúng quy định pháp luật và chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền, bảo đảm mục tiêu ổn định thị trường vàng và thực hiện hiệu quả chính sách tiền tệ. Đồng thời, trình Chính phủ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng.

Thứ năm, thể chế hóa các quy định và xây dựng kế hoạch tổng thể nhằm triển khai hiệu quả Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025”. Tập trung xử lý dứt điểm các TCTD yếu kém, triển khai phương án cơ cấu lại các NHTM đang được kiểm soát đặc biệt. Đồng thời, đẩy mạnh xử lý nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng và ngăn ngừa nợ xấu mới phát sinh.

Thứ sáu, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các TCTD; tập trung vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao. Kiên quyết phát hiện và xử lý nghiêm các sai phạm, góp phần bảo đảm an toàn hệ thống, giữ vững kỷ luật, kỷ cương trên thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Tiếp tục ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong hoạt động thanh tra, giám sát nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành.

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo tình hình triển khai Nghị quyết số 01/NQ-CP; hoạt động ngân hàng tháng 5/2025 của NHNN.

2. Báo cáo thống kê tình hình kinh tế - xã hội tháng 4/2025 và 4 tháng năm 2025 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính).

ThS. Trần Trọng Triết
An Giang

Tin bài khác

Tác động của cấu trúc nguồn vốn huy động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của vốn chủ sở hữu

Tác động của cấu trúc nguồn vốn huy động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của vốn chủ sở hữu

Nghiên cứu này làm rõ tác động của tiền gửi khách hàng và nguồn vốn phi tiền gửi đến khả năng sinh lời của ngân hàng, đồng thời chỉ ra vai trò điều tiết quan trọng của vốn chủ sở hữu trong mối quan hệ này. Kết quả thực nghiệm cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc tối ưu hóa cấu trúc nguồn vốn và định hướng chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Tác động của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tại các quốc gia ASEAN

Tác động của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tại các quốc gia ASEAN

Bài viết phân tích vai trò của tín dụng xanh trong bối cảnh các quốc gia ASEAN đối mặt với thách thức biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, qua đó làm rõ tác động tích cực của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần, đồng thời xem xét mức độ ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong mối quan hệ này.
Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu đề xuất hàm ý chính sách cho các nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý: Các ngân hàng cần định hình và vận dụng khẩu vị rủi ro như một chiếc la bàn xuyên suốt quá trình quản trị; đồng thời, cần chủ động trích lập dự phòng dựa trên các dự báo và kịch bản kinh tế vĩ mô, tăng cường giám sát sớm để phát hiện kịp thời các dấu hiệu suy giảm chất lượng tín dụng, xử lý nợ xấu một cách dứt khoát nhằm tránh hiệu ứng tích tụ rủi ro.
Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Nghiên cứu này tập trung đánh giá ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng trong bối cảnh ngân hàng số Việt Nam. Kết quả nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm mới cho bối cảnh Việt Nam, đồng thời củng cố các lý thuyết trước đó về niềm tin trong môi trường ngân hàng số.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính tại Trung tâm tài chính quốc tế: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính tại Trung tâm tài chính quốc tế: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và khuyến nghị cho Việt Nam

Việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh và định vị của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong giai đoạn tới. Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, tác giả đề xuất khung sản phẩm, dịch vụ tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam dựa trên bốn yếu tố tích hợp về thể chế, hạ tầng, nhân lực và hợp tác quốc tế.
Áp lực công việc và sự hài lòng, trung thành với tổ chức của nhân viên ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Áp lực công việc và sự hài lòng, trung thành với tổ chức của nhân viên ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Bài viết nhằm làm rõ các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến tâm lý và hành vi của nhân viên, qua đó đề xuất các giải pháp thiết thực giúp ngân hàng tăng cường sự gắn bó, ổn định nguồn lực nhân sự và nâng cao sức cạnh tranh trong bối cảnh mới.
Tác động của chính sách tín dụng xanh đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của chính sách tín dụng xanh đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Thực tiễn triển khai tín dụng xanh tại Việt Nam cho thấy hiệu ứng tích cực về mặt xã hội và kinh tế, đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp bền vững, năng lượng tái tạo và sản xuất sạch hơn.
Tác động của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tỉnh Bắc Ninh

Tác động của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tỉnh Bắc Ninh

Chương trình tín dụng vi mô là một bộ phận quan trọng của thị trường tín dụng chính thức ở khu vực nông thôn Việt Nam nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng. Việc tham gia các chương trình này mang lại cho phụ nữ nhiều cơ hội việc làm, tăng sự tự tin, nâng cao kỹ năng giao tiếp, khả năng quản lý tài chính cá nhân, tiếp cận tri thức và mở rộng cơ hội lựa chọn trong đời sống. Nhờ đó, họ có điều kiện khẳng định vai trò và quyền ra quyết định của mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội.
Xem thêm
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường

Trong bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế nhiều biến động, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã phát huy vai trò trung tâm trong điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn 2023 - 2025, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững giai đoạn 2025 - 2030.
Một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 đối với các ngân hàng tại Việt Nam

Một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 đối với các ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 (hai chuẩn mực báo cáo bền vững toàn cầu đầu tiên do Hội đồng Chuẩn mực Bền vững Quốc tế (ISSB) thuộc Tổ chức Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS Foundation) ban hành năm 2023, giúp doanh nghiệp công bố thông tin về rủi ro và cơ hội liên quan đến phát triển bền vững (S1) và khí hậu (S2) một cách nhất quán, minh bạch, hỗ trợ nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư, hướng tới một ngôn ngữ chung cho báo cáo bền vững trên toàn thế giới) đối với các ngân hàng tại Việt Nam và làm rõ vai trò của hai chuẩn mực báo cáo bền vững này như “ngôn ngữ chung” nhằm giúp hệ thống ngân hàng minh bạch hóa rủi ro cũng như cơ hội khí hậu, từng bước hội nhập sâu vào dòng chảy tài chính toàn cầu.
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Luật Thương mại điện tử năm 2025 ra đời trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ đã tạo ra những thay đổi quan trọng đối với hệ sinh thái thương mại điện tử, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm phát huy vai trò của hệ thống tài chính - ngân hàng và bảo đảm an toàn, ổn định cho nền kinh tế số Việt Nam.
Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Ngày 01/01/2026, Văn phòng Quốc hội công bố 10 sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025
Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Đối với Việt Nam, việc ban hành các văn bản pháp luật đã phần nào đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (viết tắt là cơ chế thử nghiệm), đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, để cơ chế thử nghiệm thực sự phát huy hiệu quả, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý tổng thể, thiết lập quy trình minh bạch, cơ chế giám sát rủi ro chặt chẽ và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý, đồng thời cần gắn với mục tiêu phát triển bền vững và chuyển đổi số quốc gia.
Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Kết quả khảo sát năm 2025 của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) cho thấy thị trường ngoại hối toàn cầu đã sôi động trở lại từ đầu quý II/2025, với quy mô giao dịch tăng mạnh dưới tác động của bất ổn kinh tế, biến động tỉ giá USD và những điều chỉnh chiến lược phòng hộ, đầu cơ của các chủ thể tham gia thị trường.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Quyết định vay vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài thị trường tài chính thuần túy, trong đó môi trường thông tin và thể chế ngày càng nổi lên như những biến số quan trọng. Trên cơ sở phân tích định lượng, bài viết đánh giá vai trò của tự do ngôn luận trong mối quan hệ giữa tham nhũng và sự nản lòng vay vốn ngân hàng.
Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế  và khuyến nghị đối với Việt Nam

Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa ở Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh xét theo cả quy mô giao dịch và mức độ phổ cập trong đời sống tài chính, yêu cầu hoàn thiện khung phòng, chống rửa tiền trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, bởi các chỉ dấu khách quan cho thấy Việt Nam vừa nằm trong nhóm quốc gia có giá trị giao dịch trên chuỗi rất lớn.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng