Tín dụng tiếp tục là điểm sáng của ngành Ngân hàng

Hoạt động ngân hàng
Kinh tế Việt Nam những tháng đầu năm 2025 ghi nhận tín hiệu tích cực với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng khá. Tuy nhiên, sức ép từ các biện pháp thuế quan của Mỹ bắt đầu ảnh hưởng rõ nét đến hoạt động sản xuất, thể hiện qua đà sụt giảm của chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI). Trong bối cảnh đó, công tác điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng tiếp tục được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) triển khai linh hoạt để giữ ổn định vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng.
aa

Thời gian qua, kinh tế trong nước tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, lĩnh vực sản xuất bước đầu ghi nhận khó khăn do ảnh hưởng từ các biện pháp thuế quan của Mỹ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, nhiều chỉ tiêu kinh tế đạt mức tăng cao hơn hoặc tương đương cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, một số chỉ số cho thấy xu hướng tăng chậm lại, như xuất khẩu tăng 13% (so với mức tăng 15% của cùng kỳ năm 2024), cán cân thương mại đạt xuất siêu 3,79 tỉ USD (so với 9,06 tỉ USD cùng kỳ năm trước).

Đáng chú ý, chỉ số PMI giảm mạnh từ 50,5 điểm trong tháng 3/2025 xuống còn 45,6 điểm trong tháng 4/2025. Sự sụt giảm này phản ánh rõ nét việc sản lượng, đơn đặt hàng mới, việc làm và hoạt động mua hàng đều giảm đáng kể trước thông tin về thuế quan từ Mỹ.

Lạm phát tháng 4/2025 tiếp tục nằm trong tầm kiểm soát với chỉ số CPI tăng nhẹ 0,07% so với tháng trước. Mức tăng chủ yếu đến từ nhóm hàng phi cơ bản, khi giá gạo, xăng dầu và nhiên liệu giảm theo xu hướng thị trường thế giới, trong khi giá một số mặt hàng tiêu dùng thiết yếu như thịt lợn, nhà ở cho thuê, điện nước sinh hoạt và dịch vụ ăn uống tăng do nhu cầu cao trong dịp lễ và mùa nắng nóng. So với cùng kỳ, lạm phát cơ bản đạt 3,14%; bình quân 4 tháng là 3,05%, thấp hơn mức lạm phát chung, cho thấy áp lực lạm phát vẫn đang được kiểm soát tốt.

Trong bối cảnh đó, NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ một cách chủ động, linh hoạt, hiệu quả; đồng thời phối hợp đồng bộ, hài hòa và chặt chẽ với chính sách tài khóa cũng như các chính sách vĩ mô khác, nhằm hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng.

Tín dụng tích cực hỗ trợ nền kinh tế

Giữa bức tranh kinh tế còn tiềm ẩn nhiều rủi ro từ bên ngoài, tín dụng nổi lên như một điểm sáng, phản ánh rõ nét sự hồi phục của nhu cầu vốn và khả năng điều hành linh hoạt của hệ thống ngân hàng.

Tín dụng phản ánh sự linh hoạt trong điều hành của hệ thống ngân hàng
Tín dụng phản ánh sự linh hoạt của hệ thống ngân hàng trong điều hành chính sách tiền tệ (Nguồn ảnh: Internet)

Nhằm tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp, góp phần hỗ trợ nền kinh tế, nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) đã điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi theo chỉ đạo của NHNN và quán triệt tinh thần Công điện số 19/CĐ-TTg ngày 24/02/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hiện các giải pháp giảm lãi suất. Mức giảm dao động từ 0,1 - 1,0%/năm, tùy theo kỳ hạn và hình thức gửi tiền.

Cùng với đó, các TCTD triển khai nhiều gói tín dụng ưu đãi nhằm kích cầu, đặc biệt tập trung vào cho vay tiêu dùng và cho vay nhà ở xã hội dành cho người nghèo, người có thu nhập thấp. Việc thúc đẩy tín dụng tiêu dùng được xác định là một trong ba động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế, bên cạnh đầu tư công và xuất khẩu, theo đúng tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Kết quả mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục có xu hướng giảm; các TCTD đã công bố thông tin lãi suất cho vay trên website của ngân hàng nhằm cung cấp thêm thông tin cho khách hàng tham khảo khi tiếp cận vốn vay. Đến ngày 20/5/2025, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của các NHTM ở mức 6,25%/năm, giảm 0,68%/năm so với cuối năm 2024.

NHNN tiếp tục chỉ đạo các TCTD tập trung triển khai hiệu quả chính sách tín dụng chung và tín dụng theo ngành, lĩnh vực. Một số nội dung trọng tâm gồm: (i) Tiếp tục thực hiện các giải pháp giảm mặt bằng lãi suất cho vay, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phát triển sản xuất - kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; (ii) Đảm bảo tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ; đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; (iii) Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách thủ tục hành chính, đồng thời sẵn sàng chia sẻ một phần lợi nhuận để giảm lãi suất, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn thuận lợi hơn; (iv) Tiếp tục triển khai các chương trình tín dụng chuyên biệt theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đối với một số ngành, lĩnh vực trọng điểm; (v) Xem xét điều chỉnh hạn mức tín dụng, tạo điều kiện tiếp cận vốn cho các ngành hàng thiết yếu, trong đó có ngành lúa gạo.

Tính đến ngày 19/5/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 16,49 triệu tỉ đồng, tăng 5,59% so với cuối năm 2024 và tăng 18,67% so với cùng kỳ năm trước (trong khi cùng kỳ năm 2024 chỉ tăng 2,41% so với cuối năm 2023).

Tín dụng tiếp tục giữ vai trò “đầu tàu” trong hoạt động của ngành Ngân hàng năm 2025, phản ánh sự chủ động, linh hoạt trong điều hành và khả năng phản ứng chính sách kịp thời của NHNN. Tuy nhiên, để tín dụng thực sự trở thành đòn bẩy bền vững cho tăng trưởng lợi nhuận và ổn định hệ thống, các TCTD cần chú trọng nâng cao năng lực nội tại, tối ưu hóa chi phí vốn và tăng cường khả năng thích ứng với biến động kinh tế vĩ mô.

Dù vẫn là điểm sáng trong bức tranh toàn ngành, tín dụng cũng đang đối mặt với không ít thách thức, đòi hỏi sự theo dõi sát sao và các giải pháp điều hành phù hợp trong thời gian tới.

Đẩy mạnh các chương trình tín dụng

Hiện nay, bên cạnh các NHTM nhà nước, một số NHTM cổ phần cũng đã đăng ký tham gia Chương trình tín dụng cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân và các dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững với tổng số vốn đăng ký bổ sung là 25.000 tỉ đồng. Như vậy, tổng quy mô chương trình đến thời điểm hiện tại đã đạt 145.000 tỉ đồng.

Qua thống kê, có 38/63 UBND tỉnh đã gửi văn bản hoặc công bố trên cổng thông tin điện tử về danh mục dự án tham gia Chương trình tín dụng cho vay nhà ở xã hội với tổng số 100 dự án. Đến ngày 31/3/2025, doanh số giải ngân của Chương trình đạt 3.652 tỉ đồng, trong đó 3.109,3 tỉ đồng cho chủ đầu tư tại 22 dự án; 542,7 tỉ đồng cho người mua nhà tại 21 dự án.

Thực hiện Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 01/3/2025 của Thủ tướng Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đột phá nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2025 đạt từ 8% trở lên, NHNN đã ban hành Văn bản số 2756/NHNN-TD ngày 15/4/2025 chỉ đạo các NHTM mở rộng Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản. Cụ thể, phạm vi và đối tượng thụ hưởng của Chương trình được mở rộng thành Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản, với quy mô tín dụng nâng lên khoảng 100.000 tỉ đồng. Đây là bước đi quan trọng nhằm hỗ trợ các lĩnh vực sản xuất chủ lực, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Kết quả đến cuối tháng 4/2025, doanh số giải ngân lũy kế của Chương trình đạt trên 80.000 tỉ đồng cho gần 20.200 lượt khách hàng vay vốn, đạt khoảng 80% doanh số cam kết triển khai Chương trình (theo quy mô 100.000 tỉ đồng).

Chương trình tín dụng hỗ trợ liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long ngoài Agribank là ngân hàng chủ lực thực hiện và luôn sẵn sàng nguồn vốn cho vay, không giới hạn quy mô, còn có 6 NHTM đăng ký tham gia Chương trình trong giai đoạn thí điểm (đến hết năm 2025) với quy mô khoảng 16.300 tỉ đồng.

Mặc dù các NHTM đã sẵn sàng nguồn vốn để cho vay theo Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản, tuy nhiên, đến cuối tháng 5/2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường mới chỉ tổng hợp danh sách các hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp tham gia; chưa công bố danh mục vùng chuyên canh lúa chất lượng cao và các mô hình liên kết lúa gạo. Do đó, các NHTM chưa thể triển khai cho vay có hỗ trợ lãi suất theo nội dung của Chương trình.

Dù chưa chính thức áp dụng chính sách ưu đãi lãi suất trong khuôn khổ Chương trình, các NHTM vẫn đang chủ động cho vay phục vụ sản xuất, chế biến, thu mua, tạm trữ và tiêu thụ lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Trong 3 tháng đầu năm 2025, doanh số cho vay đạt khoảng 114.000 tỉ đồng; dư nợ đến cuối tháng 3/2025 đạt 127.000 tỉ đồng. Trong đó, dư nợ tín dụng phục vụ trồng trọt chiếm khoảng 18%; chế biến, bảo quản chiếm khoảng 12%; thu mua, tiêu thụ chiếm tỉ trọng lớn nhất với khoảng 70%.

Tiếp tục hỗ trợ, ưu tiên tăng trưởng kinh tế

Trong thời gian tới, ngành Ngân hàng tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2025 theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Trọng tâm tập trung vào các nội dung sau:

Thứ nhất, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ cán bộ ngành Ngân hàng có trình độ chuyên môn, năng lực điều hành đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Đặc biệt chú trọng công tác đào tạo, đào tạo lại đối với đội ngũ cán bộ thuộc diện được sắp xếp, bố trí công tác mới sau quá trình tinh gọn bộ máy.

Thứ hai, theo dõi sát diễn biến kinh tế thế giới và trong nước, chủ động, linh hoạt và kịp thời trong điều hành chính sách tiền tệ. Chính sách tiền tệ cần được phối hợp hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm hỗ trợ ưu tiên tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy sản xuất - kinh doanh, đồng thời góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Thứ ba, tiếp tục thực hiện các giải pháp tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và lạm phát, bảo đảm đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn tín dụng cho nền kinh tế. Chỉ đạo các TCTD tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, tập trung vốn vào các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Đồng thời, triển khai các chương trình, chính sách tín dụng đặc thù cho một số ngành, lĩnh vực, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Thứ tư, theo dõi sát diễn biến thị trường vàng, triển khai các giải pháp ổn định thị trường theo đúng quy định pháp luật và chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền, bảo đảm mục tiêu ổn định thị trường vàng và thực hiện hiệu quả chính sách tiền tệ. Đồng thời, trình Chính phủ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng.

Thứ năm, thể chế hóa các quy định và xây dựng kế hoạch tổng thể nhằm triển khai hiệu quả Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025”. Tập trung xử lý dứt điểm các TCTD yếu kém, triển khai phương án cơ cấu lại các NHTM đang được kiểm soát đặc biệt. Đồng thời, đẩy mạnh xử lý nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng và ngăn ngừa nợ xấu mới phát sinh.

Thứ sáu, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các TCTD; tập trung vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao. Kiên quyết phát hiện và xử lý nghiêm các sai phạm, góp phần bảo đảm an toàn hệ thống, giữ vững kỷ luật, kỷ cương trên thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Tiếp tục ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong hoạt động thanh tra, giám sát nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành.

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo tình hình triển khai Nghị quyết số 01/NQ-CP; hoạt động ngân hàng tháng 5/2025 của NHNN.

2. Báo cáo thống kê tình hình kinh tế - xã hội tháng 4/2025 và 4 tháng năm 2025 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính).

ThS. Trần Trọng Triết
An Giang

Tin bài khác

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Bài viết phân tích những cơ hội và thách thức đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) trong quá trình tái cơ cấu gắn với chuyển đổi số, đồng thời đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao năng lực quản trị, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững của hệ thống trong giai đoạn tới.
Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành. Tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là: Chuyển đổi số phải đi cùng an toàn; khai thác dữ liệu phải đi cùng bảo vệ dữ liệu; ứng dụng AI phải đi cùng quản trị rủi ro; đổi mới sáng tạo phải đi cùng tuân thủ, kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Sự hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đặt ra yêu cầu thiết kế thể chế mới: Dịch vụ ngân hàng số phục vụ IFC không thể được đồng nhất với các tiện ích số bán lẻ vốn đã phát triển nhanh trong thập kỷ qua. Trên cơ sở phân tích đối chứng giữa Singapore và Hồng Kông, bài viết xây dựng khung năng lực vận hành gồm bốn lớp hạ tầng (gia nhập thị trường, giao dịch, tuân thủ, niềm tin thị trường) và chỉ ra rằng sức mạnh của một IFC phụ thuộc vào độ sâu và khả năng liên thông của các lớp dịch vụ ở cấp độ tổ chức, không phải vào quy mô dịch vụ bán lẻ. Trên nền tảng đó, nghiên cứu đề xuất lộ trình ba giai đoạn cho IFC Việt Nam: (1) Chuẩn hóa định danh điện tử (eKYC) cho khách hàng phi cư trú, tài khoản đa tiền tệ và thanh toán xuyên biên giới theo chuẩn ISO 20022 trong giai đoạn 2026 - 2027; (2) Phát triển ngoại hối tổ chức, tài trợ thương mại số và lưu ký số trong giai đoạn 2027 - 2029; (3) Hoàn thiện công nghệ giám sát (SupTech), tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) bán buôn và cơ chế tường lửa tài chính từ năm 2029.
Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính theo hướng hiện đại, an toàn, minh bạch và có khả năng kết nối quốc tế. Trong bối cảnh đó, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số giữ vai trò then chốt; không chỉ hỗ trợ thanh toán, quản lý dòng tiền, giao dịch ngoại hối, tài trợ thương mại, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường tài chính, cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế số.
Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

Bài viết phân tích thực trạng triển khai tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) tại các ngân hàng Việt Nam, làm rõ tác động của ESG đối với hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển ngân hàng bền vững và tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Xem thêm
Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng chịu tác động bởi những rủi ro mới và yêu cầu quản trị ngày càng cao, kiểm toán nội bộ giữ vai trò quan trọng trong củng cố hệ thống kiểm soát, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh tài chính khu vực, đồng thời đòi hỏi những đột phá về thể chế, hạ tầng, địa kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 44/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2025/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí

Thông tư số 43/2026/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối