Một số giải pháp hạn chế sự ảnh hưởng từ các biến động kinh tế - xã hội tới hoạt động kinh doanh của Agribank

Hoạt động ngân hàng
Trong bối cảnh nền kinh tế - xã hội tiếp tục có nhiều biến động, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) tiếp tục nâng cao năng lực quản trị rủi ro, tái cấu trúc danh mục tín dụng, đẩy mạnh chuyển đổi số và tăng cường hợp tác đa ngành, qua đó, góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực từ môi trường bên ngoài, đồng thời, mở ra cơ hội nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng cường năng lực cạnh tranh với các ngân hàng thương mại khác và hướng tới phát triển bền vững trong dài hạn.
aa

1. Giới thiệu chung

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô đầy biến động, các tổ chức tín dụng tại Việt Nam nói chung, Agribank nói riêng đang phải đối mặt với nhiều thách thức xuất phát từ bối cảnh gia tăng căng thẳng địa chính trị trên thế giới, sự suy giảm cầu tiêu dùng trong nước… ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tín dụng, huy động vốn và khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng.

Đặc biệt, với đặc thù phục vụ lĩnh vực “tam nông”, đối tượng khách hàng trọng tâm thuộc khu vực nông nghiệp - nông thôn và mạng lưới chi nhánh trải dài khắp các tỉnh, thành phố nên Agribank dễ bị tổn thương hơn so với các ngân hàng thương mại khác trước các cú sốc kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng và triển khai các giải pháp trọng tâm nhằm giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực từ các yếu tố bên ngoài trở thành yêu cầu chiến lược cấp thiết đối với sự phát triển bền vững tại Agribank. Điều này không chỉ giúp Agribank bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng, giữ vững vai trò định hướng dòng vốn phục vụ phát triển “tam nông”, mà còn đóng góp tích cực vào việc ổn định nền kinh tế vĩ mô và công cuộc xây dựng một đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.

2. Một số kết quả hoạt động kinh doanh của Agribank đến hết tháng 02/2025

Đến ngày 28/02/2025, hoạt động kinh doanh của Agribank đạt được nhiều kết quả tích cực. Nguồn vốn tiếp tục tăng trưởng liên tiếp trong vòng 3 năm trở lại, tăng 14.064 tỉ đồng (tương đương 0,7%), gấp 5,6 lần mức tăng năm 2024 (tăng 2.498 tỉ đồng). Dư nợ tín dụng tháng 02/2025 tiếp tục duy trì đà tích cực của tháng trước, tăng 1.073 tỉ đồng (tương đương 0,1%) so với đầu tháng, mức tăng trưởng dương đầu tiên sau nhiều năm dư nợ giảm mạnh trong tháng 02. Một số chỉ tiêu về vốn huy động và dư nợ cho vay được mô tả trong Bảng 1 và Bảng 2.

Bảng 1: Một số chỉ tiêu huy động vốn đến ngày 28/02/2025

Đơn vị tính: Tỉ đồng, %

Một số giải pháp hạn chế sự ảnh hưởng từ các biến động kinh tế - xã hội tới hoạt động kinh doanh của Agribank
Nguồn: Báo cáo tài chính nội bộ của Agribank

Bảng 2: Một số chỉ tiêu dư nợ tín dụng đến ngày 28/02/2025

Đơn vị tính: Tỉ đồng, %

Một số giải pháp hạn chế sự ảnh hưởng từ các biến động kinh tế - xã hội tới hoạt động kinh doanh của Agribank
Nguồn: Báo cáo tài chính nội bộ của Agribank

Đến ngày 28/02/2025, tỉ lệ nợ xấu nội bảng là 1,51%, giảm 0,04% so với đầu năm. Các tỉ lệ an toàn hoạt động bảo đảm theo quy định; trong đó: Hệ số an toàn vốn (CAR) là 11,23%; tỉ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) là 83,77%, tăng 0,32% so đầu năm; tỉ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn là 21,55%, tăng 0,18% so đầu năm.

Về kết quả kinh doanh, đến ngày 28/02/2025, tổng thu nhập toàn hệ thống đạt 26.881 tỉ đồng, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2024, trong đó, thu từ hoạt động tín dụng là 23.745 tỉ đồng, tăng 3,2%. Tổng chi phí là 16.357 tỉ đồng, giảm 11,6% so với cùng kỳ năm 2024, trong đó, chi hoạt động tín dụng là 11.889 tỉ đồng, giảm 15%.

3. Sự ảnh hưởng từ các biến động kinh tế - xã hội tới hoạt động kinh doanh của Agribank

Do ảnh hưởng từ những yếu tố bất lợi bên ngoài và những khó khăn, hạn chế nội tại kéo dài nhiều năm, cùng với dịch bệnh và thiên tai diễn biến phức tạp, đặc biệt là cơn bão số 3 năm 2024 gây thiệt hại nặng nề tại nhiều địa phương, tình hình kinh tế - xã hội theo đó đã gặp không ít thách thức. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, các ngành, các địa phương, nhiều giải pháp đã được triển khai đồng bộ, tập trung vào ba đột phá chiến lược đó là: Phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hoàn thiện hệ thống chính sách công, pháp luật. Nhờ đó, nền kinh tế đã phục hồi rõ nét, hoàn thành và vượt 15/15 chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2024. Trong đó, tăng trưởng GDP đạt 7,09%, thuộc nhóm các quốc gia có mức tăng trưởng cao trong khu vực. Lạm phát được kiểm soát tốt với chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2024 tăng 3,63% so với năm trước. Các chỉ số kinh tế vĩ mô khác cũng ghi nhận nhiều kết quả tích cực.

Bước sang quý I/2025, kinh tế vĩ mô cơ bản được duy trì ổn định, lạm phát được kiểm soát và các cân đối lớn được bảo đảm. Cụ thể, GDP quý I/2025 tăng khoảng 6,93% so với cùng kỳ năm trước, đạt mức tăng cao nhất so với quý I các năm trong giai đoạn 2020 - 2025. CPI tháng 3/2025 giảm 0,03% so với tháng trước; tăng 1,3% so với tháng 12/2024 và tăng 3,13% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2025, CPI tăng 3,22% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 3,01%. Chỉ số giá vàng tháng 3/2025 tăng 4,68% so với tháng trước; tăng 32,68% so với cùng kỳ năm trước; tăng 10,75% so với tháng 12/2024; bình quân quý I/2025, chỉ số giá vàng tăng 31,45%. Chỉ số giá USD tháng 3/2025 tăng 0,77% so với tháng trước; tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước; tăng 0,92% so với tháng 12/2024; bình quân quý I/2025, chỉ số giá USD tăng 3,63% (Cục Thống kê, 2025). Trong quý I/2025, hoạt động của Agribank chịu tác động rõ rệt từ nhiều yếu tố kinh tế - xã hội, trong đó nổi bật là:

(i) Bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức; rào cản thương mại gia tăng và sự phân mảnh nhiều hơn của nền kinh tế toàn cầu có khả năng tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, gây áp lực lạm phát... ảnh hưởng đến chi phí vốn, khả năng sinh lời và làm gia tăng rủi ro tín dụng.

(ii) Rủi ro trong ngành nông nghiệp: Tác động từ thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu và thị trường xuất khẩu thiếu ổn định khiến khách hàng của Agribank vốn phần lớn thuộc khu vực “tam nông” dễ bị tổn thương, làm gia tăng nợ xấu và ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng.

(iii) Yêu cầu chuyển đổi số và phát triển bền vững: Sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng và nhu cầu ngày càng cao đối với dịch vụ ngân hàng số, tài chính xanh đang đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc đổi mới mô hình hoạt động và ứng dụng công nghệ trong ngân hàng. Trước bối cảnh chuyển đổi số diễn ra toàn diện trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó khẳng định phát triển công nghệ là yếu tố mang tính quyết định. Để đáp ứng yêu cầu này, Agribank cần đầu tư mạnh mẽ vào các dự án hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin nhằm số hóa toàn diện hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, quá trình triển khai các dự án công nghệ đang gặp nhiều vướng mắc về trình tự, thủ tục đầu tư, khiến tiến độ thực hiện bị kéo dài, gây khó khăn cho việc nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, cũng như yêu cầu chuyển đổi số của quốc gia và ngành Ngân hàng.

(iv) Tác động xã hội - địa chính trị: Những biến động trên thị trường lao động, sự dịch chuyển của các chuỗi cung ứng toàn cầu và xung đột địa chính trị đang diễn ra phức tạp đã ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư và thương mại quốc tế, từ đó gián tiếp tác động đến hoạt động tín dụng và định hướng dòng vốn của các tổ chức tín dụng, trong đó có Agribank. Mặc dù đã rất nỗ lực trong việc nâng cao hiệu quả của các hoạt động đầu tư, tuy nhiên, hiện nay Agribank vẫn chưa xử lý trọn vẹn các khoản đầu tư kém hiệu quả do phụ thuộc vào các cơ quan Nhà nước liên quan. Việc tăng vốn pháp định cho các chi nhánh Agribank tại Campuchia theo quy định của Ngân hàng Quốc gia Campuchia chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Trong giai đoạn 2023 - 2024, Agribank đã được Quốc hội và Chính phủ quan tâm cấp bổ sung 17.100 tỉ đồng vốn điều lệ. Tuy nhiên, mức bổ sung này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tín dụng ngày càng gia tăng, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Năm 2024, tăng trưởng tín dụng của Agribank đạt 11%; trong khi đó, định hướng tăng trưởng tín dụng toàn ngành Ngân hàng năm 2025 dự kiến khoảng 16%. Bên cạnh đó, NHNN cũng đã giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho Agribank ở mức gần 13%. Để bảo đảm tỉ lệ an toàn vốn theo chuẩn Basel II và tiến tới Basel III, trong điều kiện dư nợ hàng năm tăng thêm khoảng 200.000 tỉ đồng, Agribank cần tiếp tục được bổ sung thêm từ 15.000 - 17.000 tỉ đồng vốn tự có trong năm 2025 và những năm tiếp theo.

Bên cạnh việc hoàn thành hoặc vượt tiến độ các chỉ tiêu trong Phương án cơ cấu lại Agribank giai đoạn 2021 - 2025 gắn với xử lý nợ xấu, ngân hàng vẫn đang đối mặt với một số khó khăn, thách thức trong việc thực hiện các mục tiêu quan trọng, bao gồm: (i) Đưa tỉ lệ nợ xấu xuống dưới 3% vào cuối năm 2025 theo đúng phương án cơ cấu lại ngân hàng trong bối cảnh nợ xấu dự kiến tiếp tục có diễn biến phức tạp; (ii) Duy trì tỉ trọng cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn ở mức khoảng 65%; (iii) Nâng tỉ trọng thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng trong tổng thu nhập lên mức 16 - 17% vào cuối năm 2025.

Đại diện lãnh đạo các chi nhánh Agribank có kết quả thu hồi nợ sau xử lý cao nhất năm 2024
Hội nghị vinh danh các chi nhánh Agribank có kết quả thu hồi nợ sau xử lý cao nhất năm 2024

4. Một số giải pháp hạn chế sự ảnh hưởng từ các biến động kinh tế - xã hội tới hoạt động kinh doanh của Agribank

Để ứng phó hiệu quả với những thách thức từ môi trường kinh tế - xã hội, Agribank cần tập trung triển khai một số giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, tăng cường năng lực dự báo và quản trị rủi ro vĩ mô. Agribank cần đầu tư mạnh vào hệ thống phân tích dữ liệu và dự báo kinh tế để sớm nhận diện các rủi ro tiềm ẩn từ thị trường. Việc xây dựng các mô hình phân tích kịch bản, thực hiện kiểm tra định kỳ theo các biến động về lạm phát, lãi suất, tỉ giá... để chủ động hơn trong điều chỉnh danh mục tín dụng và chiến lược tài chính.

Thứ hai, cơ cấu lại danh mục tín dụng theo hướng linh hoạt và bền vững. Agribank nên đẩy mạnh tái cơ cấu danh mục tín dụng theo hướng giảm phụ thuộc vào các ngành có mức độ rủi ro cao trong lĩnh vực nông nghiệp truyền thống, đồng thời tăng tỉ trọng tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp tuần hoàn và các ngành hỗ trợ chuỗi giá trị nông sản. Ngoài ra, cần phát triển các sản phẩm tài chính phù hợp với mô hình kinh tế nông thôn mới, kinh tế hợp tác...

Thứ ba, tăng cường năng lực tài chính và quản lý chi phí vốn. Trong bối cảnh chi phí vốn chịu áp lực gia tăng, Agribank cần tối ưu hóa cơ cấu nguồn vốn huy động, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn ổn định. Đồng thời, cần triển khai hiệu quả các công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất và tỉ giá, kết hợp với việc kiểm soát tốt chi phí vận hành và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ trong hoạt động ngân hàng. Agribank cần tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI) vào các nghiệp vụ, bao gồm việc xây dựng và khai thác báo cáo động, phát triển và sử dụng hiệu quả kho cơ sở dữ liệu, cũng như thúc đẩy tài chính toàn diện. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số không chỉ giúp nâng cao năng suất, tiết giảm chi phí vận hành, mà còn mở rộng khả năng tiếp cận tài chính đến các nhóm khách hàng ở vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, ưu tiên đầu tư vào hạ tầng công nghệ, phát triển hệ sinh thái ngân hàng số, bảo đảm an toàn bảo mật dữ liệu, nâng cao trải nghiệm người dùng, đồng thời phát triển các mô hình ngân hàng đại lý, ngân hàng lưu động phù hợp với đặc thù phục vụ khu vực nông thôn.

Thứ năm, tăng cường phối hợp chính sách với Nhà nước và các tổ chức liên quan. Với vai trò là ngân hàng thương mại nhà nước, Agribank cần chủ động triển khai các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả các chỉ thị, định hướng của Chính phủ và NHNN; tích cực phối hợp với các bộ, ngành, chính quyền địa phương trong việc triển khai các chương trình tín dụng phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, đồng hành cùng doanh nghiệp trong việc duy trì dòng vốn ổn định cho sản xuất và tiêu dùng. Đồng thời, Agribank cần kiến nghị Chính phủ sớm xây dựng, ban hành các cơ chế như bảo lãnh tín dụng, quỹ bảo hiểm nông nghiệp... nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng trong khu vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Thứ sáu, xây dựng nghị quyết, bổ sung quy định và chính sách phù hợp đối với từng nghiệp vụ, từng sản phẩm ngân hàng. Agribank cần rà soát, ban hành hoặc cập nhật các nghị quyết, quy định, chính sách cụ thể cho từng nghiệp vụ, từng sản phẩm ngân hàng, bảo đảm phù hợp với quy định của Chính phủ và NHNN, từ đó có cơ sở chỉ đạo điều hành kịp thời nhằm hoàn thành các chỉ tiêu hoạt động kinh doanh năm 2025.

Các chỉ tiêu cụ thể gồm: (i) Tăng trưởng tổng tài sản phù hợp với tăng trưởng nguồn vốn (bao gồm cả nguồn vốn thị trường 1 và thị trường 2); vốn huy động tăng từ 7 - 10%, có điều chỉnh phù hợp với tăng trưởng dư nợ; dư nợ cho vay nền kinh tế tăng từ 9 - 11% và phù hợp với kế hoạch được NHNN phê duyệt. (ii) Tỉ trọng cho vay nông nghiệp, nông thôn đạt khoảng 65%; tỉ lệ nợ xấu theo Thông tư số 31/2024/TT-NHNN ngày 30/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định về phân loại tài sản có trong hoạt động của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là dưới 1,5%; tỉ lệ nợ nhóm 2 dưới 2%; tỉ lệ nợ có khả năng mất vốn dưới 1,5%; tỉ lệ nợ xấu nội bảng, nợ xấu đã bán cho Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) chưa được xử lý, thu hồi và nợ tiềm ẩn nợ xấu dưới 2,76%. (iii) Thu dịch vụ (không bao gồm thu ròng kinh doanh ngoại tệ của Trung tâm kinh doanh Vốn và Tiền tệ) tối thiểu là 9.000 tỉ đồng; thu nợ đã xử lý rủi ro tối thiểu là 12.000 tỉ đồng; trích lập dự phòng rủi ro dự kiến là 23.000 - 25.000 tỉ đồng. (iv) Tổng thu nhập tối thiểu là 160.000 tỉ đồng; lợi nhuận trước thuế tăng 3 - 5% so với năm 2024 và không thấp hơn mức lợi nhuận kế hoạch được NHNN phê duyệt; tỉ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) tối thiểu 18%. (v) Tiếp tục nâng cao thu nhập người lao động phù hợp với quy định của NHNN; các tỉ lệ an toàn hoạt động bảo đảm theo quy định.

Thứ bảy, tăng cường phối hợp với cơ quan Nhà nước trong xử lý các khoản đầu tư kém hiệu quả. Agribank cần chủ động, tích cực phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để đẩy nhanh quá trình xử lý các khoản đầu tư kém hiệu quả. Năm 2025 là năm tăng tốc, bứt phá, đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện thành công Phương án cơ cấu lại Agribank giai đoạn 2021 - 2025 gắn với xử lý nợ xấu; đồng thời là năm bản lề để hoàn thành Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Agribank lần thứ X (nhiệm kỳ 2020 - 2025) và Đề án Chiến lược phát triển Agribank đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Đây cũng là giai đoạn chuẩn bị cho việc triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Agribank lần thứ XI, nhiệm kỳ 2025 - 2030. Do đó, các đơn vị trong toàn hệ thống tiếp tục phát huy kết quả đã đạt được, giữ vững đoàn kết, chủ động, quyết liệt và đồng bộ trong thực hiện nhiệm vụ theo chỉ đạo của Hội đồng thành viên và Ban điều hành; quyết tâm hoàn thành các chỉ tiêu kinh doanh năm 2025 với kết quả cao hơn các năm trước, tạo tiền đề phát triển bền vững cho giai đoạn tiếp theo.

Trong bối cảnh nền kinh tế - xã hội tiếp tục có nhiều biến động, Agribank cần chủ động xây dựng và triển khai các giải pháp mang tính chiến lược, toàn diện, đây là điều kiện tiên quyết để ngân hàng giữ vững vai trò chủ lực trong phát triển kinh tế “tam nông”. Bên cạnh đó, Agribank tiếp tục nâng cao năng lực quản trị rủi ro, tái cấu trúc danh mục tín dụng, đẩy mạnh chuyển đổi số và tăng cường hợp tác đa ngành, qua đó, góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực từ môi trường bên ngoài, đồng thời, mở ra cơ hội nâng cao hiệu quả kinh doanh trong năm 2025, tăng cường năng lực cạnh tranh với các ngân hàng thương mại khác và hướng tới phát triển bền vững trong dài hạn.

ThS. Nguyễn Minh Hiền *; ThS. Đỗ Văn Hữu **
* Ban Kế hoạch chiến lược Agribank; ** Phó Trưởng nghiệp vụ Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Agribank

Tin bài khác

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
Tác động của tín dụng số ngắn hạn đến hành vi vay và rủi ro tín dụng của khách hàng Gen Z tại Việt Nam

Tác động của tín dụng số ngắn hạn đến hành vi vay và rủi ro tín dụng của khách hàng Gen Z tại Việt Nam

Trên cơ sở phân tích thực tiễn hoạt động tín dụng số ngắn hạn tại Việt Nam, bài viết đánh giá tác động của loại hình tín dụng này đến hành vi vay và rủi ro nợ của người tiêu dùng trẻ, đồng thời đưa ra một số hàm ý đối với công tác quản trị rủi ro và xây dựng chính sách.
ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

Bài viết phân tích thực trạng triển khai tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) tại các ngân hàng Việt Nam, làm rõ tác động của ESG đối với hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển ngân hàng bền vững và tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu của ngành Ngân hàng, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đang khẳng định vai trò hạt nhân trong việc kết nối, phát triển nền tảng số dùng chung và hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nâng cao năng lực quản trị, mở rộng dịch vụ tài chính số, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển bền vững khu vực kinh tế hợp tác.
Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Ngày 03/7/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức Hội nghị Sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị nhằm sơ kết, đánh giá những kết quả trong điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời nhận diện những cơ hội, thách thức, khó khăn, đề ra giải pháp, định hướng thời gian tới. Thống đốc Phạm Đức Ấn và Ban Lãnh đạo NHNN điều hành Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có lãnh đạo các đơn vị Vụ, Cục thuộc NHNN, lãnh đạo các tổ chức, Hiệp hội trong Ngành, các tổ chức tín dụng (TCTD) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới điểm cầu NHNN chi nhánh các khu vực.
Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Những tháng đầu năm 2026, nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng, thúc đẩy tín dụng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ngành Ngân hàng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp và đạt được những kết quả tích cực. Tính đến ngày 29/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 20 triệu tỉ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025. Về cơ bản, cơ cấu tín dụng theo đúng định hướng, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong đó cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế. Vốn tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
Xem thêm
Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, hiện đại hóa hoạt động thanh tra ngân hàng theo hướng ứng dụng dữ liệu và công nghệ hiện đại đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả giám sát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Bài viết này phân tích những điều chỉnh trong khuôn khổ điều tiết các tỷ lệ bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng, qua đó đánh giá tác động đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng, hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Sự phát triển của ngân hàng số và định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro an ninh mạng. Trong môi trường tài chính số có tính kết nối cao, các rủi ro như tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu tài chính, rủi ro từ điện toán đám mây, thiên kiến thuật toán hay gian lận Deepfake có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích các rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số, đồng thời đánh giá khung pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quản trị công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành nền tảng pháp lý cho quản trị rủi ro an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng số, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường khả năng chống chịu hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị công nghệ và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính số trong bối cảnh vận hành IFC tại Việt Nam.
Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Bài viết phân tích xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam và yêu cầu định hình không gian phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh thế giới đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của hậu quả đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê cũng như thuê nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách về vốn, lãi suất nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đối với phân khúc nhà ở cho thuê cần những giải pháp đồng bộ khác từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng nguồn cung đối với thị trường này.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.
Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Trước yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, Trung Quốc đang đẩy mạnh cải cách cấu trúc hệ thống tài chính và hiện đại hóa điều hành chính sách tiền tệ, qua đó mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy