Hệ thống ngân hàng tỉnh Hòa Bình và sứ mệnh đồng hành cùng sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương

Hoạt động ngân hàng
Đóng góp vào bức tranh kinh tế - xã hội chung của tỉnh, hệ thống ngân hàng tỉnh Hòa Bình đã phát huy vai trò, sứ mệnh đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp phục hồi, mở rộng sản xuất, kinh doanh.
aa

Năm 2024 là một năm ghi dấu nhiều kết quả tích cực trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2021 - 2025 của tỉnh Hòa Bình. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) đạt 9,74%; thu ngân sách nhà nước đạt 7.230 tỉ đồng; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 2.000,5 triệu USD. Năm 2024, toàn tỉnh có 410 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký khoảng 8.000 tỉ đồng; 150 doanh nghiệp quay trở lại thị trường. Đặc biệt, có 86 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 66,7% tổng số xã trên địa bàn. Đóng góp vào bức tranh kinh tế - xã hội chung của tỉnh, hệ thống ngân hàng tỉnh Hòa Bình đã phát huy vai trò, sứ mệnh đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp phục hồi, mở rộng sản xuất, kinh doanh, đưa tỉnh hoàn thành và vượt kế hoạch đề ra 19/19 chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, kịp thời, hiệu quả của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Chi nhánh tỉnh Hòa Bình

Bám sát chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, NHNN về nhiệm vụ, giải pháp điều hành kinh tế - xã hội năm 2024 và nhiệm vụ trọng tâm hoạt động ngân hàng, NHNN Chi nhánh tỉnh Hòa Bình đã triển khai kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của Ngành đến hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn. Bên cạnh đó, NHNN Chi nhánh tỉnh Hòa Bình chủ động xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2024 theo chỉ đạo của NHNN và UBND tỉnh, bao gồm: Kế hoạch thanh tra các TCTD trên địa bàn; Kế hoạch làm việc với cấp ủy, chính quyền địa phương về công tác quản lý nhà nước lĩnh vực ngân hàng…

Năm 2024, NHNN Chi nhánh tỉnh Hòa Bình đã đón đoàn công tác từ NHNN tới làm việc. Tại buổi làm việc, Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng đã yêu cầu NHNN Chi nhánh tỉnh Hòa Bình tiếp tục bám sát chỉ đạo của NHNN, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; sớm nhận diện các rủi ro để tham mưu triển khai hiệu quả chính sách tiền tệ, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận tín dụng phục vụ sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, nhu cầu đời sống chính đáng. Cũng trong năm 2024, NHNN Chi nhánh tỉnh Hòa Bình đã tổ chức 4 hội nghị làm việc với cấp ủy, chính quyền địa phương về phối hợp quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Đồng thời, tổ chức làm việc với Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh, Quỹ Bảo lãnh tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ Đầu tư phát triển để tháo gỡ khó khăn vướng mắc, đẩy mạnh cấp bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; chỉ đạo ngân hàng thương mại báo cáo khó khăn, vướng mắc khi triển khai cho vay có bảo lãnh của Quỹ Bảo lãnh tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, tổng hợp báo cáo UBND tỉnh theo quy định.

Đoàn công tác của NHNN làm việc với NHNN Chi nhánh tỉnh Hòa Bình
Đoàn công tác của NHNN làm việc với NHNN Chi nhánh tỉnh Hòa Bình

Đối với công tác kiểm soát diễn biến thị trường tiền tệ trên địa bàn, NHNN Chi nhánh tỉnh Hòa Bình đã chủ động theo dõi, nắm bắt tình hình, công khai lãi suất bình quân, chênh lệch lãi suất tiền gửi và cho vay bình quân, lãi suất cho vay các chương trình tín dụng và các loại lãi suất cho vay khác... theo chỉ đạo của NHNN; chỉ đạo thực hiện Quyết định số 2345/QĐ-NHNN ngày 18/12/2023 của Thống đốc NHNN về triển khai các giải pháp an toàn, bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng; tiếp tục tăng cường biện pháp quản lý rủi ro trong mở và sử dụng tài khoản thanh toán. Đồng thời, phối hợp với các vụ, cục, đơn vị trực thuộc NHNN tổ chức Hội nghị trực tuyến triển khai Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt, Hội nghị “Đẩy mạnh tín dụng ngân hàng hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2024”…

Tháng 9/2024, khi cơn bão số 3 tiến về đất liền, NHNN Chi nhánh tỉnh Hòa Bình đã ban hành văn bản chỉ đạo các TCTD trên địa bàn triển khai biện pháp bảo đảm an toàn cơ quan khi bão số 3 đổ bộ, đồng thời, triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, NHNN về giải pháp hỗ trợ khách hàng khắc phục hậu quả sau bão; chỉ đạo các TCTD trên địa bàn tổng hợp báo cáo tình hình thiệt hại và đưa ra các giải pháp hỗ trợ khách hàng ổn định cuộc sống và hỗ trợ sản xuất, kinh doanh.

Sự vào cuộc tích cực, chủ động của các TCTD trên địa bàn

Với phương châm chủ động tiết giảm chi phí để cắt giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp phục hồi và mở rộng sản xuất, kinh doanh, trong năm 2024, mức lãi suất bình quân cho vay trên địa bàn tỉnh Hòa Bình cơ bản ghi nhận mức giảm nhẹ. Tính đến ngày 31/12/2024, lãi suất cho vay của các TCTD trên địa bàn giảm từ 0,2 - 2%/năm so với cuối năm 2023 (chủ yếu giảm ở mức lãi suất cho vay ngắn hạn). Cùng với mức lãi suất ưu đãi đáng kể, đến hết ngày 31/12/2024, tổng dư nợ cho vay trên địa bàn tỉnh cũng tăng trưởng tích cực, cụ thể:

(i) Dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp đạt 18.889 tỉ đồng, chiếm 45,1% tổng dư nợ trên địa bàn, tăng 801 tỉ đồng, tương đương tăng 4,4% so với cuối năm 2023 (cùng kỳ năm 2023 tăng trưởng dư nợ tín dụng lĩnh vực nông nghiệp đạt 6,5%); trong đó, số khách hàng còn dư nợ là 187.353 khách hàng, thị phần dư nợ lĩnh vực nông nghiệp tập trung nhiều nhất là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh tỉnh Hòa Bình, chiếm 50,6%.

(ii) Dư nợ cho vay doanh nghiệp đạt 13.440 tỉ đồng, chiếm 32,4% tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn, giảm 746 tỉ đồng so với cuối năm 2023; trong đó, dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa là 8.548 tỉ đồng, chiếm 63,6% dư nợ cho vay doanh nghiệp với 745 doanh nghiệp nhỏ và vừa còn dư nợ, giảm 1.330 tỉ đồng so với cuối năm 2023.

(iii) Dư nợ tín dụng tiêu dùng đạt 6.865 tỉ đồng, chiếm 16,4% tổng dư nợ trên địa bàn, tăng 1.280 tỉ đồng (tương đương 23%) so với cuối năm 2023 (cùng kỳ năm 2023 tăng trưởng dư nợ tín dụng cho vay phục vụ nhu cầu đời sống đạt 13,3%); trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 2.062 tỉ đồng, dư nợ dài hạn đạt 4.803 tỉ đồng.

(iv) Dư nợ tín dụng lĩnh vực xây dựng đạt 6.592 tỉ đồng (chiếm tỉ trọng 15,7% tổng dư nợ trên địa bàn), tăng 1.248 tỉ đồng (tương đương 23,4%) so với cuối năm 2023 (cùng kỳ năm 2023 tăng trưởng dư nợ tín dụng xây dựng đạt 13,5%).

(v) Dư nợ cho vay lĩnh vực kinh tế tập thể: Đến ngày 01/12/2024, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn đối với các hợp tác xã đạt 32,4 tỉ đồng, tăng 5 tỉ đồng (tương đương 18,3%) so với cuối năm 2023 (chiếm 0,08% tổng dư nợ cho vay trên địa bàn). Số hợp tác xã còn dư nợ là 20 hợp tác xã (16 hợp tác xã nông, lâm nghiệp, 1 hợp tác xã xây dựng và 3 hợp tác xã thương mại, dịch vụ).

(vi) Dư nợ cho vay chương trình khác như cho vay hỗ trợ tạo việc làm đạt 390 tỉ đồng; hỗ trợ tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm đạt 69,7 tỉ đồng... Dư nợ cho vay hộ sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn đạt 732,8 tỉ đồng, chiếm 13,9% tổng dư nợ; dư nợ cho vay chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đạt 809,7 tỉ đồng, chiếm 15,4% tổng dư nợ; dư nợ cho vay các chương trình khác chiếm 25% tổng dư nợ.

Trong năm 2024, hoạt động của các Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) trên địa bàn tỉnh Hòa Bình cũng ghi nhận nhiều kết quả tích cực. Các QTDND đồng bộ triển khai những quy định mới của pháp luật, của NHNN liên quan đến hoạt động như: Luật Các TCTD năm 2024, một số thông tư liên quan đến hoạt động của QTDND ban hành trong năm 2024; đồng thời, tiếp tục thực hiện tốt vai trò tương trợ thành viên phát triển kinh tế, nâng cao đời sống, tạo việc làm, góp phần đẩy lùi tín dụng đen. Đến tháng 12/2024, tổng dư nợ cho vay của các QTDND trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đạt 410 tỉ đồng với 899 lượt thành viên được vay vốn, trong đó: QTDND Phương Lâm - Đồng Tiến là 62 tỉ đồng, QTDND Chăm Mát là 189 tỉ đồng, QTDND Cao Phong là 159 tỉ đồng.

Đối với hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội Chi nhánh tỉnh Hòa Bình, năm 2024 là năm đánh dấu chặng đường 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội. Theo đó, Ngân hàng Chính sách xã hội Chi nhánh tỉnh Hòa Bình đã tiếp tục nâng cao chất lượng hiệu quả vốn tín dụng chính sách, giúp người nghèo và đối tượng chính sách khác tiếp cận với dịch vụ tài chính thuận lợi, an toàn, tiết kiệm thời gian, chi phí khi vay vốn. Số vốn giải ngân cho vay hỗ trợ tạo việc làm đạt 390 tỉ đồng với 7.179 khách hàng; cho vay nhà ở xã hội đạt 146,3 tỉ đồng với 416 khách hàng; cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn mua máy tính và thiết bị học tập trực tuyến đạt 7,2 tỉ đồng với 585 khách hàng; cho vay Chương trình mục tiêu quốc gia vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt 28,6 tỉ đồng với 522 khách hàng; cơ sở mầm non, tiểu học ngoài công lập đạt 0,29 tỉ đồng với 11 khách hàng...

Đối với các chương trình, dự án tài chính vi mô, trên địa bàn tỉnh Hòa Bình có 4 chương trình dự án tài chính vi mô của các tổ chức chính trị - xã hội (Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh và các huyện/thành phố), quy mô trên 38,1 tỉ đồng. Dưới sự giám sát, chỉ đạo sát sao của NHNN Chi nhánh tỉnh Hòa Bình, các chương trình, dự án tài chính vi mô trên địa bàn tỉnh bảo đảm hoạt động theo đúng quy định của pháp luật, nhằm tạo ra kênh hỗ trợ, cung ứng kịp thời nguồn vốn cho các hội viên là người nghèo, phụ nữ nông thôn, người có thu nhập thấp...

Khi cơn bão số 3 đổ bộ vào Việt Nam, Hòa Bình là một trong những tỉnh miền núi phía Bắc chịu ảnh hưởng nặng nề. Do vậy, ngay khi có chỉ đạo từ NHNN, các TCTD trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, người dân bị ảnh hưởng bởi bão, lũ. Theo đó, các TCTD chủ động rà soát đối tượng khách hàng gặp khó khăn, đủ điều kiện cơ cấu lại nợ, hướng dẫn khách hàng về thủ tục, hồ sơ theo quy định. Đến tháng 12/2024, tổng số khách hàng bị thiệt hại bởi cơn bão số 3 là 103 khách hàng; dư nợ bị thiệt hại là 18,8 tỉ đồng. Các TCTD trên địa bàn đã triển khai đồng bộ nhiều biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp, người dân bị ảnh hưởng bởi cơn bão số 3, theo đó, đã cơ cấu lại nợ cho 11 khách hàng; dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ là 512 triệu đồng; miễn, giảm lãi vay đối với 85 khách hàng; dư nợ được miễn, giảm là 7,5 tỉ đồng; cho vay mới theo gói tín dụng đã đăng ký lũy kế từ khi triển khai là 151 tỉ đồng; dư nợ đã được hạ lãi suất là 154,3 tỉ đồng; lũy kế số tiền lãi đã được hạ là 251,8 triệu đồng.

Không chỉ đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp phục hồi, mở rộng sản xuất, kinh doanh, năm 2024 cũng ghi nhận nhiều kết quả tích cực của các ngân hàng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình trong công tác an sinh xã hội. NHNN Chi nhánh tỉnh Hòa Bình đã phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Hòa Bình tổ chức Chương trình tặng quà Tết “Ấm tình mùa xuân” và đã trao tặng 241 suất quà Tết, trị giá trên 192 triệu đồng cho các hộ có hoàn cảnh khó khăn, gia đình chính sách trên địa bàn xã Vân Sơn, huyện Tân Lạc. NHNN Chi nhánh tỉnh Hòa Bình đã phối hợp cùng Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng, Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Chương trình tặng quà đối với các em học sinh nghèo vượt khó, học giỏi nhân dịp khai giảng năm học mới 2024 - 2025 tại xã Đồng Tân, huyện Mai Châu; thực hiện quy trình xét khen thưởng đối với tập thể, cá nhân thuộc Ngân hàng Chính sách xã hội Chi nhánh tỉnh Hòa Bình nhân dịp tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW; phối hợp các ngân hàng thương mại tham gia Hội chợ công thương khu vực phía Bắc - Hòa Bình năm 2024 nhằm hưởng ứng ngày chuyển đổi số quốc gia, giới thiệu, quảng bá hình ảnh và những thành tựu của hệ thống ngân hàng tỉnh Hòa Bình...

Lãnh đạo NHNN cùng Lãnh đạo một số TCTD trao tặng quà an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
Lãnh đạo NHNN cùng Lãnh đạo một số TCTD trao tặng quà an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

Tiếp tục đồng hành cùng sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương

Năm 2025 - năm cuối cùng thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 5 năm 2021 - 2025, hệ thống ngân hàng tỉnh Hòa Bình với sứ mệnh cao cả đồng hành cùng sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương cũng đặt ra những mục tiêu quan trọng. Theo đó, nguồn vốn huy động tại địa phương mục tiêu tăng từ 10 - 12% trong năm 2025, tăng trưởng tín dụng trên 12% và tỉ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ dưới 3%. Trong năm mới 2025, hệ thống ngân hàng tỉnh Hòa Bình quyết tâm hoàn thành xuất sắc những mục tiêu cụ thể đã đề ra thông qua việc thực hiện đồng bộ các giải pháp vừa tăng trưởng vừa bảo đảm chất lượng tín dụng, hướng tới sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng. Cụ thể:

Thứ nhất, bám sát chỉ đạo của Chính phủ, NHNN và UBND tỉnh về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước và cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch về nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong lĩnh vực ngân hàng tỉnh Hòa Bình năm 2025. Thực hiện chỉ đạo của NHNN về rà soát, sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy của NHNN theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; đề xuất cấp có thẩm quyền về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, người lao động khi thực hiện sắp xếp, tinh gọn bộ máy.

Thứ hai, tiếp tục triển khai kế hoạch thanh tra năm 2025; giám sát các ngân hàng, TCTD trong việc chấp hành quy định về công bố lãi suất cho vay bình quân; cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ đối với khách hàng gặp khó khăn do ảnh hưởng, thiệt hại của bão số 3; các giải pháp hỗ trợ khách hàng khắc phục hậu quả sau bão theo cam kết của Hội sở chính; các chương trình, chính sách tín dụng ưu đãi; tăng cường quản lý hoạt động của các QTDND trên địa bàn; triển khai Chỉ thị 05/CT-NHNN ngày 06/11/2024 của Thống đốc NHNN về tăng cường quản lý rủi ro rửa tiền trong lĩnh vực ngân hàng giai đoạn 2024 - 2028.

Thứ ba, các TCTD trên địa bàn bảo đảm tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, cung ứng vốn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, vượt qua khó khăn, phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt, các TCTD cấp tín dụng hướng vào các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ; triển khai chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi cơn bão số 3; triển khai các chỉ đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh về đầu tư vốn vào các công trình, dự án trọng điểm của tỉnh.

Thứ tư, tổ chức các chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp bảo đảm thiết thực, hiệu quả; tiếp tục triển khai quyết liệt các giải pháp nhằm tiết giảm chi phí, rà soát tình hình thu phí đang áp dụng để xem xét, miễn, giảm các loại phí không cần thiết, công khai mức phí cung ứng trong hoạt động kinh doanh; đơn giản hóa thủ tục cho vay, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quy trình cho vay để giảm mặt bằng lãi suất cho vay hỗ trợ doanh nghiệp, người dân phát triển sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Thứ năm, chuẩn bị nguồn lực thực hiện tốt công tác an sinh xã hội đầu năm 2025, quy mô toàn hệ thống ngân hàng trên địa bàn; thực hiện tốt công tác truyền thông, thông tin tuyên truyền kịp thời, hiệu quả về chủ trương, chính sách của ngành Ngân hàng; chấp hành chế độ báo cáo thống kê theo quy định.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Báo cáo kết quả hoạt động ngân hàng năm 2024 - nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2025 của NHNN Chi nhánh tỉnh Hòa Bình.

2. Báo cáo tóm tắt tình hình kinh tế - xã hội tháng năm 2024 và nhiệm vụ giải pháp trọng tâm năm 2025 của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hòa Bình.

Đỗ Thị Phương Anh
NHNN Chi nhánh tỉnh Hòa Bình

Tin bài khác

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Bài viết phân tích những cơ hội và thách thức đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) trong quá trình tái cơ cấu gắn với chuyển đổi số, đồng thời đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao năng lực quản trị, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững của hệ thống trong giai đoạn tới.
Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành. Tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là: Chuyển đổi số phải đi cùng an toàn; khai thác dữ liệu phải đi cùng bảo vệ dữ liệu; ứng dụng AI phải đi cùng quản trị rủi ro; đổi mới sáng tạo phải đi cùng tuân thủ, kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Sự hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đặt ra yêu cầu thiết kế thể chế mới: Dịch vụ ngân hàng số phục vụ IFC không thể được đồng nhất với các tiện ích số bán lẻ vốn đã phát triển nhanh trong thập kỷ qua. Trên cơ sở phân tích đối chứng giữa Singapore và Hồng Kông, bài viết xây dựng khung năng lực vận hành gồm bốn lớp hạ tầng (gia nhập thị trường, giao dịch, tuân thủ, niềm tin thị trường) và chỉ ra rằng sức mạnh của một IFC phụ thuộc vào độ sâu và khả năng liên thông của các lớp dịch vụ ở cấp độ tổ chức, không phải vào quy mô dịch vụ bán lẻ. Trên nền tảng đó, nghiên cứu đề xuất lộ trình ba giai đoạn cho IFC Việt Nam: (1) Chuẩn hóa định danh điện tử (eKYC) cho khách hàng phi cư trú, tài khoản đa tiền tệ và thanh toán xuyên biên giới theo chuẩn ISO 20022 trong giai đoạn 2026 - 2027; (2) Phát triển ngoại hối tổ chức, tài trợ thương mại số và lưu ký số trong giai đoạn 2027 - 2029; (3) Hoàn thiện công nghệ giám sát (SupTech), tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) bán buôn và cơ chế tường lửa tài chính từ năm 2029.
Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính theo hướng hiện đại, an toàn, minh bạch và có khả năng kết nối quốc tế. Trong bối cảnh đó, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số giữ vai trò then chốt; không chỉ hỗ trợ thanh toán, quản lý dòng tiền, giao dịch ngoại hối, tài trợ thương mại, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường tài chính, cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế số.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

Bài viết phân tích thực trạng triển khai tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) tại các ngân hàng Việt Nam, làm rõ tác động của ESG đối với hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển ngân hàng bền vững và tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu của ngành Ngân hàng, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đang khẳng định vai trò hạt nhân trong việc kết nối, phát triển nền tảng số dùng chung và hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nâng cao năng lực quản trị, mở rộng dịch vụ tài chính số, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển bền vững khu vực kinh tế hợp tác.
Xem thêm
Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng chịu tác động bởi những rủi ro mới và yêu cầu quản trị ngày càng cao, kiểm toán nội bộ giữ vai trò quan trọng trong củng cố hệ thống kiểm soát, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh tài chính khu vực, đồng thời đòi hỏi những đột phá về thể chế, hạ tầng, địa kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 44/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2025/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí

Thông tư số 43/2026/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối