Chuyển đổi số tại Ngân hàng Chính sách xã hội: Gia tăng tiện ích sử dụng cho khách hàng

Hoạt động ngân hàng
Sự phát triển công nghệ ngân hàng số diễn ra mạnh mẽ với tốc độ khá nhanh, kéo theo sự thay đổi nhanh chóng dịch vụ tài chính; các sản phẩm ứng dụng công nghệ mới đa dạng đem lại những trải nghiệm mới và lợi ích sử dụng cho khách hàng.
aa

Với sự phát triển vượt bậc của công nghệ, Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) xác định chuyển đổi số là một yêu cầu tất yếu và bắt buộc trong kỷ nguyên số. Do đó, NHCSXH đã tích cực triển khai ứng dụng công nghệ số trong toàn hệ thống; phát triển mô hình ngân hàng số, áp dụng vào các sản phẩm tín dụng chính sách, cung ứng dịch vụ ngân hàng an toàn, tiện lợi, gia tăng tiện ích và trải nghiệm cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác, góp phần thực hiện thành công công cuộc chuyển đổi số quốc gia.

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đề ra quan điểm phát triển kinh tế số, xã hội số, công dân số. Trong đó yêu cầu phải phát triển hạ tầng số hiện đại, bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin và tăng cường năng lực chủ động, làm chủ công nghệ của Việt Nam. Ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.

Bám sát các chủ trương, định hướng của Đảng, Chính phủ về chương trình chuyển đổi số quốc gia; Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 810/QĐ-NHNN ngày 11/5/2021 của Thống đốc NHNN phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 05/QĐ-TTg ngày 04/01/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển NHCSXH đến năm 2030, NHCSXH đặt chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành, chất lượng phục vụ khách hàng và chất lượng hoạt động tín dụng chính sách trong toàn hệ thống NHCSXH.

Hành trình chuyển đổi số trong hoạt động tín dụng chính sách

Sự phát triển công nghệ ngân hàng số diễn ra mạnh mẽ với tốc độ khá nhanh, kéo theo sự thay đổi nhanh chóng dịch vụ tài chính; các sản phẩm ứng dụng công nghệ mới đa dạng đem lại những trải nghiệm mới và lợi ích sử dụng cho khách hàng. Đối với NHCSXH, khách hàng là những người nghèo, dân tộc thiểu số, các đối tượng chính sách… sống ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, trình độ dân trí thấp nên họ rất e ngại, không sẵn sàng tiếp xúc với công nghệ hiện đại. Để giúp người nghèo và các đối tượng yếu thế “không bị bỏ lại phía sau”, tự tin tham gia công nghệ số, năm 2018, NHCSXH đã triển khai dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động qua phương thức dịch vụ SMS với các ứng dụng chính là nhắn tin đối chiếu số dư tiền vay, tiền gửi của khách hàng, nhắn tin thông báo nợ đến hạn, dịch vụ nhắn tin thông báo biến động tài khoản… giúp khách hàng chủ động hơn trong quản lý tài chính cá nhân và hơn hết, người nghèo có cơ hội tiếp cận các dịch vụ tài chính số.

Chuyển đổi số tại Ngân hàng Chính sách xã hội: Gia tăng tiện ích sử dụng cho khách hàng
Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách giúp cho công việc của cán bộ NHCSXH, Tổ trưởng Tổ TK&VV thuận tiện, nhanh chóng, chính xác, hiệu quả

Sau hơn 2 năm thực hiện, dịch vụ SMS đã được mở rộng đến tất cả các khách hàng trong hệ thống NHCSXH, mang đến cho người nghèo và các đối tượng chính sách trải nghiệm và lợi ích khi sử dụng dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động; đồng thời, nâng cao nhận thức cho bà con về dịch vụ tài chính trên điện thoại di động vào quản lý vốn vay, đặc biệt là nâng cao hiểu biết về tài chính số. Dịch vụ thông báo SMS tới khách hàng thể hiện nét mới trong quản lý vốn vay. Độ phủ dịch vụ tài chính đến khách hàng ở nông thôn, vùng hẻo lánh tăng lên rõ rệt. Người nghèo và các đối tượng chính sách dần vượt qua những e ngại ban đầu khi tiếp cận với công nghệ mới và dần làm quen với SMS trên điện thoại di động để thực hiện dịch vụ ngân hàng. Có thể nói, dịch vụ SMS là bước khởi đầu quan trọng trong quá trình chuyển đổi số của NHCSXH.

Trước bối cảnh công nghệ ngân hàng số ngày càng phát triển vượt bậc, trên nền tảng dịch vụ SMS qua điện thoại di động đã triển khai, năm 2021, NHCSXH tiếp tục đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ trong triển khai tín dụng chính sách bằng việc xây dựng triển khai Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách dành cho những người làm công tác quản lý tín dụng chính sách như cán bộ NHCSXH, Tổ trưởng Tổ tiết kiệm và vay vốn (TK&VV), Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, tổ chức chính trị - xã hội các cấp, Ban đại diện các cấp... giúp họ theo dõi, nắm bắt kịp thời tình hình thực tế các hoạt động tín dụng chính sách đang quản lý.

Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách là phần mềm hoạt động trên các thiết bị thông minh sử dụng hệ điều hành Android và IOS, có chức năng như một cẩm nang điện tử, cung cấp thông tin hoạt động tín dụng chính sách và thực hiện một số nghiệp vụ như thu lãi, thu tiết kiệm, chuyển khoản trả tiền lãi, trả tiền gốc; số liệu hoạt động tín dụng chính sách của Tổ TK&VV; kết quả giao dịch; tra cứu biên lai thu lãi của tổ viên; thông tin địa bàn…

Cùng với Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách, năm 2023, NHCSXH tiếp tục ra mắt ứng dụng VBSP SmartBanking và đến tháng 9/2024, ứng dụng đã được triển khai trên toàn quốc với 214.127 tài khoản người dùng đang hoạt động và 130.521 tài khoản người dùng đang hoạt động được mở mới trong năm 2024.

VBSP SmartBanking là dịch vụ ngân hàng trên điện thoại thông minh, được thiết kế dành cho tất cả khách hàng, đặc biệt là hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa… giúp khách hàng thực hiện các giao dịch 24/7 nhanh chóng, mọi lúc, mọi nơi với các dịch vụ tiện ích như chuyển tiền, nộp tiền lãi, truy vấn giao dịch trên tài khoản; kiểm tra tài khoản thanh toán, tiền gửi, tiền vay… Đồng thời, VBSP SmartBanking còn có các tính năng dịch vụ như thanh toán hóa đơn tiền điện, cước viễn thông, vé tàu, vé máy bay, học phí, bảo hiểm, ví điện tử, khoản vay tài chính, nộp thuế, tiền chứng khoán, thanh toán qua mã QR… tạo ra trải nghiệm toàn diện cho khách hàng, giúp khách hàng làm chủ thời gian giao dịch, hoàn toàn thực hiện các thao tác giao dịch trên điện thoại thông minh mà không phải trực tiếp đến ngân hàng.

Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách và VBSP SmartBanking đã được NHCSXH hoàn thiện và triển khai rộng rãi đến với khách hàng, tạo điều kiện cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác sống ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số, người có thu nhập thấp… tiếp cận với các dịch vụ tài chính, kết nối người nghèo với nền kinh tế, góp phần giảm nghèo nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Chuyển đổi số tại Ngân hàng Chính sách xã hội: Gia tăng tiện ích sử dụng cho khách hàng
Ứng dụng VBSP SmartBanking không chỉ hữu ích trong quản lý tín dụng chính sách mà còn giúp người nghèo và các đối tượng chính sách cập kiến thức tài chính, thích ứng với ngân hàng số

Bên cạnh đó, NHCSXH tiếp tục tăng cường hợp tác với đối tác nước ngoài để đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án “Nâng cấp phiên bản hệ thống Intellect Core Banking” đã được Ban Lãnh đạo NHCSXH phê duyệt triển khai từ năm 2022, với mục tiêu xây dựng nền tảng ngân hàng số trên cơ sở kế thừa các nghiệp vụ ngân hàng hiện tại và tạo nền tảng vững chắc để triển khai dịch vụ ngân hàng hiện đại nhằm tăng năng suất lao động và khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho khách hàng; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động, tăng cường an toàn, bảo mật; tăng khả năng tích hợp với các hệ thống khác góp phần tự động hóa các hoạt động nghiệp vụ, tăng khả năng mở rộng liên kết với các đối tác trên nền tảng công nghệ tiên tiến. Theo đó, NHCSXH phấn đấu huy động tối đa nguồn lực cần thiết để đưa bản nâng cấp Core Banking hoạt động chính thức vào cuối tháng 7/2025; đồng thời, tiếp tục nghiên cứu trao đổi về các bước hợp tác tiếp theo nhằm phát triển NHCSXH theo hướng hiện đại, hội nhập, phục vụ tốt nhu cầu của khách hàng và thực hiện tốt Kế hoạch chuyển đổi số của NHCSXH, ngành Ngân hàng và Chiến lược chuyển đổi số quốc gia.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ ngân hàng số tới người dân

Năm 2022, ông Vi Văn Đức, thôn Thanh Đồng, xã Thanh Xuân, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa được vay 100 triệu đồng từ chương trình cho vay sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn để phát triển sản xuất, kinh doanh. Từ khi NHCSXH phát triển các ứng dụng ngân hàng trên điện thoại di động, được cán bộ NHCSXH phổ biến, ông Vi Văn Đức đã cài Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách và VBSP SmartBanking để thực hiện chuyển khoản trả lãi tiền vay, chuyển khoản trả gốc, tra cứu các thông tin của NHCSXH.

Ông Vi Văn Đức cho biết: “Trước đây, muốn tìm hiểu về số kỳ đóng tiền gốc, nộp tiền lãi đối với khoản vay từ NHCSXH cũng như các chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ, tôi đều phải trực tiếp tới điểm giao dịch xã hoặc gặp cán bộ tín dụng chính sách để đối chiếu và nộp tiền. Từ khi ngân hàng triển khai ứng dụng VBSP SmartBanking, tôi thấy rất thuận tiện vì có thể nộp tiền lãi, tiền gốc đúng hạn; tìm hiểu về các chương trình tín dụng chính sách của NHCSXH mọi lúc mà không cần đến điểm giao dịch xã hay phòng giao dịch NHCSXH huyện, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại”.

Đối với ông Lê Đình Quang, Tổ trưởng Tổ TK&VV Hội Nông dân thôn Tân Sơn, xã Hà Tân, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, chỉ với một vài thao tác trên Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách, ông Quang đã nắm bắt chi tiết, quản lý, theo dõi chặt chẽ số liệu của từng tổ viên mọi lúc, mọi nơi.

Theo ông Quang, Tổ TK&VV do ông quản lý hiện có 46 tổ viên đang được vay vốn với dư nợ đạt hơn 1,6 tỉ đồng. Trước đây, thực hiện quản lý nguồn vốn ủy thác từ NHCSXH, ông Quang phải dành nhiều thời gian để ghi chép và theo dõi sổ; còn các tổ viên muốn tìm hiểu thông tin vay vốn thì phải xem văn bản giấy hoặc đến gặp trực tiếp cán bộ tín dụng chính sách để được nghe giải thích, hướng dẫn. Hiện nay, với việc ứng dụng công nghệ số của NHCSXH trên thiết bị di động, ông Quang có thể tra cứu về hộ vay vốn, quy trình các chương trình cho vay; nắm rõ các thông tin trả lãi, gốc hằng tháng, gửi thông báo cụ thể cho từng hộ vay vốn, thu tiền tiết kiệm trên ứng dụng bảo đảm chính xác, an toàn. Việc triển khai ứng dụng công nghệ số của NHCSXH rất hữu ích trong công tác quản lý vốn ủy thác tín dụng chính sách.

Tại Hòa Bình - một tỉnh có tới hơn 70% là người dân tộc thiểu số, việc triển khai chuyển đổi số, ứng dụng các giải pháp công nghệ, tiện ích trong hoạt động cho vay tín dụng chính sách đã được NHCSXH Chi nhánh tỉnh Hòa Bình chú trọng đẩy mạnh góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Có mặt tại phiên giao dịch ở xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, chúng tôi nhận thấy công tác đối chiếu, cập nhật số liệu thu lãi, gốc tiền vay của các hộ dân được cán bộ NHCSXH thao tác nhanh chóng và chính xác.

Ông Trần Quốc Uy, Tổ trưởng Tổ TK&VV xóm 1, xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình cho biết, với vai trò là Tổ trưởng Tổ TK&VV có 59 tổ viên, tổng dư nợ đạt 2,1 tỉ đồng, trước đây, ông Trần Quốc Uy phải đến từng gia đình thu lãi, kê chi tiết số tiền vào bảng kê, cộng nộp cho cán bộ NHCSXH; nhưng từ tháng 9/2024, NHCSXH phổ biến triển khai cài đặt Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách đã giúp ông Uy hạch toán số liệu thu tiền lãi, tiền tiết kiệm từ người dân ngay trên ứng dụng. Dữ liệu ngay lập tức được đồng bộ với hệ thống của NHCSXH, giúp rút ngắn thời gian thu nộp, quá trình giao dịch thực hiện nhanh chóng, tiện lợi và hầu như không có sai sót.

Cùng ý kiến với ông Uy, bà Bùi Bích Phượng, Tổ trưởng Tổ TK&VV xóm 3, xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình cho biết: “Những năm trước tổ viên muốn tìm hiểu thông tin vay vốn đều phải đọc văn bản giấy hoặc gặp cán bộ tín dụng NHCSXH để được nghe giải thích, hướng dẫn. Hiện nay, với việc cài đặt Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách và VBSP SmartBanking, tôi thấy rất tiện lợi cho cả hộ vay và ngân hàng. Thay vì phải ngồi tính toán và đi đến từng hộ vay vốn để đôn đốc thu tiền lãi, tiền trả nợ gốc, thì với việc cài đặt ứng dụng công nghệ số của NHCSXH trên thiết bị di động, chúng tôi có thể nắm bắt được chi tiết thông tin, chủ động trả lãi, gốc hằng tháng, gửi tiết kiệm, thanh toán tiền học, tiền điện…”.

Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách và VBSP Smart Banking đã được NHCSXH triển khai rộng rãi đến với khách hàng không chỉ giúp ngân hàng nâng cao chất lượng phục vụ, đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ mà còn nâng cao trình độ dân trí của người dân, giúp người dân từng bước tiếp cận với các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa người nghèo, đối tượng chính sách và các thành phần trong xã hội; thúc đẩy hệ sinh thái số về tài chính toàn diện, qua đó, góp phần thực hiện thành công mục tiêu chuyển đổi số của ngành Ngân hàng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Lương Xuân (2024), NHCSXH và hành trình chuyển đổi số, https://vbsp.org.vn/nhcsxh-và-hành-trình-chuyển-đổi-số.html

2. Minh Hà (2024), Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng chính sách, https://baothanhhoa.vn/nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-tin-dung-chinh-sach-219362.htm

3. PV (2022), Khởi động dự án nâng cấp phiên bản hệ thống Intellect Corebanking, https://vbsp.org.vn/khoi-dong-du-an-nang-cap-phien-ban-he-thong-intellect-corebanking.html

Phương Chi
NHNN

Tin bài khác

Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết tổng hợp bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm sau một thập kỷ triển khai Basel III, cho thấy tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản đã góp phần tăng cường chống chịu thanh khoản cho ngân hàng, song cũng đặt ra các đánh đổi về thu hẹp tín dụng, hành vi chấp nhận rủi ro và yêu cầu điều chỉnh linh hoạt trong thiết kế, giám sát và phối hợp chính sách ngân hàng trung ương.
Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Năm 2025, bám sát đường lối, chủ trương hội nhập quốc tế mới của Đảng và Chính phủ, với cách tiếp cận chủ động, linh hoạt và mềm dẻo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thúc đẩy hiệu quả, toàn diện các kênh đối ngoại và hội nhập quốc tế trên cả bình diện đa phương, song phương cũng như trong hợp tác với các tổ chức tài chính, tiền tệ, ngân hàng quốc tế.
Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Bài viết phân tích yêu cầu đột phá phát triển nguồn nhân lực số của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới, làm rõ những bước đi chiến lược về thể chế, đào tạo và làm chủ công nghệ nhằm hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số toàn diện và phát triển bền vững.
Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Bài viết khái quát bức tranh hoạt động ngân hàng tại Khu vực 2 năm 2025 trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động, làm rõ những kết quả nổi bật về tăng trưởng tín dụng, ổn định lãi suất, cải cách hành chính và chuyển đổi số, đồng thời định hướng vai trò đồng hành của hệ thống ngân hàng với các động lực tăng trưởng mới trong giai đoạn tới.
Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Những điểm nhấn năm 2025

Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Những điểm nhấn năm 2025

Năm 2025, trong bối cảnh toàn ngành Ngân hàng tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam đã bám sát sự lãnh đạo của Đảng ủy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam triển khai đồng bộ, hiệu quả các mặt công tác; qua đó, tiếp tục khẳng định vai trò là chỗ dựa tin cậy của đoàn viên, người lao động, đồng thời lan tỏa mạnh mẽ trách nhiệm xã hội của Ngành.
Hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân: Cơ hội và triển vọng phát triển

Hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân: Cơ hội và triển vọng phát triển

Trong thời gian qua, hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) đã cơ bản duy trì hoạt động ổn định, an toàn, phát huy tốt vai trò là kênh cung ứng vốn hiệu quả cho khu vực kinh tế hộ gia đình, cá nhân và sản xuất - kinh doanh quy mô nhỏ tại địa phương. Thông qua việc bám sát địa bàn, phục vụ linh hoạt và lấy thành viên làm trung tâm, QTDND đã góp phần tích cực hỗ trợ phát triển kinh tế cơ sở, thúc đẩy tài chính toàn diện và ổn định an sinh xã hội địa phương.
Xem thêm
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Bài viết phân tích những khoảng trống pháp lý trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam, trên cơ sở so sánh kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc, qua đó đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo đảm sự vận hành ổn định, minh bạch của thị trường và hạn chế rủi ro đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích khoảng trống pháp lý đối với dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam, đồng thời đề xuất khung pháp lý nhằm bảo đảm an toàn hệ thống, bảo vệ khách hàng và tạo nền tảng cho sự phát triển minh bạch của thị trường tài sản số.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng