Chuyển đổi số tại Ngân hàng Chính sách xã hội: Gia tăng tiện ích sử dụng cho khách hàng

Hoạt động ngân hàng
Sự phát triển công nghệ ngân hàng số diễn ra mạnh mẽ với tốc độ khá nhanh, kéo theo sự thay đổi nhanh chóng dịch vụ tài chính; các sản phẩm ứng dụng công nghệ mới đa dạng đem lại những trải nghiệm mới và lợi ích sử dụng cho khách hàng.
aa

Với sự phát triển vượt bậc của công nghệ, Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) xác định chuyển đổi số là một yêu cầu tất yếu và bắt buộc trong kỷ nguyên số. Do đó, NHCSXH đã tích cực triển khai ứng dụng công nghệ số trong toàn hệ thống; phát triển mô hình ngân hàng số, áp dụng vào các sản phẩm tín dụng chính sách, cung ứng dịch vụ ngân hàng an toàn, tiện lợi, gia tăng tiện ích và trải nghiệm cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác, góp phần thực hiện thành công công cuộc chuyển đổi số quốc gia.

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đề ra quan điểm phát triển kinh tế số, xã hội số, công dân số. Trong đó yêu cầu phải phát triển hạ tầng số hiện đại, bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin và tăng cường năng lực chủ động, làm chủ công nghệ của Việt Nam. Ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.

Bám sát các chủ trương, định hướng của Đảng, Chính phủ về chương trình chuyển đổi số quốc gia; Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 810/QĐ-NHNN ngày 11/5/2021 của Thống đốc NHNN phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 05/QĐ-TTg ngày 04/01/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển NHCSXH đến năm 2030, NHCSXH đặt chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành, chất lượng phục vụ khách hàng và chất lượng hoạt động tín dụng chính sách trong toàn hệ thống NHCSXH.

Hành trình chuyển đổi số trong hoạt động tín dụng chính sách

Sự phát triển công nghệ ngân hàng số diễn ra mạnh mẽ với tốc độ khá nhanh, kéo theo sự thay đổi nhanh chóng dịch vụ tài chính; các sản phẩm ứng dụng công nghệ mới đa dạng đem lại những trải nghiệm mới và lợi ích sử dụng cho khách hàng. Đối với NHCSXH, khách hàng là những người nghèo, dân tộc thiểu số, các đối tượng chính sách… sống ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, trình độ dân trí thấp nên họ rất e ngại, không sẵn sàng tiếp xúc với công nghệ hiện đại. Để giúp người nghèo và các đối tượng yếu thế “không bị bỏ lại phía sau”, tự tin tham gia công nghệ số, năm 2018, NHCSXH đã triển khai dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động qua phương thức dịch vụ SMS với các ứng dụng chính là nhắn tin đối chiếu số dư tiền vay, tiền gửi của khách hàng, nhắn tin thông báo nợ đến hạn, dịch vụ nhắn tin thông báo biến động tài khoản… giúp khách hàng chủ động hơn trong quản lý tài chính cá nhân và hơn hết, người nghèo có cơ hội tiếp cận các dịch vụ tài chính số.

Chuyển đổi số tại Ngân hàng Chính sách xã hội: Gia tăng tiện ích sử dụng cho khách hàng
Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách giúp cho công việc của cán bộ NHCSXH, Tổ trưởng Tổ TK&VV thuận tiện, nhanh chóng, chính xác, hiệu quả

Sau hơn 2 năm thực hiện, dịch vụ SMS đã được mở rộng đến tất cả các khách hàng trong hệ thống NHCSXH, mang đến cho người nghèo và các đối tượng chính sách trải nghiệm và lợi ích khi sử dụng dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động; đồng thời, nâng cao nhận thức cho bà con về dịch vụ tài chính trên điện thoại di động vào quản lý vốn vay, đặc biệt là nâng cao hiểu biết về tài chính số. Dịch vụ thông báo SMS tới khách hàng thể hiện nét mới trong quản lý vốn vay. Độ phủ dịch vụ tài chính đến khách hàng ở nông thôn, vùng hẻo lánh tăng lên rõ rệt. Người nghèo và các đối tượng chính sách dần vượt qua những e ngại ban đầu khi tiếp cận với công nghệ mới và dần làm quen với SMS trên điện thoại di động để thực hiện dịch vụ ngân hàng. Có thể nói, dịch vụ SMS là bước khởi đầu quan trọng trong quá trình chuyển đổi số của NHCSXH.

Trước bối cảnh công nghệ ngân hàng số ngày càng phát triển vượt bậc, trên nền tảng dịch vụ SMS qua điện thoại di động đã triển khai, năm 2021, NHCSXH tiếp tục đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ trong triển khai tín dụng chính sách bằng việc xây dựng triển khai Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách dành cho những người làm công tác quản lý tín dụng chính sách như cán bộ NHCSXH, Tổ trưởng Tổ tiết kiệm và vay vốn (TK&VV), Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, tổ chức chính trị - xã hội các cấp, Ban đại diện các cấp... giúp họ theo dõi, nắm bắt kịp thời tình hình thực tế các hoạt động tín dụng chính sách đang quản lý.

Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách là phần mềm hoạt động trên các thiết bị thông minh sử dụng hệ điều hành Android và IOS, có chức năng như một cẩm nang điện tử, cung cấp thông tin hoạt động tín dụng chính sách và thực hiện một số nghiệp vụ như thu lãi, thu tiết kiệm, chuyển khoản trả tiền lãi, trả tiền gốc; số liệu hoạt động tín dụng chính sách của Tổ TK&VV; kết quả giao dịch; tra cứu biên lai thu lãi của tổ viên; thông tin địa bàn…

Cùng với Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách, năm 2023, NHCSXH tiếp tục ra mắt ứng dụng VBSP SmartBanking và đến tháng 9/2024, ứng dụng đã được triển khai trên toàn quốc với 214.127 tài khoản người dùng đang hoạt động và 130.521 tài khoản người dùng đang hoạt động được mở mới trong năm 2024.

VBSP SmartBanking là dịch vụ ngân hàng trên điện thoại thông minh, được thiết kế dành cho tất cả khách hàng, đặc biệt là hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa… giúp khách hàng thực hiện các giao dịch 24/7 nhanh chóng, mọi lúc, mọi nơi với các dịch vụ tiện ích như chuyển tiền, nộp tiền lãi, truy vấn giao dịch trên tài khoản; kiểm tra tài khoản thanh toán, tiền gửi, tiền vay… Đồng thời, VBSP SmartBanking còn có các tính năng dịch vụ như thanh toán hóa đơn tiền điện, cước viễn thông, vé tàu, vé máy bay, học phí, bảo hiểm, ví điện tử, khoản vay tài chính, nộp thuế, tiền chứng khoán, thanh toán qua mã QR… tạo ra trải nghiệm toàn diện cho khách hàng, giúp khách hàng làm chủ thời gian giao dịch, hoàn toàn thực hiện các thao tác giao dịch trên điện thoại thông minh mà không phải trực tiếp đến ngân hàng.

Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách và VBSP SmartBanking đã được NHCSXH hoàn thiện và triển khai rộng rãi đến với khách hàng, tạo điều kiện cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác sống ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số, người có thu nhập thấp… tiếp cận với các dịch vụ tài chính, kết nối người nghèo với nền kinh tế, góp phần giảm nghèo nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Chuyển đổi số tại Ngân hàng Chính sách xã hội: Gia tăng tiện ích sử dụng cho khách hàng
Ứng dụng VBSP SmartBanking không chỉ hữu ích trong quản lý tín dụng chính sách mà còn giúp người nghèo và các đối tượng chính sách cập kiến thức tài chính, thích ứng với ngân hàng số

Bên cạnh đó, NHCSXH tiếp tục tăng cường hợp tác với đối tác nước ngoài để đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án “Nâng cấp phiên bản hệ thống Intellect Core Banking” đã được Ban Lãnh đạo NHCSXH phê duyệt triển khai từ năm 2022, với mục tiêu xây dựng nền tảng ngân hàng số trên cơ sở kế thừa các nghiệp vụ ngân hàng hiện tại và tạo nền tảng vững chắc để triển khai dịch vụ ngân hàng hiện đại nhằm tăng năng suất lao động và khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho khách hàng; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động, tăng cường an toàn, bảo mật; tăng khả năng tích hợp với các hệ thống khác góp phần tự động hóa các hoạt động nghiệp vụ, tăng khả năng mở rộng liên kết với các đối tác trên nền tảng công nghệ tiên tiến. Theo đó, NHCSXH phấn đấu huy động tối đa nguồn lực cần thiết để đưa bản nâng cấp Core Banking hoạt động chính thức vào cuối tháng 7/2025; đồng thời, tiếp tục nghiên cứu trao đổi về các bước hợp tác tiếp theo nhằm phát triển NHCSXH theo hướng hiện đại, hội nhập, phục vụ tốt nhu cầu của khách hàng và thực hiện tốt Kế hoạch chuyển đổi số của NHCSXH, ngành Ngân hàng và Chiến lược chuyển đổi số quốc gia.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ ngân hàng số tới người dân

Năm 2022, ông Vi Văn Đức, thôn Thanh Đồng, xã Thanh Xuân, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa được vay 100 triệu đồng từ chương trình cho vay sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn để phát triển sản xuất, kinh doanh. Từ khi NHCSXH phát triển các ứng dụng ngân hàng trên điện thoại di động, được cán bộ NHCSXH phổ biến, ông Vi Văn Đức đã cài Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách và VBSP SmartBanking để thực hiện chuyển khoản trả lãi tiền vay, chuyển khoản trả gốc, tra cứu các thông tin của NHCSXH.

Ông Vi Văn Đức cho biết: “Trước đây, muốn tìm hiểu về số kỳ đóng tiền gốc, nộp tiền lãi đối với khoản vay từ NHCSXH cũng như các chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ, tôi đều phải trực tiếp tới điểm giao dịch xã hoặc gặp cán bộ tín dụng chính sách để đối chiếu và nộp tiền. Từ khi ngân hàng triển khai ứng dụng VBSP SmartBanking, tôi thấy rất thuận tiện vì có thể nộp tiền lãi, tiền gốc đúng hạn; tìm hiểu về các chương trình tín dụng chính sách của NHCSXH mọi lúc mà không cần đến điểm giao dịch xã hay phòng giao dịch NHCSXH huyện, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại”.

Đối với ông Lê Đình Quang, Tổ trưởng Tổ TK&VV Hội Nông dân thôn Tân Sơn, xã Hà Tân, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, chỉ với một vài thao tác trên Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách, ông Quang đã nắm bắt chi tiết, quản lý, theo dõi chặt chẽ số liệu của từng tổ viên mọi lúc, mọi nơi.

Theo ông Quang, Tổ TK&VV do ông quản lý hiện có 46 tổ viên đang được vay vốn với dư nợ đạt hơn 1,6 tỉ đồng. Trước đây, thực hiện quản lý nguồn vốn ủy thác từ NHCSXH, ông Quang phải dành nhiều thời gian để ghi chép và theo dõi sổ; còn các tổ viên muốn tìm hiểu thông tin vay vốn thì phải xem văn bản giấy hoặc đến gặp trực tiếp cán bộ tín dụng chính sách để được nghe giải thích, hướng dẫn. Hiện nay, với việc ứng dụng công nghệ số của NHCSXH trên thiết bị di động, ông Quang có thể tra cứu về hộ vay vốn, quy trình các chương trình cho vay; nắm rõ các thông tin trả lãi, gốc hằng tháng, gửi thông báo cụ thể cho từng hộ vay vốn, thu tiền tiết kiệm trên ứng dụng bảo đảm chính xác, an toàn. Việc triển khai ứng dụng công nghệ số của NHCSXH rất hữu ích trong công tác quản lý vốn ủy thác tín dụng chính sách.

Tại Hòa Bình - một tỉnh có tới hơn 70% là người dân tộc thiểu số, việc triển khai chuyển đổi số, ứng dụng các giải pháp công nghệ, tiện ích trong hoạt động cho vay tín dụng chính sách đã được NHCSXH Chi nhánh tỉnh Hòa Bình chú trọng đẩy mạnh góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Có mặt tại phiên giao dịch ở xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, chúng tôi nhận thấy công tác đối chiếu, cập nhật số liệu thu lãi, gốc tiền vay của các hộ dân được cán bộ NHCSXH thao tác nhanh chóng và chính xác.

Ông Trần Quốc Uy, Tổ trưởng Tổ TK&VV xóm 1, xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình cho biết, với vai trò là Tổ trưởng Tổ TK&VV có 59 tổ viên, tổng dư nợ đạt 2,1 tỉ đồng, trước đây, ông Trần Quốc Uy phải đến từng gia đình thu lãi, kê chi tiết số tiền vào bảng kê, cộng nộp cho cán bộ NHCSXH; nhưng từ tháng 9/2024, NHCSXH phổ biến triển khai cài đặt Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách đã giúp ông Uy hạch toán số liệu thu tiền lãi, tiền tiết kiệm từ người dân ngay trên ứng dụng. Dữ liệu ngay lập tức được đồng bộ với hệ thống của NHCSXH, giúp rút ngắn thời gian thu nộp, quá trình giao dịch thực hiện nhanh chóng, tiện lợi và hầu như không có sai sót.

Cùng ý kiến với ông Uy, bà Bùi Bích Phượng, Tổ trưởng Tổ TK&VV xóm 3, xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình cho biết: “Những năm trước tổ viên muốn tìm hiểu thông tin vay vốn đều phải đọc văn bản giấy hoặc gặp cán bộ tín dụng NHCSXH để được nghe giải thích, hướng dẫn. Hiện nay, với việc cài đặt Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách và VBSP SmartBanking, tôi thấy rất tiện lợi cho cả hộ vay và ngân hàng. Thay vì phải ngồi tính toán và đi đến từng hộ vay vốn để đôn đốc thu tiền lãi, tiền trả nợ gốc, thì với việc cài đặt ứng dụng công nghệ số của NHCSXH trên thiết bị di động, chúng tôi có thể nắm bắt được chi tiết thông tin, chủ động trả lãi, gốc hằng tháng, gửi tiết kiệm, thanh toán tiền học, tiền điện…”.

Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách và VBSP Smart Banking đã được NHCSXH triển khai rộng rãi đến với khách hàng không chỉ giúp ngân hàng nâng cao chất lượng phục vụ, đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ mà còn nâng cao trình độ dân trí của người dân, giúp người dân từng bước tiếp cận với các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa người nghèo, đối tượng chính sách và các thành phần trong xã hội; thúc đẩy hệ sinh thái số về tài chính toàn diện, qua đó, góp phần thực hiện thành công mục tiêu chuyển đổi số của ngành Ngân hàng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Lương Xuân (2024), NHCSXH và hành trình chuyển đổi số, https://vbsp.org.vn/nhcsxh-và-hành-trình-chuyển-đổi-số.html

2. Minh Hà (2024), Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng chính sách, https://baothanhhoa.vn/nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-tin-dung-chinh-sach-219362.htm

3. PV (2022), Khởi động dự án nâng cấp phiên bản hệ thống Intellect Corebanking, https://vbsp.org.vn/khoi-dong-du-an-nang-cap-phien-ban-he-thong-intellect-corebanking.html

Phương Chi
NHNN

Tin bài khác

Phát triển sản phẩm, dịch vụ  ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích yêu cầu phát triển hệ sinh thái ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC). Dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính, bài viết lập luận rằng dịch vụ ngân hàng tại IFC cần chuyển từ tư duy sản phẩm đơn lẻ sang hệ sinh thái tích hợp xuyên suốt hành trình nhà đầu tư. Khung phân tích chỉ ra năng lực cạnh tranh của IFC là kết quả đầu ra của hệ sinh thái gồm sản phẩm, công nghệ, dữ liệu, pháp lý và quản trị rủi ro. Đánh giá bối cảnh Việt Nam cho thấy cơ hội lớn nhưng vẫn tồn tại điểm nghẽn về định danh xuyên biên giới, chuẩn hóa dữ liệu, giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) và rủi ro bên thứ ba. Từ đó, bài viết đề xuất lộ trình chính sách ba giai đoạn nhằm phát triển hạ tầng tài chính số an toàn, minh bạch, góp phần nâng cao năng lực hội nhập tài chính toàn cầu của Việt Nam.
Tăng cường vai trò của ngân hàng thương mại trong ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Tăng cường vai trò của ngân hàng thương mại trong ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Bài viết phân tích vai trò của các ngân hàng thương mại (NHTM) trong phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, trên cơ sở đánh giá thực trạng, khung pháp lý và những hạn chế hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường huy động và phân bổ vốn cho mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu và phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Agribank: Khát vọng xanh và cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo trong hành trình hiện đại hóa tam nông

Agribank: Khát vọng xanh và cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo trong hành trình hiện đại hóa tam nông

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) từ ngân hàng truyền thống sang mô hình “ngân hàng số xanh”, với trọng tâm là tín dụng nông nghiệp bền vững, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong thẩm định tín dụng và vai trò dẫn dắt dòng vốn phục vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam.
Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Bài viết phân tích yêu cầu về khả năng thanh toán - điều kiện cốt lõi trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp (Emergency Liquidity Assistance - ELA) của ngân hàng trung ương (NHTW), thông qua việc so sánh kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn xử lý các cuộc khủng hoảng ngân hàng gần đây, từ đó đề xuất định hướng hoàn thiện khuôn khổ hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp tại Việt Nam theo hướng linh hoạt, dựa trên đánh giá triển vọng và tăng cường phối hợp chính sách giữa các cơ quan liên quan.
Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) do Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế ban hành ngày càng được áp dụng rộng rãi, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng lộ trình áp dụng IFRS phù hợp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), nhằm nâng cao minh bạch tài chính, năng lực quản trị và hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ.
Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ vai trò của các yếu tố công nghệ, tâm lý và tài chính cá nhân trong việc hình thành hành vi chấp nhận dịch vụ của khách hàng.
Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Xem thêm
Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển ngân hàng số gắn với cơ chế cảnh báo rủi ro tại các Trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới, từ đó đề xuất định hướng xây dựng hệ sinh thái ngân hàng số an toàn, minh bạch và bền vững cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Bài viết cho rằng, trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, việc xây dựng mô hình kinh tế - tài chính hiện đại cùng với phát triển Trung tâm tài chính quốc tế sẽ mở ra cơ hội để Việt Nam tạo đột phá tăng trưởng và vươn lên trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.
Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Bài viết này xây dựng khung đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh Khu vực dựa trên mô hình Input - Process - Output - Effectiveness (IPOE), đồng thời đề xuất hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPI) nhằm lượng hóa hiệu quả giám sát theo vị trí việc làm.
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng