Chuyển đổi số tại Ngân hàng Chính sách xã hội: Gia tăng tiện ích sử dụng cho khách hàng

Hoạt động ngân hàng
Sự phát triển công nghệ ngân hàng số diễn ra mạnh mẽ với tốc độ khá nhanh, kéo theo sự thay đổi nhanh chóng dịch vụ tài chính; các sản phẩm ứng dụng công nghệ mới đa dạng đem lại những trải nghiệm mới và lợi ích sử dụng cho khách hàng.
aa

Với sự phát triển vượt bậc của công nghệ, Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) xác định chuyển đổi số là một yêu cầu tất yếu và bắt buộc trong kỷ nguyên số. Do đó, NHCSXH đã tích cực triển khai ứng dụng công nghệ số trong toàn hệ thống; phát triển mô hình ngân hàng số, áp dụng vào các sản phẩm tín dụng chính sách, cung ứng dịch vụ ngân hàng an toàn, tiện lợi, gia tăng tiện ích và trải nghiệm cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác, góp phần thực hiện thành công công cuộc chuyển đổi số quốc gia.

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đề ra quan điểm phát triển kinh tế số, xã hội số, công dân số. Trong đó yêu cầu phải phát triển hạ tầng số hiện đại, bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin và tăng cường năng lực chủ động, làm chủ công nghệ của Việt Nam. Ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.

Bám sát các chủ trương, định hướng của Đảng, Chính phủ về chương trình chuyển đổi số quốc gia; Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 810/QĐ-NHNN ngày 11/5/2021 của Thống đốc NHNN phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 05/QĐ-TTg ngày 04/01/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển NHCSXH đến năm 2030, NHCSXH đặt chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành, chất lượng phục vụ khách hàng và chất lượng hoạt động tín dụng chính sách trong toàn hệ thống NHCSXH.

Hành trình chuyển đổi số trong hoạt động tín dụng chính sách

Sự phát triển công nghệ ngân hàng số diễn ra mạnh mẽ với tốc độ khá nhanh, kéo theo sự thay đổi nhanh chóng dịch vụ tài chính; các sản phẩm ứng dụng công nghệ mới đa dạng đem lại những trải nghiệm mới và lợi ích sử dụng cho khách hàng. Đối với NHCSXH, khách hàng là những người nghèo, dân tộc thiểu số, các đối tượng chính sách… sống ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, trình độ dân trí thấp nên họ rất e ngại, không sẵn sàng tiếp xúc với công nghệ hiện đại. Để giúp người nghèo và các đối tượng yếu thế “không bị bỏ lại phía sau”, tự tin tham gia công nghệ số, năm 2018, NHCSXH đã triển khai dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động qua phương thức dịch vụ SMS với các ứng dụng chính là nhắn tin đối chiếu số dư tiền vay, tiền gửi của khách hàng, nhắn tin thông báo nợ đến hạn, dịch vụ nhắn tin thông báo biến động tài khoản… giúp khách hàng chủ động hơn trong quản lý tài chính cá nhân và hơn hết, người nghèo có cơ hội tiếp cận các dịch vụ tài chính số.

Chuyển đổi số tại Ngân hàng Chính sách xã hội: Gia tăng tiện ích sử dụng cho khách hàng
Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách giúp cho công việc của cán bộ NHCSXH, Tổ trưởng Tổ TK&VV thuận tiện, nhanh chóng, chính xác, hiệu quả

Sau hơn 2 năm thực hiện, dịch vụ SMS đã được mở rộng đến tất cả các khách hàng trong hệ thống NHCSXH, mang đến cho người nghèo và các đối tượng chính sách trải nghiệm và lợi ích khi sử dụng dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động; đồng thời, nâng cao nhận thức cho bà con về dịch vụ tài chính trên điện thoại di động vào quản lý vốn vay, đặc biệt là nâng cao hiểu biết về tài chính số. Dịch vụ thông báo SMS tới khách hàng thể hiện nét mới trong quản lý vốn vay. Độ phủ dịch vụ tài chính đến khách hàng ở nông thôn, vùng hẻo lánh tăng lên rõ rệt. Người nghèo và các đối tượng chính sách dần vượt qua những e ngại ban đầu khi tiếp cận với công nghệ mới và dần làm quen với SMS trên điện thoại di động để thực hiện dịch vụ ngân hàng. Có thể nói, dịch vụ SMS là bước khởi đầu quan trọng trong quá trình chuyển đổi số của NHCSXH.

Trước bối cảnh công nghệ ngân hàng số ngày càng phát triển vượt bậc, trên nền tảng dịch vụ SMS qua điện thoại di động đã triển khai, năm 2021, NHCSXH tiếp tục đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ trong triển khai tín dụng chính sách bằng việc xây dựng triển khai Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách dành cho những người làm công tác quản lý tín dụng chính sách như cán bộ NHCSXH, Tổ trưởng Tổ tiết kiệm và vay vốn (TK&VV), Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, tổ chức chính trị - xã hội các cấp, Ban đại diện các cấp... giúp họ theo dõi, nắm bắt kịp thời tình hình thực tế các hoạt động tín dụng chính sách đang quản lý.

Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách là phần mềm hoạt động trên các thiết bị thông minh sử dụng hệ điều hành Android và IOS, có chức năng như một cẩm nang điện tử, cung cấp thông tin hoạt động tín dụng chính sách và thực hiện một số nghiệp vụ như thu lãi, thu tiết kiệm, chuyển khoản trả tiền lãi, trả tiền gốc; số liệu hoạt động tín dụng chính sách của Tổ TK&VV; kết quả giao dịch; tra cứu biên lai thu lãi của tổ viên; thông tin địa bàn…

Cùng với Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách, năm 2023, NHCSXH tiếp tục ra mắt ứng dụng VBSP SmartBanking và đến tháng 9/2024, ứng dụng đã được triển khai trên toàn quốc với 214.127 tài khoản người dùng đang hoạt động và 130.521 tài khoản người dùng đang hoạt động được mở mới trong năm 2024.

VBSP SmartBanking là dịch vụ ngân hàng trên điện thoại thông minh, được thiết kế dành cho tất cả khách hàng, đặc biệt là hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa… giúp khách hàng thực hiện các giao dịch 24/7 nhanh chóng, mọi lúc, mọi nơi với các dịch vụ tiện ích như chuyển tiền, nộp tiền lãi, truy vấn giao dịch trên tài khoản; kiểm tra tài khoản thanh toán, tiền gửi, tiền vay… Đồng thời, VBSP SmartBanking còn có các tính năng dịch vụ như thanh toán hóa đơn tiền điện, cước viễn thông, vé tàu, vé máy bay, học phí, bảo hiểm, ví điện tử, khoản vay tài chính, nộp thuế, tiền chứng khoán, thanh toán qua mã QR… tạo ra trải nghiệm toàn diện cho khách hàng, giúp khách hàng làm chủ thời gian giao dịch, hoàn toàn thực hiện các thao tác giao dịch trên điện thoại thông minh mà không phải trực tiếp đến ngân hàng.

Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách và VBSP SmartBanking đã được NHCSXH hoàn thiện và triển khai rộng rãi đến với khách hàng, tạo điều kiện cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác sống ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số, người có thu nhập thấp… tiếp cận với các dịch vụ tài chính, kết nối người nghèo với nền kinh tế, góp phần giảm nghèo nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Chuyển đổi số tại Ngân hàng Chính sách xã hội: Gia tăng tiện ích sử dụng cho khách hàng
Ứng dụng VBSP SmartBanking không chỉ hữu ích trong quản lý tín dụng chính sách mà còn giúp người nghèo và các đối tượng chính sách cập kiến thức tài chính, thích ứng với ngân hàng số

Bên cạnh đó, NHCSXH tiếp tục tăng cường hợp tác với đối tác nước ngoài để đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án “Nâng cấp phiên bản hệ thống Intellect Core Banking” đã được Ban Lãnh đạo NHCSXH phê duyệt triển khai từ năm 2022, với mục tiêu xây dựng nền tảng ngân hàng số trên cơ sở kế thừa các nghiệp vụ ngân hàng hiện tại và tạo nền tảng vững chắc để triển khai dịch vụ ngân hàng hiện đại nhằm tăng năng suất lao động và khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho khách hàng; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động, tăng cường an toàn, bảo mật; tăng khả năng tích hợp với các hệ thống khác góp phần tự động hóa các hoạt động nghiệp vụ, tăng khả năng mở rộng liên kết với các đối tác trên nền tảng công nghệ tiên tiến. Theo đó, NHCSXH phấn đấu huy động tối đa nguồn lực cần thiết để đưa bản nâng cấp Core Banking hoạt động chính thức vào cuối tháng 7/2025; đồng thời, tiếp tục nghiên cứu trao đổi về các bước hợp tác tiếp theo nhằm phát triển NHCSXH theo hướng hiện đại, hội nhập, phục vụ tốt nhu cầu của khách hàng và thực hiện tốt Kế hoạch chuyển đổi số của NHCSXH, ngành Ngân hàng và Chiến lược chuyển đổi số quốc gia.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ ngân hàng số tới người dân

Năm 2022, ông Vi Văn Đức, thôn Thanh Đồng, xã Thanh Xuân, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa được vay 100 triệu đồng từ chương trình cho vay sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn để phát triển sản xuất, kinh doanh. Từ khi NHCSXH phát triển các ứng dụng ngân hàng trên điện thoại di động, được cán bộ NHCSXH phổ biến, ông Vi Văn Đức đã cài Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách và VBSP SmartBanking để thực hiện chuyển khoản trả lãi tiền vay, chuyển khoản trả gốc, tra cứu các thông tin của NHCSXH.

Ông Vi Văn Đức cho biết: “Trước đây, muốn tìm hiểu về số kỳ đóng tiền gốc, nộp tiền lãi đối với khoản vay từ NHCSXH cũng như các chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ, tôi đều phải trực tiếp tới điểm giao dịch xã hoặc gặp cán bộ tín dụng chính sách để đối chiếu và nộp tiền. Từ khi ngân hàng triển khai ứng dụng VBSP SmartBanking, tôi thấy rất thuận tiện vì có thể nộp tiền lãi, tiền gốc đúng hạn; tìm hiểu về các chương trình tín dụng chính sách của NHCSXH mọi lúc mà không cần đến điểm giao dịch xã hay phòng giao dịch NHCSXH huyện, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại”.

Đối với ông Lê Đình Quang, Tổ trưởng Tổ TK&VV Hội Nông dân thôn Tân Sơn, xã Hà Tân, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, chỉ với một vài thao tác trên Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách, ông Quang đã nắm bắt chi tiết, quản lý, theo dõi chặt chẽ số liệu của từng tổ viên mọi lúc, mọi nơi.

Theo ông Quang, Tổ TK&VV do ông quản lý hiện có 46 tổ viên đang được vay vốn với dư nợ đạt hơn 1,6 tỉ đồng. Trước đây, thực hiện quản lý nguồn vốn ủy thác từ NHCSXH, ông Quang phải dành nhiều thời gian để ghi chép và theo dõi sổ; còn các tổ viên muốn tìm hiểu thông tin vay vốn thì phải xem văn bản giấy hoặc đến gặp trực tiếp cán bộ tín dụng chính sách để được nghe giải thích, hướng dẫn. Hiện nay, với việc ứng dụng công nghệ số của NHCSXH trên thiết bị di động, ông Quang có thể tra cứu về hộ vay vốn, quy trình các chương trình cho vay; nắm rõ các thông tin trả lãi, gốc hằng tháng, gửi thông báo cụ thể cho từng hộ vay vốn, thu tiền tiết kiệm trên ứng dụng bảo đảm chính xác, an toàn. Việc triển khai ứng dụng công nghệ số của NHCSXH rất hữu ích trong công tác quản lý vốn ủy thác tín dụng chính sách.

Tại Hòa Bình - một tỉnh có tới hơn 70% là người dân tộc thiểu số, việc triển khai chuyển đổi số, ứng dụng các giải pháp công nghệ, tiện ích trong hoạt động cho vay tín dụng chính sách đã được NHCSXH Chi nhánh tỉnh Hòa Bình chú trọng đẩy mạnh góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Có mặt tại phiên giao dịch ở xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, chúng tôi nhận thấy công tác đối chiếu, cập nhật số liệu thu lãi, gốc tiền vay của các hộ dân được cán bộ NHCSXH thao tác nhanh chóng và chính xác.

Ông Trần Quốc Uy, Tổ trưởng Tổ TK&VV xóm 1, xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình cho biết, với vai trò là Tổ trưởng Tổ TK&VV có 59 tổ viên, tổng dư nợ đạt 2,1 tỉ đồng, trước đây, ông Trần Quốc Uy phải đến từng gia đình thu lãi, kê chi tiết số tiền vào bảng kê, cộng nộp cho cán bộ NHCSXH; nhưng từ tháng 9/2024, NHCSXH phổ biến triển khai cài đặt Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách đã giúp ông Uy hạch toán số liệu thu tiền lãi, tiền tiết kiệm từ người dân ngay trên ứng dụng. Dữ liệu ngay lập tức được đồng bộ với hệ thống của NHCSXH, giúp rút ngắn thời gian thu nộp, quá trình giao dịch thực hiện nhanh chóng, tiện lợi và hầu như không có sai sót.

Cùng ý kiến với ông Uy, bà Bùi Bích Phượng, Tổ trưởng Tổ TK&VV xóm 3, xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình cho biết: “Những năm trước tổ viên muốn tìm hiểu thông tin vay vốn đều phải đọc văn bản giấy hoặc gặp cán bộ tín dụng NHCSXH để được nghe giải thích, hướng dẫn. Hiện nay, với việc cài đặt Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách và VBSP SmartBanking, tôi thấy rất tiện lợi cho cả hộ vay và ngân hàng. Thay vì phải ngồi tính toán và đi đến từng hộ vay vốn để đôn đốc thu tiền lãi, tiền trả nợ gốc, thì với việc cài đặt ứng dụng công nghệ số của NHCSXH trên thiết bị di động, chúng tôi có thể nắm bắt được chi tiết thông tin, chủ động trả lãi, gốc hằng tháng, gửi tiết kiệm, thanh toán tiền học, tiền điện…”.

Ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách và VBSP Smart Banking đã được NHCSXH triển khai rộng rãi đến với khách hàng không chỉ giúp ngân hàng nâng cao chất lượng phục vụ, đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ mà còn nâng cao trình độ dân trí của người dân, giúp người dân từng bước tiếp cận với các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa người nghèo, đối tượng chính sách và các thành phần trong xã hội; thúc đẩy hệ sinh thái số về tài chính toàn diện, qua đó, góp phần thực hiện thành công mục tiêu chuyển đổi số của ngành Ngân hàng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Lương Xuân (2024), NHCSXH và hành trình chuyển đổi số, https://vbsp.org.vn/nhcsxh-và-hành-trình-chuyển-đổi-số.html

2. Minh Hà (2024), Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng chính sách, https://baothanhhoa.vn/nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-tin-dung-chinh-sach-219362.htm

3. PV (2022), Khởi động dự án nâng cấp phiên bản hệ thống Intellect Corebanking, https://vbsp.org.vn/khoi-dong-du-an-nang-cap-phien-ban-he-thong-intellect-corebanking.html

Phương Chi
NHNN

Tin bài khác

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích xu hướng tích hợp các yếu tố Môi trường, Xã hội và Quản trị (Environmental, Social, Governance - ESG) trong ngân hàng từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam, qua đó đề xuất hàm ý chính sách thúc đẩy tài chính xanh và phát triển bền vững.
Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - NHNN). Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu lần đầu tiên nước ta có một ngân hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân. Sự ra đời này là kết quả của quá trình xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, mở ra bước phát triển mới về chất trong hoạt động tài chính - tiền tệ. Trải qua 75 năm xây dựng, củng cố và phát triển, ngành Ngân hàng Việt Nam không ngừng lớn mạnh, đóng góp quan trọng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế về giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro, qua đó đề xuất các khuyến nghị nhằm góp phần hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chuyển đổi hiệu quả sang mô hình giám sát hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Xem thêm
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng