Xây dựng Báo cáo Phát triển bền vững: Từ nhận thức đến hành động, từ dữ liệu đến AI

Hoạt động ngân hàng
Ngày 21/5/2025, tại Trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) số 504 Xã Đàn, Hà Nội, Thời báo Ngân hàng phối hợp với Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh quốc (ACCA) tổ chức Tọa đàm “Thực hành Báo cáo Phát triển bền vững trong lĩnh vực ngân hàng với giải pháp AI”. Sự kiện quy tụ hơn 300 lãnh đạo đại diện các cơ quan Chính phủ, ngân hàng, doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính - công nghệ tài chính (Fintech) và các tổ chức quốc tế.
aa

Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà: Ứng dụng AI là lời giải tiềm năng cho Báo cáo Phát triển bền vững ngành Ngân hàng

Xây dựng Báo cáo Phát triển bền vững: Từ nhận thức đến hành động, từ dữ liệu đến AI
Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà phát biểu khai mạc Tọa đàm

Tham dự và phát biểu khai mạc Tọa đàm, Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà nhấn mạnh tầm quan trọng của thực hành phát triển bền vững và vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI) trong việc nâng cao hiệu quả báo cáo, quản trị và thực hành ESG của hệ thống ngân hàng.

Theo Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà, phát triển bền vững đã vượt ra khỏi phạm vi một xu hướng, trở thành một phần cốt lõi trong chiến lược phát triển của ngành tài chính - ngân hàng. Trong đó, việc xây dựng và công bố Báo cáo Phát triển bền vững là công cụ quan trọng để các tổ chức tài chính thể hiện cam kết, minh bạch hóa hoạt động, đồng thời khẳng định vai trò tiên phong trong quá trình hướng tới một nền kinh tế xanh và toàn diện.

Thực hiện định hướng của Chính phủ tại Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025, tầm nhìn 2030, NHNN đã chủ động triển khai nhiều chính sách và kế hoạch hành động để thúc đẩy phát triển bền vững. Phó Thống đốc cho biết, Thống đốc NHNN đã ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững tại Quyết định số 1731/QĐ-NHNN ngày 31/8/2018, cũng như Kế hoạch thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và Đề án triển khai kết quả Hội nghị COP26 tại Quyết định số 1408/QĐ-NHNN ngày 26/7/2023 về việc ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030 và Đề án về những nhiệm vụ, giải pháp triển khai kết quả Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu.

Theo đó, Thống đốc NHNN giao nhiệm vụ cho các ngân hàng thương mại lồng ghép, đưa các nhiệm vụ, giải pháp, chỉ tiêu phát triển bền vững vào chiến lược, chương trình, kế hoạch kinh doanh, quy trình nghiệp vụ; đồng thời khuyến khích các tổ chức tín dụng xây dựng và công bố Báo cáo Phát triển bền vững, công bố các cam kết “xanh” của tổ chức mình.

Ngoài ra, thông qua Đề án phát triển ngân hàng xanh, NHNN đẩy mạnh đào tạo, nâng cao nhận thức về tín dụng xanh và định kỳ tổ chức hội thảo, tọa đàm để phổ biến kinh nghiệm, tiêu chuẩn ESG. Các hoạt động như hợp tác với ACCA, Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GIZ)... tổ chức tọa đàm và đào tạo chuyên sâu cho thấy cam kết rõ ràng của NHNN trong việc hướng dẫn và hỗ trợ các tổ chức tín dụng thực hành Báo cáo Phát triển bền vững theo chuẩn mực quốc tế.

Những bước đi như trên đang tạo ra chuyển biến đáng kể. Năm 2024 ghi nhận số lượng tổ chức lập Báo cáo Phát triển bền vững riêng biệt đạt kỷ lục với 33 đơn vị. Gần như toàn bộ các tổ chức tín dụng đã tích hợp nội dung phát triển bền vững vào Báo cáo thường niên. Đáng chú ý, đã có khoảng 13 - 15 ngân hàng thương mại công bố Báo cáo Phát triển bền vững độc lập và xu hướng này tiếp tục tăng mạnh trong năm 2024 và những tháng đầu năm 2025, với thêm 6 ngân hàng thương mại công bố báo cáo.

Cùng với đó, hoạt động tín dụng xanh cũng đạt kết quả tích cực. Đến cuối quý I/2025, đã có 58 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ tín dụng xanh với tổng giá trị trên 704.244 tỉ đồng, tăng 3,57% so với cuối năm 2024, chiếm 4,3% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Dư nợ chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực năng lượng tái tạo, năng lượng sạch (chiếm hơn 37%) và nông nghiệp xanh (trên 29%). Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng xanh trong giai đoạn 2017 - 2024 đạt bình quân 21,2%/năm, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng tín dụng chung.

Tuy nhiên, Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà cũng thẳng thắn chỉ ra, việc thực hành và công bố Báo cáo Phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng hiện vẫn ở giai đoạn khởi đầu. Những thách thức về khung pháp lý, nguồn lực, năng lực phân tích dữ liệu và đặc biệt là cách thức thu thập, xử lý thông tin một cách hiệu quả và minh bạch vẫn là những rào cản đáng kể.

“Chính vì vậy, việc ứng dụng AI và công nghệ số chính là lời giải tiềm năng cho những bài toán trên. AI không chỉ giúp tự động hóa việc thu thập và tổng hợp dữ liệu, mà còn hỗ trợ phân tích chuyên sâu, phát hiện xu hướng, đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng báo cáo và hiệu quả quản trị bền vững”, Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà tin tưởng.

Tại Tọa đàm, Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà định hướng ba nhóm trọng tâm chính tập trung thảo luận bao gồm:

Thứ nhất, chia sẻ thực tiễn kinh nghiệm trong nước và quốc tế về xây dựng, công bố Báo cáo Phát triển bền vững trong lĩnh vực ngân hàng, bao gồm các chuẩn mực quốc tế và kết nối với yêu cầu của các nhà đầu tư, đối tác quốc tế.

Thứ hai, thảo luận những khó khăn, thách thức và nhu cầu cụ thể của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam trong quá trình xây dựng Báo cáo Phát triển bền vững, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến hệ thống dữ liệu, năng lực phân tích, khung pháp lý hướng dẫn.

Thứ ba, cùng nhau đề xuất các giải pháp ứng dụng công nghệ AI và dữ liệu lớn (Big Data) trong việc hỗ trợ Báo cáo Phát triển bền vững. Cụ thể như: Tự động hóa thu thập dữ liệu ESG; chuẩn hóa và đồng bộ dữ liệu từ nhiều nguồn; phân tích rủi ro và hiệu quả môi trường - xã hội; tạo mô hình báo cáo thông minh phục vụ các nhà quản lý và công chúng; công tác quản lý giám sát và đánh giá báo cáo, từ đó nâng cao khả năng tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế trong thực hành Báo cáo Phát triển bền vững…

Khẳng định cam kết của cơ quan quản lý, Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà cho biết, NHNN luôn coi trọng vai trò định hướng và hỗ trợ hệ thống ngân hàng trong nâng cao trách nhiệm xã hội và ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động quản trị và báo cáo. Những gợi ý tại Tọa đàm sẽ là dữ liệu quý để tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, thúc đẩy hơn nữa ứng dụng AI trong thực hành Báo cáo Phát triển bền vững.

“Cũng thông qua Tọa đàm hôm nay, tôi hy vọng, chúng ta sẽ cùng nhau làm rõ các bước đi cụ thể để chuyển đổi từ nhận thức sang hành động, từ quy định sang thực tiễn, nhằm thúc đẩy ngành Ngân hàng phát triển một cách bền vững, có trách nhiệm và hiện đại hơn”, Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà nhấn mạnh trong phát biểu khai mạc Tọa đàm.

Ông Tô Quốc Hưng - Giám đốc Quốc gia ACCA Việt Nam: Báo cáo Phát triển bền vững không còn chỉ là tài liệu minh bạch hóa thông tin, mà đã trở thành một tiêu chuẩn đầu tư chung

Xây dựng Báo cáo Phát triển bền vững: Từ nhận thức đến hành động, từ dữ liệu đến AI
Ông Tô Quốc Hưng - Giám đốc Quốc gia ACCA Việt Nam phát biểu tại Tọa đàm

Phát biểu tại Tọa đàm, ông Tô Quốc Hưng, Giám đốc Quốc gia ACCA Việt Nam cho biết, trong lĩnh vực ngân hàng - tài chính - đầu tư trên thế giới, Báo cáo Phát triển bền vững không còn chỉ là một tài liệu minh bạch hóa thông tin. Đó còn là tiêu chuẩn đầu tư chung, giúp đem tới thông tin đa chiều hơn, nhìn xa hơn về các rủi ro và cơ hội của các doanh nghiệp giúp cho việc đầu tư tài chính được hoàn thiện hơn.

Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay cũng đang tồn tại hơn 600 tiêu chuẩn phát triển bền vững. Thực tiễn triển khai cho thấy một số ngân hàng xây dựng báo cáo căn cứ vào bộ chuẩn mực nhất định nhưng lại không được công nhận ở khu vực. Điều này đưa ra một nhu cầu để các tổ chức tại Việt Nam triển khai đồng bộ với các tiêu chuẩn toàn cầu và được công nhận rộng rãi. Tương tự như vậy, công nghệ, phương thức triển khai làm thay đổi bản chất của Báo cáo Phát triển bền vững, và việc này cũng quan trọng không kém việc chọn đúng khung báo cáo quốc tế đang được sử dụng rộng rãi. Các công nghệ triển khai cũng nên được áp dụng với các quốc gia, cụ thể là ứng dụng AI vào trong chuyển đổi xanh và triển khai Báo cáo Phát triển bền vững.

Ông Mike Suffield - Giám đốc Chính sách và Nghiên cứu chuyên sâu, ACCA toàn cầu: AI không thể là “liều thuốc vạn năng” cho mọi vấn đề dữ liệu. Chỉ khi được triển khai trên nền tảng đạo đức, dữ liệu chất lượng và chiến lược bền vững tổng thể thì AI mới thực sự đóng góp tích cực

Ông Mike Suffield - Giám đốc Chính sách và Nghiên cứu chuyên sâu, ACCA toàn cầu phát biểu tại Tọa đàm
Ông Mike Suffield - Giám đốc Chính sách và Nghiên cứu chuyên sâu, ACCA toàn cầu phát biểu tại Tọa đàm

Với kinh nghiệm điều hành nhóm chuyên gia nghiên cứu toàn cầu tại ACCA, ông Mike Suffield - Giám đốc Chính sách và Nghiên cứu chuyên sâu, ACCA toàn cầu khẳng định, AI và phát triển bền vững không còn là hai chủ đề tách rời, mà đang dần hợp nhất thành trục chiến lược mới cho ngành kế toán, tài chính.

Các thế hệ AI mới như AI tạo sinh (Generative AI) và AI tác vụ (Agentic AI) mở ra tiềm năng trong lập báo cáo, điều phối quy trình, và tự động hóa hoạt động kế toán. Tuy nhiên, ông lưu ý rằng, những công nghệ này vẫn đang trong giai đoạn phát triển và chưa thể thay thế hoàn toàn các ứng dụng truyền thống.

Để hướng dẫn thực hành cụ thể, ACCA đã xây dựng mô hình tám giai đoạn cho chu trình sản xuất thông tin Báo cáo Phát triển bền vững. Theo đó từ khâu phân công trách nhiệm, thiết lập bối cảnh, xác định thông tin trọng yếu, cho đến xác minh và cải tiến liên tục - mỗi giai đoạn đều có thể tận dụng sức mạnh của AI.

Tuy nhiên, chuyên gia này cũng cảnh báo, có nhiều tổ chức chưa có sẵn luồng dữ liệu hoặc hạ tầng phù hợp để khai thác tối đa công nghệ này. Những thách thức như dữ liệu rời rạc, thiếu tiêu chuẩn hoặc không có sự phối hợp nội bộ sẽ làm giảm đáng kể hiệu quả triển khai AI. Do đó, ông kêu gọi các tổ chức tiếp cận từng bước, từ cải thiện quản trị nội bộ đến xây dựng kết nối xuyên suốt giữa các bộ phận tài chính, dữ liệu và công nghệ.

Một điểm nhấn quan trọng trong tham luận của ông Mike Suffield là lời kêu gọi sử dụng AI một cách có đạo đức, nhằm củng cố niềm tin vào chất lượng và độ tin cậy của thông tin được tạo ra. ACCA xác lập năm nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp cho kế toán viên (tính chính trực, tính khách quan, năng lực và sự thận trọng chuyên môn, bảo mật và ứng xử chuyên nghiệp) như một khung định hướng cơ bản để đánh giá và ứng dụng AI một cách an toàn, minh bạch và hiệu quả.

Theo ông Mike Suffield, các mối đe dọa về mặt đạo đức có thể xuất hiện ở “mọi điểm chạm” giữa công nghệ và dữ liệu. Chẳng hạn, nếu tổ chức sử dụng AI để xác định khung báo cáo hoặc tư vấn yêu cầu công bố thông tin phát triển bền vững, nhưng lại dựa trên dữ liệu huấn luyện không phù hợp, không cập nhật hoặc có thiên lệch theo vùng địa lý, thì rủi ro sai lệch về kết quả sẽ rất cao. Khi đó, sự chính trực sẽ bị đe dọa nghiêm trọng. Việc bỏ qua bước đánh giá tính phù hợp của dữ liệu cũng có thể khiến các khuyến nghị từ AI không phản ánh đúng rủi ro hoặc cơ hội trọng yếu của tổ chức.

Cũng theo ông Mike Suffield, một trong những rủi ro phổ biến hiện nay là sự phụ thuộc không kiểm chứng vào công cụ AI. Điều này xảy ra khi tổ chức không thực hiện quy trình bảo đảm, không đánh giá xem hệ thống AI đang làm gì, do ai kiểm soát và hoạt động dựa trên cơ chế nào. Hậu quả là đầu ra của AI có thể được sử dụng cho các mục đích sai lệch hoặc thiếu kiểm soát, gây tổn hại cho cả chất lượng thông tin lẫn danh tiếng tổ chức. Trong bối cảnh đó, kỹ năng nghề nghiệp truyền thống như kiểm toán nội bộ, phân tích dữ liệu và kiểm chứng nguồn thông tin trở nên thiết yếu hơn bao giờ hết.

Bên cạnh các rủi ro đạo đức, bài trình bày của ông Mike Suffield còn làm nổi bật một vấn đề mới nhưng ngày càng cấp thiết: “dấu chân” môi trường của các hệ thống AI hiện đại. Khi AI được kỳ vọng trở thành công cụ hỗ trợ Báo cáo Phát triển bền vững, bản thân nó lại gây ra những tác động môi trường không nhỏ - một nghịch lý đầy thách thức.

Theo ước tính của Viện Nghiên cứu Điện lực Hoa Kỳ (EPRI), mỗi truy vấn gửi đến mô hình như ChatGPT tiêu tốn lượng điện gấp 10 lần một truy vấn thông thường trên Google. Với khoảng 200 triệu người dùng hằng tuần chỉ riêng với ChatGPT, hay sự phát triển đồng loạt của các nền tảng AI như Claude, Gemini, LlaMA… làm nhu cầu về tính toán và lưu trữ dữ liệu đang tăng mạnh, kéo theo tiêu thụ năng lượng khổng lồ.

Tác động môi trường không chỉ dừng lại ở điện năng. Các trung tâm dữ liệu hiện đại đòi hỏi hệ thống làm mát công suất lớn, đặc biệt khi chip xử lý ngày càng mạnh. Riêng năm 2022, hai tập đoàn công nghệ lớn là Google và Microsoft đã sử dụng lượng nước làm mát tương đương với nhu cầu sinh hoạt của 700.000 công dân Hoa Kỳ. Nếu xu hướng này tiếp tục, nhu cầu về nước ngọt - vốn đã là tài nguyên dần khan hiếm - sẽ càng bị đẩy đến giới hạn.

Do đó, ông Mike kêu gọi các giám đốc tài chính (CFO) cần mở rộng phạm vi đánh giá khi đầu tư vào AI, không chỉ dừng lại ở chi phí đầu tư ban đầu hay tỉ suất sinh lời, mà cần tính đến chi phí môi trường và nhu cầu đầu tư bổ sung vào các giải pháp bền vững hơn. Các mô hình AI hiệu quả hơn, tiết kiệm năng lượng hơn cần được ưu tiên phát triển, lựa chọn nền tảng cũng nên gắn liền với chiến lược quản trị phát thải của tổ chức.

Trên tất cả, thông điệp được ông Mike Suffield nhấn mạnh là: AI không thể là “liều thuốc vạn năng” cho mọi vấn đề dữ liệu. Bản thân AI cũng là một thực thể công nghệ mang rủi ro, chỉ khi được triển khai trên nền tảng đạo đức, dữ liệu chất lượng và chiến lược bền vững tổng thể thì mới thực sự đóng góp tích cực vào hành trình phát triển dài hạn của ngành tài chính - ngân hàng.

Ông Trần Anh Quý - Trưởng phòng Tín dụng chính sách, Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN: Cần sớm ban hành Danh mục phân loại xanh quốc gia

Ông Trần Anh Quý - Trưởng phòng Tín dụng chính sách, Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN
Ông Trần Anh Quý - Trưởng phòng Tín dụng chính sách, Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN phát biểu tại Tọa đàm

Dù đã có những bước tiến đáng kể, thực tế cho thấy việc xây dựng và công bố Báo cáo Phát triển bền vững vẫn còn khoảng cách đáng kể giữa nhóm ngân hàng tiên phong và phần còn lại. Theo ông Trần Anh Quý - Trưởng phòng Tín dụng chính sách, Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN, để tiến trình này thực sự lan tỏa và trở thành một tiêu chuẩn ngành, cần một hệ sinh thái đồng bộ về pháp lý, nguồn lực, năng lực tổ chức và hạ tầng thông tin.

Giải pháp đầu tiên chính là sớm ban hành Danh mục phân loại xanh quốc gia - một bộ tiêu chí chính thức để xác định dự án xanh, làm cơ sở cho việc xây dựng danh mục tín dụng xanh, phát hành trái phiếu xanh và lập Báo cáo Phát triển bền vững.

Song song đó, NHNN tiếp tục phối hợp, kết nối với các tổ chức tài chính quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế để khảo sát, đánh giá thông lệ quốc tế tốt nhất; hỗ trợ các tổ chức tín dụng tiếp cận, tiếp nhận các hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ nguồn vốn phù hợp.

Giải pháp tiếp theo là tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động trao đổi kinh nghiệm, đào tạo lực lượng cán bộ ngân hàng có năng lực, kinh nghiệm, đặc biệt là đội ngũ cán bộ là lãnh đạo chủ chốt tại các đơn vị NHNN, lãnh đạo quản lý tại tổ chức tín dụng về phát triển bền vững, tăng trưởng xanh.

Cùng với đó, các Bộ, ngành, cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kiểm toán, tư vấn tài chính cần phối hợp chặt chẽ, tăng cường hoạt động quản lý, nâng cao chất lượng tư vấn, xây dựng Báo cáo Phát triển bền vững cho doanh nghiệp và tổ chức tín dụng.

Ngoài ra, ông Trần Anh Quý cũng đề xuất tăng cường vai trò kiểm soát và hỗ trợ kỹ thuật từ các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là các cơ quan kiểm toán, kế toán và chứng khoán. Các tổ chức này cần phối hợp để thống nhất chuẩn mực đánh giá, tránh tình trạng báo cáo hình thức, thiếu độ tin cậy và không được thị trường quốc tế công nhận. Đồng thời, thị trường tư vấn trong nước cũng cần được chuyên nghiệp hóa, bảo đảm cung cấp dịch vụ phù hợp với nhu cầu ngày càng cao của các tổ chức tín dụng.

Về phía các tổ chức tín dụng, cần chủ động nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm và tìm kiếm tư vấn phù hợp để đánh giá, xây dựng khuôn khổ quản trị hướng tới phát triển bền vững; bố trí nguồn lực để đầu tư cho thực hành ESG, công bố Báo cáo Phát triển bền vững.

TS. Lê Hùng Cường - Phó Tổng Giám đốc FPT Digital: AI là chìa khóa giúp doanh nghiệp tháo gỡ thách thức dữ liệu ESG

TS. Lê Hùng Cường - Phó Tổng Giám đốc FPT Digital phát biểu tại Tọa đàm
TS. Lê Hùng Cường - Phó Tổng Giám đốc FPT Digital phát biểu tại Tọa đàm

Theo TS. Lê Hùng Cường, xu hướng thế giới chuyển từ “tự nguyện” sang “phải có” đối với hoạt động công bố Báo cáo Phát triển bền vững, tuy nhiên các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập và phân tích dữ liệu. Kết quả khảo sát hơn 200 doanh nghiệp tại Việt Nam cho biết, 67% doanh nghiệp chưa hoặc mới xác định một số chỉ tiêu liên quan đến ESG; 47% doanh nghiệp chưa nắm rõ cách thức thu thập và xử lý dữ liệu ESG; 71% doanh nghiệp chưa trang bị đủ kiến thức về dữ liệu cần thiết để báo cáo; 70% doanh nghiệp không có hoặc ít khi công bố báo cáo ESG ra bên ngoài.

Trong bối cảnh đó, FPT ứng dụng công nghệ số và AI trong hoạt động thu thập, theo dõi và giám sát các chỉ số ESG. TS. Lê Hùng Cường cho biết, thực tế, các dữ liệu ESG nằm rải rác ở các lĩnh vực trọng yếu khác nhau trong điều hành và quản trị của doanh nghiệp, do vậy cần được xác định và phân tách chính xác. Để làm được điều đó, AI là chìa khóa giúp doanh nghiệp tháo gỡ thách thức dữ liệu ESG, đơn giản hóa hoạt động lập báo cáo, từ đó khai thông nguồn vốn xanh từ các tổ chức tài chính, ngân hàng.

Đối với báo cáo ESG truyền thống tại các doanh nghiệp còn gặp nhiều bất cập do phân tán, tốn thời gian và thiếu phân tích theo thời gian thực. Dữ liệu ESG phân tán đến từ nhiều phòng ban và hệ thống khác nhau; thiếu chuẩn hóa theo khung quốc tế (Tiêu chuẩn GRI về Báo cáo phát triển bền vững, tiêu chuẩn ISSB của Hội đồng Tiêu chuẩn Bền vững Quốc tế). Quá trình lập báo cáo thủ công, mất thời gian và dễ sai sót.

Trong khi đó, hệ thống báo cáo và công bố thông tin ứng dụng AI giúp tự động thu thập và chuẩn hóa dữ liệu ESG từ nhiều nguồn AI tích hợp dữ liệu từ hệ thống Internet vạn vật hay các báo cáo... Đối chiếu dữ liệu thực tế với tiêu chí GRI, ISSB để chuẩn hóa, đồng thời, tự động lập báo cáo và kiểm toán dữ liệu ESG nhằm kiểm tra tính đầy đủ, chính xác và minh bạch trước khi công bố.

Đại diện FPT cũng đưa ra kinh nghiệm quốc tế trong việc sử dụng AI khơi thông vốn xanh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) thông qua tự động hóa, đánh giá báo cáo ESG. Một ví dụ điển hình đó là cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS) sử dụng AI để chấm điểm báo cáo ESG của các SME. Theo đó, MAS đã phát triển nền tảng kỹ thuật số Gprnt để đơn giản hóa việc thu thập và báo cáo dữ liệu ESG cho các doanh nghiệp, đặc biệt là SME nhằm tăng cường khả năng tiếp cận vốn xanh.

Giải pháp được đưa ra là sử dụng AI và các công cụ kỹ thuật số để giúp doanh nghiệp đo lường, báo cáo và hành động dựa trên dữ liệu bền vững của họ. Tích hợp dữ liệu từ các nguồn như hóa đơn, tiêu thụ năng lượng và chuỗi cung ứng để tự động phân loại và chấm điểm ESG cho các SME.

Nhờ đó, thời gian xét duyệt khoản vay giảm đáng kể, tăng khả năng tiếp cận vốn xanh cho các SME, giúp ngân hàng tuân thủ các yêu cầu về báo cáo ESG một cách hiệu quả hơn. Một ví dụ khác đó là, Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), Ngân hàng Trung ương Tây Ban Nha và Ngân hàng Trung ương Đức đã hợp tác trong khuôn khổ dự án Gaia để phát triển công cụ đánh giá KPI ESG các tổ chức tài chính. Thông qua việc sử dụng AI để phân tích các báo cáo tài chính và ESG của 187 tổ chức tài chính nhằm theo dõi 20 chỉ số KPI liên quan đến rủi ro khí hậu, phát thải carbon, phát hành trái phiếu xanh và cam kết Net Zero.

Kết quả, xử lý hơn 2.300 tài liệu bao gồm báo cáo tài chính, báo cáo ESG và các tài liệu công khai khác. Độ chính xác đạt 98% trong việc xác định các tài liệu không chứa thông tin rủi ro khí hậu và 80% trong việc phân loại rủi ro khí hậu từ các tài liệu có liên quan. Hệ thống cho phép bổ sung nhanh chóng các KPI mới hoặc tổ chức mới, giúp mở rộng quy mô phân tích rủi ro khí hậu một cách hiệu quả. Nhờ đó, Gaia giúp các ngân hàng trung ương và tổ chức tài chính đánh giá rủi ro khí hậu một cách nhanh chóng, chính xác, từ đó hỗ trợ hoạch định chính sách, kiểm soát rủi ro môi trường cho các tổ chức tài chính dựa trên dữ liệu thực tế.

Tại Việt Nam, FPT cũng đã triển khai thành công giải pháp VertZero tại nhiều doanh nghiệp, mang lại giá trị thực tiễn cho cả khối ngân hàng và các doanh nghiệp sản xuất trong hành trình quản lý và báo cáo phát thải hiệu quả. Đơn cử như triển khai phần mềm VertZero để kiểm kê khí nhà kính phạm vi 1 và 2 cho ngân hàng tại Việt Nam. Bên cạnh đó, FPT cũng xây dựng hệ sinh thái công nghệ ESG - AI “Make in Vietnam”, với các sản phẩm chủ lực như FPT AI Read và akaBot. Hai công cụ này giúp tự động trích xuất dữ liệu ESG từ hàng chục định dạng tài liệu; giảm đến 70% khối lượng xử lý thủ công, tăng độ chính xác lên 98%; hỗ trợ ngân hàng gợi ý KPI phù hợp cho các khoản vay xanh như SLB/SLL…

Ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch FiinGroup và FiinRatings: Nên xem xét có một hệ thống tập trung về thông tin và dữ liệu quản trị thông tin môi trường và xã hội

Báo cáo Phát triển bền vững chỉ là kết quả cuối cùng, quá trình để làm nên báo cáo này thì phải hoàn thiện rất nhiều giai đoạn: Thu thập, xử lý, soạn lập báo cáo, đánh giá tác động. Ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch FiinGroup và FiinRatings khẳng định, báo cáo được làm thủ công sẽ không hiệu quả. Đứng ở góc độ ngân hàng, với hàng trăm, hàng chục nghìn khách hàng - đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ nếu không áp dụng AI thì không thể tiến hành được.

Dưới góc nhìn của ông Nguyễn Quang Thuân, thách thức với các ngân hàng là chữ E (Environmental) và S (Social) trong tiêu chuẩn được sử dụng để đo lường mức độ phát triển bền vững ESG. Bởi doanh nghiệp thường có thói quen “xấu che, tốt khoe” về các vấn đề liên quan đến các yếu tố E và S trên. Vì vậy, cần phải có hệ thống công nghệ cao như AI để hỗ trợ việc xác định đo lường, đánh giá thì sẽ hỗ trợ cho việc triển khai công tác này trên phạm vi rộng hơn.

Về hệ thống tiêu chí phân loại xanh của Việt Nam, hiện vẫn chưa ban hành chính thức hệ thống này. Riêng với tín dụng ngân hàng, ông Nguyễn Quang Thuân nhận thấy quan trọng nhất chính là hệ thống về quản trị thông tin môi trường và xã hội (ESMS). Hiện nay, NHNN đã có quy định và hướng dẫn cho hoạt động này, tuy nhiên, vẫn cẫn thiết phải có một hệ thống tập trung về thông tin và dữ liệu để phục vụ cho các công tác quản lý nhà nước và các bên liên quan.

Việc có một hệ thống thông tin ESMS sẽ giúp ích rất nhiều cho toàn ngành Ngân hàng và cho cả thị trường vốn. Bởi hiện nay các thông tin số liệu báo cáo về tín dụng xanh đã có, tuy nhiên những thông tin này đáp ứng cụ thể tiêu chí phân loại nào, “xanh” hay “nâu”; chuyển đổi hay liên kết bền vững... thì Việt Nam chưa có, ngoại trừ một số giao dịch cụ thể về trái phiếu xanh theo chuẩn quốc tế của Hiệp hội thị trường vốn quốc tế. Bên cạnh đó, các thông tin số liệu báo cáo về tín dụng xanh còn hỗ trợ các ngân hàng thực hiện công tác tổng kết, thống kê để theo dõi tiến trình và các cam kết quốc tế, đồng thời, giúp minh bạch thông tin và quản lý rủi ro về “greenwashing” (hành vi tẩy xanh - làm giả quảng cáo xanh để đạt được lợi thế cạnh tranh không công bằng), ảnh hưởng đến tính bền vững thị trường và tránh hệ lụy có thể có trong tương lai.

Dựa trên nghiên cứu một số nước, ông Nguyễn Quang Thuân cho rằng, nên xem xét việc áp dụng các chính sách khuyến khích tín dụng xanh thông qua việc “nới lỏng” các chỉ tiêu giám sát rủi ro hiện nay, ví dụ tín dụng đáp ứng tiêu chí xanh và có đánh giá độc lập có thể được tính toán áp dụng hệ số an toàn linh hoạt hơn như tỉ lệ giữa tổng dư nợ cho vay và tổng tiền gửi (LDR) hoặc chỉ tiêu, sử dụng vốn ngắn hạn cho vay dài hạn... bởi các dự án xanh hầu hết cần nguồn vốn dài hạn. Bên cạnh đó, Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm tại Trung Quốc, theo đó trái phiếu bình thường thì phải xếp hạng mức AAA (cao nhất) thì mới được phép repo (cầm cố và có quyền mua lại) còn với trái phiếu xanh thì AA có thể được phép tham gia giao dịch repo. Những chính sách hỗ trợ gián tiếp như vậy sẽ tạo sức hấp dẫn cho các sản phẩm tín dụng xanh hay trái phiếu xanh thay vì sử dụng công cụ “giảm lãi suất tín dụng cho vay”. Việc dùng nhiều phương án hỗ trợ mang tính thị trường thay vì yêu cầu các ngân hàng đồng loạt giảm lãi suất đối với tín dụng xanh sẽ hiệu quả hơn và trung hòa được bài toán lợi ích giữa các bên - ông Nguyễn Quang Thuân khẳng định.

Các diễn giả trao đổi trong phiên thảo luận
Các diễn giả trao đổi trong phiên thảo luận tại Tọa đàm

Bà Ngô Thúy Phượng, Phó Trưởng ban Chiến lược, Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank): Báo cáo Phát triển bền vững là tiêu chí quan trọng trong quá trình thẩm định tín dụng

Theo Bà Ngô Thúy Phượng, số lượng Báo cáo Phát triển bền vững của các doanh nghiệp công bố đến nay vẫn còn hạn chế. Tuy nhiên nguồn thông tin Báo cáo Phát triển bền vững hết sức toàn diện, cung cấp thông tin về các yếu tố ESG, yếu tố phi tài chính giúp ngân hàng có thể đánh giá và nhận định được những rủi ro về mặt pháp lý, danh tiếng, vận hành… là những thông tin mà báo cáo tài chính truyền thống có thể bỏ sót. Chính vì vậy, Bà Ngô Thúy Phượng đánh giá rằng, Báo cáo Phát triển bền vững là tiêu chí quan trọng trong quá trình thẩm định tín dụng, giúp ngân hàng có thể giảm thiểu rủi ro về danh mục tín dụng, giảm tỉ lệ nợ xấu và có thể xây dựng được danh mục tín dụng và các lĩnh vực phát triển bền vững.

Đối với ngành Ngân hàng, việc triển khai đẩy mạnh và khuyến khích sử dụng công bố Báo cáo Phát triển bền vững cũng là định hướng góp phần gia tăng nguồn vốn tín dụng xanh, thúc đẩy thực hiện thành công chiến lược phát triển tài chính bền vững quốc gia. Như vậy, việc sử dụng Báo cáo Phát triển bền vững vừa là một tiêu chí trong tiêu chuẩn thẩm định tín dụng, vừa là yếu tố hỗ trợ hoạt động ngân hàng an toàn bảo đảm chất lượng tín dụng cũng như công cụ hữu hiệu có thể định hướng doanh nghiệp và nền kinh tế phát triển bền vững trong dài hạn.

Để triển khai hiệu quả được định hướng trong thời gian tới, bà Ngô Thúy Phượng đưa ra một số giải pháp như sau: (i) Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về danh mục phân loại xanh quốc gia, ban hành bộ tiêu chuẩn thống nhất về ESG, ban hành quy định tiêu chuẩn về Báo cáo Phát triển bền vững tại Việt Nam có tính minh bạch, có thể so sánh, tiếp cận, tiệm cận với các tiêu chuẩn trên thế giới. (ii) Nâng cao việc đào tạo về kiến thức, kỹ năng của các ngân hàng trong việc thẩm định các yếu tố phi tài chính, Báo cáo Phát triển bền vững. (iii) Xây dựng các cơ chế khuyến khích doanh nghiệp thực hành phát triển bền vững và công bố Báo cáo Phát triển bền vững có sự chuyển giao kiến thức, đặc biệt tạo cho doanh nghiệp xây dựng và lập Báo cáo Phát triển bền vững tiến tới xây dựng cơ sở dữ liệu ESG quốc gia. Đồng thời, cần có cơ chế khuyến khích các tổ chức tín dụng trong việc đẩy mạnh nguồn tín dụng xanh.

Bà Ngô Thúy Phượng khẳng định, là ngân hàng hàng đầu Việt Nam, vấn đề chính sách của Vietcombank cũng luôn được thực thi hàng đầu. Theo đó, Vietcombank đã thực hiện chính sách khuyến khích doanh nghiệp áp dụng các chuẩn mực, thực hành Báo cáo Phát triển bền vững để tiếp cận nguồn vốn tốt hơn. Ngoài ra, Vietcombank có định hướng ứng dụng AI trong công tác hỗ trợ doanh nghiệp để giảm bớt gánh nặng về việc đáp ứng các chuẩn mực. Xác định phát triển bền vững là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình hoạt động, Vietcombank đã có rất nhiều giải pháp đổi mới, cải tiến về các yếu tố quản trị rủi ro môi trường, xã hội và phát triển bền vững. Đặc biệt, Vietcombank thuộc Top 20 doanh nghiệp có chỉ số phát triển bền vững tốt nhất trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Quá trình chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ gắn liền việc tích hợp các yếu tố quản trị rủi ro, môi trường và xã hội vào tất cả mọi mặt của ngân hàng.

Năm nay cũng là năm đầu tiên Vietcombank công bố Báo cáo Phát triển bền vững riêng, điều này cũng phù hợp với xu thế quốc tế. Báo cáo Phát triển bền vững là tiêu chí quan trọng đánh giá tính minh bạch của một tổ chức thực hiện cải thiện các yếu tố phát triển bền vững.

Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Phó Tổng Biên tập Thời báo Ngân hàng: Các nội dung tại Tọa đàm cho thấy rõ tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc xây dựng Báo cáo Phát triển bền vững

Xây dựng Báo cáo Phát triển bền vững: Từ nhận thức đến hành động, từ dữ liệu đến AI
Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Phó Tổng Biên tập Thời báo Ngân hàng phát biểu kết luận Tọa đàm

Phát biểu kết luận Tọa đàm, bà Nguyễn Thị Thanh Bình cho biết, những nội dung được trình bày và thảo luận tại Tọa đàm đã cho thấy tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc xây dựng Báo cáo Phát triển bền vững trong lĩnh vực ngân hàng. Đây không chỉ là một yêu cầu tuân thủ mà còn là một chiến lược giúp nâng cao tính minh bạch, gia tăng niềm tin của nhà đầu tư, khách hàng và toàn xã hội. Đồng thời, Tọa đàm cũng đưa ra những góc nhìn mới mẻ, cụ thể và thực tiễn về khả năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quy trình xây dựng và công bố Báo cáo Phát triển bền vững, từ khâu thu thập, xử lý đến phân tích và đề xuất kiến nghị. “Đây sẽ là những nền tảng vững chắc để ngành Ngân hàng Việt Nam hội nhập sâu hơn vào tiến trình phát triển bền vững toàn cầu”, Phó Tổng Biên tập Thời báo Ngân hàng Nguyễn Thị Thanh Bình nhấn mạnh.

Toàn cảnh Tọa đàm
Toàn cảnh Tọa đàm

Đỗ Lê

Tin bài khác

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
Tác động của tín dụng số ngắn hạn đến hành vi vay và rủi ro tín dụng của khách hàng Gen Z tại Việt Nam

Tác động của tín dụng số ngắn hạn đến hành vi vay và rủi ro tín dụng của khách hàng Gen Z tại Việt Nam

Trên cơ sở phân tích thực tiễn hoạt động tín dụng số ngắn hạn tại Việt Nam, bài viết đánh giá tác động của loại hình tín dụng này đến hành vi vay và rủi ro nợ của người tiêu dùng trẻ, đồng thời đưa ra một số hàm ý đối với công tác quản trị rủi ro và xây dựng chính sách.
ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

Bài viết phân tích thực trạng triển khai tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) tại các ngân hàng Việt Nam, làm rõ tác động của ESG đối với hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển ngân hàng bền vững và tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu của ngành Ngân hàng, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đang khẳng định vai trò hạt nhân trong việc kết nối, phát triển nền tảng số dùng chung và hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nâng cao năng lực quản trị, mở rộng dịch vụ tài chính số, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển bền vững khu vực kinh tế hợp tác.
Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Ngày 03/7/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức Hội nghị Sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị nhằm sơ kết, đánh giá những kết quả trong điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời nhận diện những cơ hội, thách thức, khó khăn, đề ra giải pháp, định hướng thời gian tới. Thống đốc Phạm Đức Ấn và Ban Lãnh đạo NHNN điều hành Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có lãnh đạo các đơn vị Vụ, Cục thuộc NHNN, lãnh đạo các tổ chức, Hiệp hội trong Ngành, các tổ chức tín dụng (TCTD) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới điểm cầu NHNN chi nhánh các khu vực.
Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Những tháng đầu năm 2026, nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng, thúc đẩy tín dụng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ngành Ngân hàng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp và đạt được những kết quả tích cực. Tính đến ngày 29/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 20 triệu tỉ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025. Về cơ bản, cơ cấu tín dụng theo đúng định hướng, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong đó cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế. Vốn tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
Xem thêm
Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, hiện đại hóa hoạt động thanh tra ngân hàng theo hướng ứng dụng dữ liệu và công nghệ hiện đại đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả giám sát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Bài viết này phân tích những điều chỉnh trong khuôn khổ điều tiết các tỷ lệ bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng, qua đó đánh giá tác động đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng, hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Sự phát triển của ngân hàng số và định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro an ninh mạng. Trong môi trường tài chính số có tính kết nối cao, các rủi ro như tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu tài chính, rủi ro từ điện toán đám mây, thiên kiến thuật toán hay gian lận Deepfake có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích các rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số, đồng thời đánh giá khung pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quản trị công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành nền tảng pháp lý cho quản trị rủi ro an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng số, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường khả năng chống chịu hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị công nghệ và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính số trong bối cảnh vận hành IFC tại Việt Nam.
Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Bài viết phân tích xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam và yêu cầu định hình không gian phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh thế giới đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của hậu quả đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê cũng như thuê nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách về vốn, lãi suất nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đối với phân khúc nhà ở cho thuê cần những giải pháp đồng bộ khác từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng nguồn cung đối với thị trường này.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.
Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Trước yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, Trung Quốc đang đẩy mạnh cải cách cấu trúc hệ thống tài chính và hiện đại hóa điều hành chính sách tiền tệ, qua đó mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy