Kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2025)

Kinh tế Việt Nam vươn mình mạnh mẽ dưới ngọn cờ của Đảng

Sự kiện
Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, kinh tế Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"
aa

Từ ngày 03/02/1930 - 07/02/1930, tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc), dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản ở Việt Nam (gồm Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành một Đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam, với mục tiêu lãnh đạo phong trào cách mạng và tiến hành giải phóng dân tộc, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. 95 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Cách mạng Việt Nam đã giành được nhiều thắng lợi to lớn, từ giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước đến công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế, xã hội. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc càng trở lên quan trọng, là động lực lớn đưa con thuyền kinh tế đất nước đạp gió, rẽ sóng, vượt trùng dương, thể hiện sức mạnh kiên cường, bản lĩnh vững vàng của dân tộc Việt Nam trên đấu trường quốc tế.

Ảnh minh họa - Nguồn: Internet
Ảnh minh họa - Nguồn: Internet

Kinh tế Việt Nam những năm đầu thành lập Đảng (1930 - 1945)

Những thập niên đầu thế kỷ 20, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Việt Nam là thuộc địa của thực dân Pháp. Khi ấy kinh tế đất nước còn nghèo nàn, lạc hậu; thực dân Pháp khai thác, vơ vét tài nguyên một cách triệt để, phục vụ lợi ích của chính quốc. Bởi vậy, ngay từ những ngày đầu thành lập, Đảng xác định nhiệm vụ trọng tâm của Cách mạng Việt Nam là đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân. Mặc dù chưa có nhiều điều kiện, nguồn lực để phát triển kinh tế, nhưng Đảng đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Theo đó, những tư tưởng về nền kinh tế độc lập, tự chủ đã được đặt ra, tạo nền tảng cho nhiều chính sách phát triển đất nước sau này. Đảng khẳng định rõ, để xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, trước tiên phải đánh bại ách thống trị của thực dân Pháp, giải phóng đất nước khỏi áp bức, bóc lột. Qua 15 năm kháng chiến trường kỳ, Đảng đã lãnh đạo các phong trào cách mạng, đấu tranh đòi quyền lợi cho Nhân dân lao động, chống lại chính sách sưu cao, thuế nặng của thực dân và thúc đẩy đoàn kết dân tộc, cùng Nhân dân làm nên thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 lịch sử và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là minh chứng hùng hồn cho sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước bối cảnh nền kinh tế đất nước phải đối diện với tam tầng khó khăn: “Giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”, Đảng đã chú trọng đến phục hồi, phát triển kinh tế để củng cố nền độc lập còn non trẻ. Đảng đề ra chiến lược phát triển nền kinh tế tự chủ, không phụ thuộc vào các thế lực bên ngoài, tận dụng sức mạnh nội tại của đất nước nhằm từng bước vượt qua thách thức, khó khăn. Theo đó, Đảng chú trọng vào việc phát triển một nền kinh tế công - nông vững mạnh, tạo ra một hệ thống sản xuất nông nghiệp tiến bộ, đồng thời, tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển các ngành công nghiệp thiết yếu để phục vụ cho nhu cầu của Nhân dân trong cả nước. Bên cạnh đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào, chiến sĩ cả nước đã tập trung xây dựng nhiều cơ sở kinh tế tự lực trong các căn cứ cách mạng, góp phần duy trì phong trào đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giữ vững thành quả cách mạng.

Kinh tế Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng thời kỳ “kháng chiến, kiến quốc” (1945 - 1975)

Trong 30 năm kháng chiến trường kỳ chống Pháp và Mỹ (1945 - 1975), Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ đóng vai trò lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc mà còn chủ trương duy trì, phát triển kinh tế hiệu quả để phục vụ cho tiền tuyến.

Ngày 25/11/1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “kháng chiến và kiến quốc” xác định hai nhiệm vụ chiến lược của Cách mạng Việt Nam là: Quyết tâm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và ra sức xây dựng chế độ mới. Theo đó, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân vừa ra sức khôi phục kinh tế, tìm tòi, tháo gỡ khó khăn, khắc phục trì trệ, khủng hoảng kinh tế - xã hội; vừa tiến hành hai cuộc chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Đảng ta đã phát động nhiều phong trào sản xuất, huy động Nhân dân tham gia vào công cuộc kiến thiết nền kinh tế, bao gồm các hoạt động khôi phục nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng… Nhiều cuộc vận động huy động tài chính từ các tầng lớp Nhân dân được triển khai, giúp củng cố nền tảng tài chính nhằm phục vụ tốt cho hai cuộc kháng chiến.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng chỉ đạo “kháng chiến, kiến quốc” tại Văn phòng Chính phủ. (Ảnh: Tư liệu/Báo Quân đội Nhân dân)
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng chỉ đạo “kháng chiến, kiến quốc” tại Văn phòng Chính phủ (Ảnh: Tư liệu/Báo Quân đội nhân dân)

Đối với ngành nông nghiệp, Đảng và Chính phủ đã kêu gọi Nhân dân tăng cường sản xuất nông sản, tập trung chủ yếu vào lương thực, thực phẩm phục vụ cho cuộc chiến. Nhiều chính quyền địa phương đã áp dụng những biện pháp động viên Nhân dân sản xuất gạo và phân phối lương thực hợp lý để đảm bảo cung cấp cho quân đội và dân cư. Ngoài ra, chính sách cải cách, chia lại ruộng đất cho nông dân cũng được thực hiện, giúp gia tăng sản lượng lúa gạo trong toàn quốc.

Đối với ngành công nghiệp, để duy trì cuộc kháng chiến, Đảng chỉ đạo tập trung xây dựng các cơ sở sản xuất vũ khí, đạn dược, cũng như nhu yếu phẩm cần thiết cho quân đội và Nhân dân. Các xưởng sản xuất vũ khí nhỏ đã được thành lập ở những vùng căn cứ địa trên toàn quốc, sản phẩm chủ yếu bao gồm quân trang, vũ khí, thuốc nổ và nhu yếu phẩm phục vụ quân đội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, miền Bắc Việt Nam đã duy trì được sản xuất nhiên liệu và các vật liệu xây dựng cơ bản để phục vụ cho chiến tranh. Việc xây dựng các tuyến giao thông vận tải, đặc biệt là đường mòn Hồ Chí Minh, đường Hồ Chí Minh trên biển… đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cung cấp vật tư cho chiến trường miền Nam.

Bên cạnh đó, nền kinh tế Việt Nam cũng nhận được sự viện trợ lớn từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, góp phần làm giảm bớt khó khăn về vật tư, đạn dược trong suốt hai cuộc kháng chiến. Tháng 01/1950, Trung Quốc và Liên Xô lần lượt công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ đây, cuộc chiến đấu của Nhân dân Việt Nam được tiếp thêm sức mạnh, động lực trong công cuộc phát triển kinh tế thời kỳ “kháng chiến, kiến quốc”.

Kinh tế Việt Nam mạnh mẽ vươn mình dưới ngọn cờ của Đảng trong công cuộc đổi mới đất nước (từ năm 1975 đến nay)

Sau năm 1975, đất nước bước vào giai đoạn thống nhất và bắt đầu bước vào công cuộc đổi mới toàn diện. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn gặp nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh kéo dài và những hạn chế trong cơ chế quản lý kinh tế tập trung bao cấp. Dấu ấn lịch sử sâu đậm và quan trọng nhất trong sự lãnh đạo kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn này là khởi xướng, sáng tạo và lãnh đạo công cuộc đổi mới, mà trước hết là “đổi mới về tư duy kinh tế”, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh thế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động và hội nhập quốc tế. Đảng xác định, phát triển kinh tế bền vững, bao trùm và hội nhập; gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xây dựng con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường trong từng bước đi và từng chính sách phát triển.

Đại hội XII của Đảng xác định mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế (Nguồn: Internet)
Đại hội XII của Đảng xác định mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế (Nguồn ảnh: Internet)

Văn kiện Đại hội XII là kết tinh sự phát triển lý luận của của Đảng, trong đó nhấn mạnh: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường.

Dưới ngọn cờ của Đảng, từ năm 1986, những cải cách kinh tế kết hợp với xu hướng toàn cầu thuận lợi đã nhanh chóng giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển vượt bậc. Từ một trong những nước nghèo trên thế giới, Việt Nam đã vươn mình trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp. GDP bình quân đầu người tăng gần 8 lần trong vòng chưa đầy 40 năm, từ dưới 600 USD/người năm 1986 lên gần 4.700 USD/người năm 2024. Quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2024 đạt 11.511,9 nghìn tỉ đồng, tương đương 476,3 tỉ USD. Năng suất lao động của toàn nền kinh tế năm 2024 theo giá hiện hành đạt 221,9 triệu đồng/lao động (tương đương 9.182 USD/lao động, tăng 726 USD so với năm 2023). Theo giá so sánh, năng suất lao động của toàn nền kinh tế năm 2024 tăng 5,88% do trình độ của người lao động được cải thiện (tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2024 đạt 28,3%, cao hơn 1,1 điểm phần trăm so với năm 2023) (Tổng cục Thống kê, 2025).

Cùng với quá trình hội nhập toàn cầu, kinh tế Việt Nam đang ghi nhận những bước đột phá tích cực khi chuyển dần sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Năm 2010, tỉ trọng lĩnh vực nông, lâm, thủy sản trong GDP là 18,9%, đến năm 2024 đã giảm xuống còn 11,86%. Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng cũng tăng trưởng đáng kể, chiếm tỉ lệ lần lượt là 37,64%; 42,36% GDP năm 2024 (Tổng cục Thống kê, 2025). Đối với hoạt động xúc tiến thương mại, Việt Nam tập trung đẩy mạnh hoạt động xúc tiến xuất khẩu đối với các thị trường trọng điểm, đặc biệt, tận dụng tối đa ưu đãi do các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mang lại như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP)… Việc tham gia đàm phán, ký kết và thực hiện FTA có tác động tích cực tới phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm, phát triển nông nghiệp, nông thôn, giải quyết lao động, tạo việc làm...

Nhìn lại chặng đường đổi mới đất nước với biết bao khó khăn, thăng trầm, song, nền kinh tế Việt Nam vẫn luôn mạnh mẽ vươn mình dưới ngọn cờ của Đảng để khẳng định sức mạnh, vị thế trên trường quốc tế. Những quyết sách sáng suốt của Đảng đã tạo ra nền tảng vững chắc phát triển kinh tế bền vững, đặc biệt là từ thời kỳ kiến thiết, đổi mới đất nước sau chiến tranh. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, với những thách thức và cơ hội mới, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục giữ vững vai trò lãnh đạo, đưa kinh tế đất nước phát triển vững bền, vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Tài liệu tham khảo:

1. https://tapchinganhang.gov.vn/dau-an-ve-su-lanh-dao-cua-dang-trong-phat-trien-kinh-te-11259.html

2. Phạm Việt Dũng (2024): Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế đất nước trong thời kỳ đổi mới.

3. Tổng cục Thống kê (2025), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2024.

4. Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam: Tổng quan về Việt Nam.

Ngọc Linh (NHNN)

Tin bài khác

Khơi thông nguồn lực tài chính cho lộ trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp

Khơi thông nguồn lực tài chính cho lộ trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp

Trước áp lực kép từ biến động địa chính trị năng lượng và các rào cản thương mại xanh khắt khe, chuyển đổi xanh đã không còn là câu chuyện của tương lai mà trở thành yêu cầu cấp bách để kiến tạo sức chống chịu cho nền kinh tế. Trong khuôn khổ Tọa đàm “Chuyển đổi xanh - chìa khoá tiết kiệm nguồn lực” do Thời báo Ngân hàng tổ chức sáng 27/3/2026 tại Hà Nội, các chuyên gia quản lý và kinh tế đã cùng nhận diện những “điểm nghẽn” về vốn, công nghệ, dữ liệu. Đồng thời, nhiều đề xuất quan trọng về việc hoàn thiện Danh mục phân loại xanh, cơ chế hỗ trợ lãi suất từ ngân sách đã được gợi mở, nhằm khơi thông dòng vốn tín dụng, giúp ngành Ngân hàng thực hiện tốt vai trò dẫn dắt nền kinh tế hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.
Thanh niên với tương lai đất nước

Thanh niên với tương lai đất nước

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm với tiêu đề: “THANH NIÊN VỚI TƯƠNG LAI ĐẤT NƯỚC”.
Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân

Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm với tiêu đề "Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân".
Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người gieo mầm “Mùa xuân cách mạng”

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người gieo mầm “Mùa xuân cách mạng”

Bài viết khắc họa hành trình gieo mầm và vun trồng “Mùa xuân cách mạng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những dấu mốc lịch sử trọng đại của dân tộc, từ khởi nguồn lý tưởng cứu nước đến khát vọng phát triển trong kỷ nguyên vươn mình hôm nay.
Lan tỏa thông điệp sử dụng tiền văn minh để khơi dậy nét đẹp văn hóa Tết

Lan tỏa thông điệp sử dụng tiền văn minh để khơi dậy nét đẹp văn hóa Tết

Sáng 04/02/2025, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Sử dụng tiền văn minh và thanh toán an toàn trong dịp Tết”. Tọa đàm được tổ chức như một diễn đàn kết nối đa chiều, quy tụ ý kiến của các nhà nghiên cứu văn hóa, các chuyên gia có uy tín trong xã hội, các cơ quan quản lý chính sách… nhằm gợi mở những giải pháp an toàn, hiệu quả trong việc sử dụng tiền và thanh toán dịp Tết.
VỮNG BƯỚC DƯỚI CỜ ĐẢNG

VỮNG BƯỚC DƯỚI CỜ ĐẢNG

Trân trọng giới thiệu bài viết "VỮNG BƯỚC DƯỚI CỜ ĐẢNG" của Tổng Bí thư Tô Lâm nhân dịp kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2026).
Xem thêm
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Tại Việt Nam, thuế thừa kế không tồn tại như một loại thuế riêng biệt và độc lập trong hệ thống pháp luật về thuế. Thay vào đó, thuế thu nhập cá nhân được áp dụng với một số tài sản thừa kế nhất định khi chúng đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định. Trong đó, người nộp thuế là cá nhân nhận tài sản thừa kế sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân nếu tài sản thừa kế đó đáp ứng đủ điều kiện chịu thuế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Bài viết phân tích toàn diện khung pháp lý về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại các tổ chức tín dụng, đánh giá khả năng triển khai trong thực tiễn hoạt động ngân hàng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm tính khả thi, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực tín dụng có tài sản bảo đảm.
Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Bài viết phân tích các quy định mới của Nghị định số 06/2026/NĐ-CP ngày 10/01/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), qua đó làm rõ vai trò của việc hoàn thiện khung pháp lý trong nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách, thúc đẩy tài chính toàn diện và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành