Kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2025)

Kinh tế Việt Nam vươn mình mạnh mẽ dưới ngọn cờ của Đảng

Sự kiện
Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, kinh tế Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"
aa

Từ ngày 03/02/1930 - 07/02/1930, tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc), dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản ở Việt Nam (gồm Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành một Đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam, với mục tiêu lãnh đạo phong trào cách mạng và tiến hành giải phóng dân tộc, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. 95 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Cách mạng Việt Nam đã giành được nhiều thắng lợi to lớn, từ giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước đến công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế, xã hội. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc càng trở lên quan trọng, là động lực lớn đưa con thuyền kinh tế đất nước đạp gió, rẽ sóng, vượt trùng dương, thể hiện sức mạnh kiên cường, bản lĩnh vững vàng của dân tộc Việt Nam trên đấu trường quốc tế.

Ảnh minh họa - Nguồn: Internet
Ảnh minh họa - Nguồn: Internet

Kinh tế Việt Nam những năm đầu thành lập Đảng (1930 - 1945)

Những thập niên đầu thế kỷ 20, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Việt Nam là thuộc địa của thực dân Pháp. Khi ấy kinh tế đất nước còn nghèo nàn, lạc hậu; thực dân Pháp khai thác, vơ vét tài nguyên một cách triệt để, phục vụ lợi ích của chính quốc. Bởi vậy, ngay từ những ngày đầu thành lập, Đảng xác định nhiệm vụ trọng tâm của Cách mạng Việt Nam là đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân. Mặc dù chưa có nhiều điều kiện, nguồn lực để phát triển kinh tế, nhưng Đảng đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Theo đó, những tư tưởng về nền kinh tế độc lập, tự chủ đã được đặt ra, tạo nền tảng cho nhiều chính sách phát triển đất nước sau này. Đảng khẳng định rõ, để xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, trước tiên phải đánh bại ách thống trị của thực dân Pháp, giải phóng đất nước khỏi áp bức, bóc lột. Qua 15 năm kháng chiến trường kỳ, Đảng đã lãnh đạo các phong trào cách mạng, đấu tranh đòi quyền lợi cho Nhân dân lao động, chống lại chính sách sưu cao, thuế nặng của thực dân và thúc đẩy đoàn kết dân tộc, cùng Nhân dân làm nên thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 lịch sử và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là minh chứng hùng hồn cho sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước bối cảnh nền kinh tế đất nước phải đối diện với tam tầng khó khăn: “Giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”, Đảng đã chú trọng đến phục hồi, phát triển kinh tế để củng cố nền độc lập còn non trẻ. Đảng đề ra chiến lược phát triển nền kinh tế tự chủ, không phụ thuộc vào các thế lực bên ngoài, tận dụng sức mạnh nội tại của đất nước nhằm từng bước vượt qua thách thức, khó khăn. Theo đó, Đảng chú trọng vào việc phát triển một nền kinh tế công - nông vững mạnh, tạo ra một hệ thống sản xuất nông nghiệp tiến bộ, đồng thời, tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển các ngành công nghiệp thiết yếu để phục vụ cho nhu cầu của Nhân dân trong cả nước. Bên cạnh đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào, chiến sĩ cả nước đã tập trung xây dựng nhiều cơ sở kinh tế tự lực trong các căn cứ cách mạng, góp phần duy trì phong trào đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giữ vững thành quả cách mạng.

Kinh tế Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng thời kỳ “kháng chiến, kiến quốc” (1945 - 1975)

Trong 30 năm kháng chiến trường kỳ chống Pháp và Mỹ (1945 - 1975), Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ đóng vai trò lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc mà còn chủ trương duy trì, phát triển kinh tế hiệu quả để phục vụ cho tiền tuyến.

Ngày 25/11/1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “kháng chiến và kiến quốc” xác định hai nhiệm vụ chiến lược của Cách mạng Việt Nam là: Quyết tâm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và ra sức xây dựng chế độ mới. Theo đó, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân vừa ra sức khôi phục kinh tế, tìm tòi, tháo gỡ khó khăn, khắc phục trì trệ, khủng hoảng kinh tế - xã hội; vừa tiến hành hai cuộc chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Đảng ta đã phát động nhiều phong trào sản xuất, huy động Nhân dân tham gia vào công cuộc kiến thiết nền kinh tế, bao gồm các hoạt động khôi phục nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng… Nhiều cuộc vận động huy động tài chính từ các tầng lớp Nhân dân được triển khai, giúp củng cố nền tảng tài chính nhằm phục vụ tốt cho hai cuộc kháng chiến.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng chỉ đạo “kháng chiến, kiến quốc” tại Văn phòng Chính phủ. (Ảnh: Tư liệu/Báo Quân đội Nhân dân)
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng chỉ đạo “kháng chiến, kiến quốc” tại Văn phòng Chính phủ (Ảnh: Tư liệu/Báo Quân đội nhân dân)

Đối với ngành nông nghiệp, Đảng và Chính phủ đã kêu gọi Nhân dân tăng cường sản xuất nông sản, tập trung chủ yếu vào lương thực, thực phẩm phục vụ cho cuộc chiến. Nhiều chính quyền địa phương đã áp dụng những biện pháp động viên Nhân dân sản xuất gạo và phân phối lương thực hợp lý để đảm bảo cung cấp cho quân đội và dân cư. Ngoài ra, chính sách cải cách, chia lại ruộng đất cho nông dân cũng được thực hiện, giúp gia tăng sản lượng lúa gạo trong toàn quốc.

Đối với ngành công nghiệp, để duy trì cuộc kháng chiến, Đảng chỉ đạo tập trung xây dựng các cơ sở sản xuất vũ khí, đạn dược, cũng như nhu yếu phẩm cần thiết cho quân đội và Nhân dân. Các xưởng sản xuất vũ khí nhỏ đã được thành lập ở những vùng căn cứ địa trên toàn quốc, sản phẩm chủ yếu bao gồm quân trang, vũ khí, thuốc nổ và nhu yếu phẩm phục vụ quân đội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, miền Bắc Việt Nam đã duy trì được sản xuất nhiên liệu và các vật liệu xây dựng cơ bản để phục vụ cho chiến tranh. Việc xây dựng các tuyến giao thông vận tải, đặc biệt là đường mòn Hồ Chí Minh, đường Hồ Chí Minh trên biển… đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cung cấp vật tư cho chiến trường miền Nam.

Bên cạnh đó, nền kinh tế Việt Nam cũng nhận được sự viện trợ lớn từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, góp phần làm giảm bớt khó khăn về vật tư, đạn dược trong suốt hai cuộc kháng chiến. Tháng 01/1950, Trung Quốc và Liên Xô lần lượt công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ đây, cuộc chiến đấu của Nhân dân Việt Nam được tiếp thêm sức mạnh, động lực trong công cuộc phát triển kinh tế thời kỳ “kháng chiến, kiến quốc”.

Kinh tế Việt Nam mạnh mẽ vươn mình dưới ngọn cờ của Đảng trong công cuộc đổi mới đất nước (từ năm 1975 đến nay)

Sau năm 1975, đất nước bước vào giai đoạn thống nhất và bắt đầu bước vào công cuộc đổi mới toàn diện. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn gặp nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh kéo dài và những hạn chế trong cơ chế quản lý kinh tế tập trung bao cấp. Dấu ấn lịch sử sâu đậm và quan trọng nhất trong sự lãnh đạo kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn này là khởi xướng, sáng tạo và lãnh đạo công cuộc đổi mới, mà trước hết là “đổi mới về tư duy kinh tế”, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh thế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động và hội nhập quốc tế. Đảng xác định, phát triển kinh tế bền vững, bao trùm và hội nhập; gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xây dựng con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường trong từng bước đi và từng chính sách phát triển.

Đại hội XII của Đảng xác định mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế (Nguồn: Internet)
Đại hội XII của Đảng xác định mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế (Nguồn ảnh: Internet)

Văn kiện Đại hội XII là kết tinh sự phát triển lý luận của của Đảng, trong đó nhấn mạnh: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường.

Dưới ngọn cờ của Đảng, từ năm 1986, những cải cách kinh tế kết hợp với xu hướng toàn cầu thuận lợi đã nhanh chóng giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển vượt bậc. Từ một trong những nước nghèo trên thế giới, Việt Nam đã vươn mình trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp. GDP bình quân đầu người tăng gần 8 lần trong vòng chưa đầy 40 năm, từ dưới 600 USD/người năm 1986 lên gần 4.700 USD/người năm 2024. Quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2024 đạt 11.511,9 nghìn tỉ đồng, tương đương 476,3 tỉ USD. Năng suất lao động của toàn nền kinh tế năm 2024 theo giá hiện hành đạt 221,9 triệu đồng/lao động (tương đương 9.182 USD/lao động, tăng 726 USD so với năm 2023). Theo giá so sánh, năng suất lao động của toàn nền kinh tế năm 2024 tăng 5,88% do trình độ của người lao động được cải thiện (tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2024 đạt 28,3%, cao hơn 1,1 điểm phần trăm so với năm 2023) (Tổng cục Thống kê, 2025).

Cùng với quá trình hội nhập toàn cầu, kinh tế Việt Nam đang ghi nhận những bước đột phá tích cực khi chuyển dần sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Năm 2010, tỉ trọng lĩnh vực nông, lâm, thủy sản trong GDP là 18,9%, đến năm 2024 đã giảm xuống còn 11,86%. Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng cũng tăng trưởng đáng kể, chiếm tỉ lệ lần lượt là 37,64%; 42,36% GDP năm 2024 (Tổng cục Thống kê, 2025). Đối với hoạt động xúc tiến thương mại, Việt Nam tập trung đẩy mạnh hoạt động xúc tiến xuất khẩu đối với các thị trường trọng điểm, đặc biệt, tận dụng tối đa ưu đãi do các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mang lại như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP)… Việc tham gia đàm phán, ký kết và thực hiện FTA có tác động tích cực tới phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm, phát triển nông nghiệp, nông thôn, giải quyết lao động, tạo việc làm...

Nhìn lại chặng đường đổi mới đất nước với biết bao khó khăn, thăng trầm, song, nền kinh tế Việt Nam vẫn luôn mạnh mẽ vươn mình dưới ngọn cờ của Đảng để khẳng định sức mạnh, vị thế trên trường quốc tế. Những quyết sách sáng suốt của Đảng đã tạo ra nền tảng vững chắc phát triển kinh tế bền vững, đặc biệt là từ thời kỳ kiến thiết, đổi mới đất nước sau chiến tranh. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, với những thách thức và cơ hội mới, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục giữ vững vai trò lãnh đạo, đưa kinh tế đất nước phát triển vững bền, vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Tài liệu tham khảo:

1. https://tapchinganhang.gov.vn/dau-an-ve-su-lanh-dao-cua-dang-trong-phat-trien-kinh-te-11259.html

2. Phạm Việt Dũng (2024): Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế đất nước trong thời kỳ đổi mới.

3. Tổng cục Thống kê (2025), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2024.

4. Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam: Tổng quan về Việt Nam.

Ngọc Linh (NHNN)

Tin bài khác

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp các Trưởng đoàn tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp các Trưởng đoàn tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026

Trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi tiếp các Trưởng đoàn tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 chiều ngày 09/6/2026.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: ASEAN cần hướng tới ba tầm vóc chiến lược

Thủ tướng Lê Minh Hưng: ASEAN cần hướng tới ba tầm vóc chiến lược

Sáng 09/6/2026, tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng dự và có bài phát biểu quan trọng tại phiên khai mạc Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 (ASEAN Future Forum - AFF 2026) với chủ đề: "Cùng định hình tương lai chung: Hòa bình, thịnh vượng, lấy người dân làm trung tâm".
Xây dựng tư duy số, văn hóa số và tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn ngành Ngân hàng

Xây dựng tư duy số, văn hóa số và tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn ngành Ngân hàng

Sáng 22/5/2026, Hội thi “Chuyển đổi số ngành Ngân hàng” năm 2026 với chủ đề “Chủ động số hóa - Bứt phá tương lai” nhằm chào mừng 75 năm thành lập Ngân hàng Việt Nam (06/5/1951 - 06/5/2026) và hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (11/5/2026) do Công đoàn Ngân hàng Việt Nam tổ chức chính thức khai mạc.
Dòng vốn ngân hàng "mở đường" cho mục tiêu tăng trưởng cao

Dòng vốn ngân hàng "mở đường" cho mục tiêu tăng trưởng cao

Trong bối cảnh áp lực lạm phát, tỉ giá và biến động tài chính quốc tế gia tăng, ngành Ngân hàng đang triển khai hàng loạt giải pháp nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng vẫn bảo đảm an toàn hệ thống tín dụng. Đây là những nội dung các chuyên gia, nhà khoa học thảo luận tại Tọa đàm “Vai trò của ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” do Thời báo Ngân hàng tổ chức ngày 08/5/2026.
Infographic: Các thành viên Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031

Infographic: Các thành viên Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031

Sáng 08/4, Quốc hội biểu quyết thông qua các Nghị quyết về phê chuẩn việc bổ nhiệm Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Ông Phạm Đức Ấn giữ chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Ông Phạm Đức Ấn giữ chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Sáng 08/4/2026, trong khuôn khổ Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm các thành viên của Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031, trong đó ông Phạm Đức Ấn được phê chuẩn giữ chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm 6 Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên Chính phủ

Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm 6 Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên Chính phủ

Với 100% đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội đã biểu quyết thông qua các Nghị quyết về phê chuẩn việc bổ nhiệm 6 Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và các thành viên của Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Khơi thông nguồn lực tài chính cho lộ trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp

Khơi thông nguồn lực tài chính cho lộ trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp

Trước áp lực kép từ biến động địa chính trị năng lượng và các rào cản thương mại xanh khắt khe, chuyển đổi xanh đã không còn là câu chuyện của tương lai mà trở thành yêu cầu cấp bách để kiến tạo sức chống chịu cho nền kinh tế. Trong khuôn khổ Tọa đàm “Chuyển đổi xanh - chìa khoá tiết kiệm nguồn lực” do Thời báo Ngân hàng tổ chức sáng 27/3/2026 tại Hà Nội, các chuyên gia quản lý và kinh tế đã cùng nhận diện những “điểm nghẽn” về vốn, công nghệ, dữ liệu. Đồng thời, nhiều đề xuất quan trọng về việc hoàn thiện Danh mục phân loại xanh, cơ chế hỗ trợ lãi suất từ ngân sách đã được gợi mở, nhằm khơi thông dòng vốn tín dụng, giúp ngành Ngân hàng thực hiện tốt vai trò dẫn dắt nền kinh tế hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.
Xem thêm
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng