Chuyển đổi số và thực hành ESG: “Tấm hộ chiếu” giúp doanh nghiệp và ngân hàng phát triển bền vững trên thị trường quốc tế

Hoạt động ngân hàng
Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế, với sự bùng nổ mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, các doanh nghiệp cũng đang chuyển mình mạnh mẽ dựa trên nhiều giải pháp số và thực hành ESG (môi trường, xã hội, quản trị) để đáp ứng biến động không ngừng của xã hội. Đây cũng là nội dung trao đổi xuyên suốt tại Hội thảo “Giải pháp chuyển đổi số và thực hành ESG - Chìa khóa hướng tới hội nhập kinh tế toàn cầu” do Báo Dân trí tổ chức sáng 24/6/2025.
aa

Tích hợp ESG và chuyển đổi số: Hướng đi tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế cho doanh nghiệp

Phát biểu Khai mạc Hội thảo, nhà báo Nguyễn Thu Hằng - Phó Tổng Biên tập Báo Dân trí cho biết, tiếp nối thành công của Diễn đàn ESG Việt Nam năm 2024, Báo Dân trí đã khởi động Diễn đàn ESG Việt Nam năm 2025 với chủ đề: “Khoa học công nghệ là động lực cho phát triển bền vững”. Đây là diễn đàn quan trọng, tập trung vào một trong những yếu tố then chốt để thúc đẩy doanh nghiệp phát triển trong kỷ nguyên mới là khoa học và công nghệ. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang chuyển mình mạnh mẽ sang xanh và bền vững, Phó Tổng Biên tập Nguyễn Thu Hằng khẳng định, chuyển đổi số và thực hành ESG chính là “tấm hộ chiếu” thông hành để doanh nghiệp đầu tư và phát triển mạnh mẽ trên thị trường quốc tế. Nếu chuyển đổi số giúp các doanh nghiệp tăng cường sức mạnh nội sinh thì thực thi ESG lại là tiêu chí đo lường mức độ bền vững, minh bạch của doanh nghiệp trong mắt khách hàng và các nhà đầu tư quốc tế. Hội thảo “Giải pháp chuyển đổi số và thực hành ESG - Chìa khóa hướng tới hội nhập kinh tế toàn cầu” được Báo Dân trí tổ chức với mục tiêu tạo ra một diễn đàn trao đổi, thảo luận về những vấn đề quan trọng như: Làm thế nào để doanh nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ vào cải thiện môi trường, hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường; giải pháp thực hành ESG xuyên suốt cho các doanh nghiệp trong kỷ nguyên số…, qua đó giúp các doanh nghiệp, nhà hoạch định chính sách, nhà đầu tư trong nước, quốc tế cùng hành động vì một tương lai xanh và bền vững hơn.

Phó Tổng Biên tập Báo Dân trí Nguyễn Thu Hằng phát biểu khai mạc Hội thảo
Phó Tổng Biên tập Báo Dân trí Nguyễn Thu Hằng phát biểu khai mạc Hội thảo

Tại Hội thảo, Ông Sam Hanna - Giám đốc điều hành kiêm Phó Chủ tịch Strategy ASEAN Shell Global Lubricants khẳng định, với sự phát triển bùng nổ mạnh mẽ của kinh tế - xã hội, mức độ sản xuất, tiêu dùng cũng tăng lên nhanh chóng, mức độ tiêu thụ năng lượng vì thế cũng gia tăng, kéo theo nhiều hệ lụy liên quan đến môi trường và biến đổi khí hậu. Là động lực chính của nền kinh tế, các doanh nghiệp đóng vai trò thiết yếu trong bảo vệ hệ sinh thái môi trường và thúc đẩy sự phát triển bền vững của toàn xã hội. Tại Việt Nam - một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á, đồng thời là một trong những điểm đến hấp dẫn của nhà đầu tư toàn cầu, các doanh nghiệp càng cần thiết phải chứng minh văn hóa hoạt động bền vững trong mắt bạn bè quốc tế. Tích hợp ESG vào văn hóa chiến lược không chỉ là một xu thế, mà là sự lựa chọn bắt buộc nếu doanh nghiệp muốn phát triển lâu dài, có trách nhiệm và tạo dựng niềm tin với các bên liên quan. Hành trình này đòi hỏi sự bền bỉ, chuyển đổi sâu sắc, nhưng cũng mở ra cơ hội tái định vị doanh nghiệp trong một kỷ nguyên mà phát triển bền vững là thước đo thành công mới.

Theo ông Sam Hanna, để tích hợp ESG vào văn hóa hoạt động bền vững, những cam kết rõ ràng từ lãnh đạo cấp cao của doanh nghiệp là vô cùng quan trọng. Không chỉ là các cam kết trong những báo cáo thường niên, các nhà lãnh đạo cần đóng vai trò “người truyền lửa”, thể hiện cam kết công khai và lâu dài trong thực thi ESG; chủ động lồng ghép ESG vào tầm nhìn, sứ mệnh hoạt động của doanh nghiệp. Ông Sam Hanna cũng chia sẻ, doanh nghiệp cần thiết lập cơ chế quản trị ESG trong quy trình vận hành nội bộ, từ sử dụng tài nguyên tiết kiệm, đến minh bạch trong điều hành, đồng thời, thường xuyên đo lường, đánh giá và công bố kết quả ESG, tạo niềm tin với cổ đông, khách hàng, đối tác và xã hội.

Sam Hanna - Giám đốc điều hành và Phó Chủ tịch Strategy ASEAN Shell Global Lubricants
Ông Sam Hanna - Giám đốc điều hành kiêm Phó Chủ tịch Strategy ASEAN Shell Global Lubricants phát biểu tại Hội thảo

Thực hành ESG trong kỷ nguyên số: Hành trình quan trọng của ngành Ngân hàng hướng tới tương lai xanh và bền vững

Nhấn mạnh đến tác động của chuyển đổi số và thực thi ESG đến cấu trúc và năng lực cạnh tranh trong ngành Ngân hàng, TS. Lương Thái Bảo - Trưởng Bộ môn Tài chính quốc tế, Viện Ngân hàng - Tài chính, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết, ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong quá trình chuyển đổi số và thực hành ESG. Trong bối cảnh các thách thức chung mà ngân hàng Việt Nam đang phải đối mặt như bất ổn vĩ mô hay biến động thị trường gia tăng mạnh, những thay đổi trong kỳ vọng của khách hàng và yêu cầu của cơ quan quản lý chặt chẽ hơn, đồng thời yêu cầu nâng cao về bảo mật cá nhân, an toàn thông tin ngày càng cao, thì việc ứng dụng công nghệ số không chỉ làm thay đổi mô hình vận hành truyền thống, mà còn giúp các ngân hàng nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro, tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Đồng thời, ESG trở thành một tiêu chuẩn mới trong đánh giá năng lực và uy tín của tổ chức tín dụng, thúc đẩy các ngân hàng hướng đến phát triển bền vững, minh bạch và có trách nhiệm với cộng đồng. Sự kết hợp giữa chuyển đổi số và ESG không chỉ giúp gia tăng giá trị thương hiệu mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững, phù hợp với xu thế toàn cầu và yêu cầu ngày càng cao của thị trường tài chính hiện đại.

TS. Lương Thái Bảo khẳng định, mô hình ngân hàng số bền vững chính là đáp án cho câu hỏi “Chuyển đổi số, ESG và đổi mới sáng tạo: Mô hình nào phù hợp cho ngành Ngân hàng Việt Nam?”. Cụ thể, chuyển đổi số là nền tảng, giúp số hóa toàn diện hệ thống hoạt động, tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ chuỗi khối (Blockchain) nhằm tối ưu hóa vận hành, cá nhân hóa dịch vụ và mở rộng tiếp cận khách hàng. Tiêu chuẩn ESG cũng là định hướng xuyên suốt, giúp ngân hàng nâng cao quản trị doanh nghiệp, tích hợp yếu tố môi trường - xã hội minh bạch vào chiến lược phát triển, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về tài chính bền vững và thu hút nhà đầu tư có trách nhiệm. Đổi mới sáng tạo chính là động lực thúc đẩy phát triển mô hình kinh doanh linh hoạt, các sản phẩm tài chính xanh, dịch vụ tài chính toàn diện (financial inclusion) cùng hệ sinh thái số kết nối đa ngành.

Chuyển đổi số và thực hành ESG: “Tấm hộ chiếu” giúp doanh nghiệp và ngân hàng phát triển bền vững trên thị trường quốc tế
TS. Lương Thái Bảo - Trưởng Bộ môn Tài chính quốc tế, Viện Ngân hàng - Tài chính, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân phát biểu tại Hội thảo

Để thực hiện thành công mô hình ngân hàng số bền vững, đòi hỏi sự cam kết mạnh mẽ từ các nhà hoạch định chính sách, trong đó có vai trò điều hành của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), sự cam kết từ phía lãnh đạo ngân hàng và sự tham gia tích cực từ phía khách hàng. Đây là hướng đi quan trọng để ngành Ngân hàng không chỉ theo kịp, mà còn tạo dấu ấn riêng trong hành trình chuyển đổi số và phát triển bền vững toàn cầu.

Bàn về yếu tố con người khi thực thi ESG trong bối cảnh chuyển đổi số, TS. Phùng Văn Đông - Giám đốc Viện Công nghệ châu Á (AIT) Việt Nam cho biết, thực thi ESG và chuyển đổi số trong doanh nghiệp không thể thành công nếu thiếu con người. Lấy ví dụ về đào tạo nhân sự tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (VietinBank), TS. Phùng Văn Đông nhấn mạnh vai trò của việc nâng cao nhận thức và năng lực thực thi ESG trong toàn hệ thống. Trước yêu cầu nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, đáp ứng các yêu cầu, chuẩn mực theo các tiêu chí như: Quản trị rủi ro theo tiêu chuẩn Basel II, tiến tới là Basel III, tuân thủ quy định về an toàn hoạt động, minh bạch thông tin tài chính - phi tài chính, phát triển sản phẩm tài chính xanh và thúc đẩy tín dụng bền vững…, VietinBank đã chú trọng xây dựng chiến lược đào tạo nhân sự bài bản. Trong đó, VietinBank đã triển khai nhiều chương trình đào tạo chuyên sâu về công nghệ số nhằm xây dựng đội ngũ nhân sự có tư duy đổi mới, am hiểu các chuẩn mực ESG và phát triển bền vững. Đặc biệt, VietinBank đang kết hợp với AIT Việt Nam triển khai các khóa đào tạo ESG cho nhà quản lý và khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng. Việc tích hợp ESG vào các khóa đào tạo nội bộ, từ cấp lãnh đạo đến cán bộ chuyên môn, không chỉ giúp lan tỏa văn hóa trách nhiệm xã hội trong tổ chức, mà còn tạo nền tảng để chuyển đổi số được triển khai hiệu quả, có chiều sâu và bền vững tại VietinBank. Đây chính là minh chứng cho việc yếu tố con người đóng vai trò trung tâm, quyết định sự thành công của mọi chiến lược đổi mới trong ngành Ngân hàng hiện nay.

Chuyển đổi số và thực hành ESG: “Tấm hộ chiếu” giúp doanh nghiệp và ngân hàng phát triển bền vững trên thị trường quốc tế
TS. Phùng Văn Đông - Giám đốc Viện Công nghệ châu Á Việt Nam phát biểu tại Hội thảo

Trong phiên thảo luận tại Hội thảo, Giám đốc điều hành và Phó Chủ tịch Strategy ASEAN Shell Global Lubricants Sam Hanna; TS. Lương Thái Bảo - Trưởng Bộ môn Tài chính quốc tế, Viện Ngân hàng - Tài chính, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và Giám đốc Viện Công nghệ châu Á Phùng Văn Đông đã cùng thảo luận về một số cơ hội, thách thức và góc nhìn về thực thi ESG trong ngành Ngân hàng tại Việt Nam.

Theo đó, các diễn giả đều nhất trí rằng, ESG đang trở thành một yếu tố cốt lõi trong chiến lược phát triển của các tổ chức tài chính nói chung và các ngân hàng nói riêng, không chỉ nhằm tuân thủ các quy định quốc tế mà còn để gia tăng uy tín, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững. Cụ thể, ông Sam Hanna nhấn mạnh, thực thi ESG giúp thúc đẩy ngân hàng phát triển các sản phẩm như tín dụng xanh, trái phiếu xanh, bảo hiểm vi mô, tài chính toàn diện..., đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng và doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Việc tích hợp yếu tố môi trường và xã hội vào đánh giá rủi ro tín dụng, đầu tư giúp ngân hàng chủ động phòng ngừa rủi ro dài hạn, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và bất ổn xã hội gia tăng. Ngoài ra, thực thi ESG hiệu quả sẽ nâng cao hình ảnh thương hiệu, thúc đẩy chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong ngân hàng. Do vậy, ESG trở thành chất xúc tác cho quá trình số hóa, đổi mới mô hình kinh doanh và xây dựng hệ sinh thái ngân hàng số hiện đại, gắn với phát triển bền vững.

Các diễn giả chia sẻ trong Phiên tham luận tại Hội thảo
Các diễn giả chia sẻ trong Phiên thảo luận tại Hội thảo

Bên cạnh những cơ hội mang lại, quá trình thực thi ESG trong ngành Ngân hàng Việt Nam cũng đối mặt với nhiều thách thức lớn - theo quan điểm của TS. Lương Thái Bảo. Cụ thể, các ngân hàng gặp khó khăn trong việc tích hợp ESG vào hệ thống quản trị rủi ro, mô hình kinh doanh và báo cáo tài chính, trong khi vẫn phải đảm bảo hiệu quả kinh doanh trong ngắn hạn. TS. Lương Thái Bảo cũng chia sẻ thêm rằng, để thực thi ESG một cách thực chất, ngành Ngân hàng cần đầu tư mạnh vào phát triển nguồn nhân lực, nâng cao nhận thức và năng lực thực hiện ESG trong toàn hệ thống, đồng thời ứng dụng công nghệ số để minh bạch hóa dữ liệu và chuẩn hóa quy trình đánh giá thực hành ESG.

Nhằm nâng cao năng lực thực thi ESG trong ngành Ngân hàng trong thời gian tới, Giám đốc AIT Việt Nam Phùng Văn Đông đã gợi ý chính sách và định hướng hành động nhằm thúc đẩy ESG trở thành động lực tăng trưởng mới cho ngành Ngân hàng Việt Nam. Theo TS. Phùng Văn Đông, Chính phủ và NHNN cần xây dựng một khung chính sách ESG thống nhất và phù hợp với thực tiễn Việt Nam, trong đó quy định rõ các tiêu chí đánh giá, cơ chế giám sát và báo cáo ESG trong hoạt động ngân hàng. Đồng thời, NHNN nên đóng vai trò định hướng cho các tổ chức tín dụng tích hợp ESG vào các hoạt động. Đặc biệt, các tổ chức tín dụng cũng cần tăng cường phát triển nguồn nhân lực với sự đào tạo bài bản về ESG và kỹ năng số để triển khai ESG một cách thực chất, không hình thức. Ngoài ra, các ngân hàng cũng cần tăng cường hợp tác quốc tế nhằm học hỏi kinh nghiệm, mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường tài chính toàn cầu, hướng tới một hệ sinh thái tài chính - ngân hàng hội nhập và bền vững.

Toàn cảnh Hội thảo
Toàn cảnh Hội thảo
Phạm Trang

Tin bài khác

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Bài viết phân tích những cơ hội và thách thức đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) trong quá trình tái cơ cấu gắn với chuyển đổi số, đồng thời đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao năng lực quản trị, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững của hệ thống trong giai đoạn tới.
Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành. Tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là: Chuyển đổi số phải đi cùng an toàn; khai thác dữ liệu phải đi cùng bảo vệ dữ liệu; ứng dụng AI phải đi cùng quản trị rủi ro; đổi mới sáng tạo phải đi cùng tuân thủ, kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Sự hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đặt ra yêu cầu thiết kế thể chế mới: Dịch vụ ngân hàng số phục vụ IFC không thể được đồng nhất với các tiện ích số bán lẻ vốn đã phát triển nhanh trong thập kỷ qua. Trên cơ sở phân tích đối chứng giữa Singapore và Hồng Kông, bài viết xây dựng khung năng lực vận hành gồm bốn lớp hạ tầng (gia nhập thị trường, giao dịch, tuân thủ, niềm tin thị trường) và chỉ ra rằng sức mạnh của một IFC phụ thuộc vào độ sâu và khả năng liên thông của các lớp dịch vụ ở cấp độ tổ chức, không phải vào quy mô dịch vụ bán lẻ. Trên nền tảng đó, nghiên cứu đề xuất lộ trình ba giai đoạn cho IFC Việt Nam: (1) Chuẩn hóa định danh điện tử (eKYC) cho khách hàng phi cư trú, tài khoản đa tiền tệ và thanh toán xuyên biên giới theo chuẩn ISO 20022 trong giai đoạn 2026 - 2027; (2) Phát triển ngoại hối tổ chức, tài trợ thương mại số và lưu ký số trong giai đoạn 2027 - 2029; (3) Hoàn thiện công nghệ giám sát (SupTech), tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) bán buôn và cơ chế tường lửa tài chính từ năm 2029.
Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính theo hướng hiện đại, an toàn, minh bạch và có khả năng kết nối quốc tế. Trong bối cảnh đó, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số giữ vai trò then chốt; không chỉ hỗ trợ thanh toán, quản lý dòng tiền, giao dịch ngoại hối, tài trợ thương mại, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường tài chính, cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế số.
Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
Xem thêm
Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Bài viết phân tích những định hướng sửa đổi quan trọng của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 7 (IAS 7) về báo cáo lưu chuyển tiền tệ, đồng thời đánh giá tác động đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý trong bối cảnh tăng cường tính minh bạch của báo cáo tài chính.
Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Trong bối cảnh ngành tài chính - ngân hàng chuyển đổi mạnh mẽ dưới tác động của toàn cầu hóa và công nghệ số, đạo đức và lòng tin ngày càng trở thành nền tảng quan trọng đối với quản trị, kiểm soát rủi ro và phát triển bền vững của hệ thống tài chính.
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng gia tăng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng ngày càng cao, những bất cập của pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn.
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại