Các yếu tố thúc đẩy hoạt động ngân hàng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Hoạt động ngân hàng
Trong năm 2024, tín dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh tăng 11,34% so với cùng kỳ năm trước, đạt mức tăng trưởng ấn tượng. Lãi suất cho vay của các TCTD trên địa bàn tiếp tục xu hướng giảm so với cuối năm 2023, thể hiện sự đồng hành và chia sẻ khó khăn với cộng đồng doanh nghiệp thông qua việc thực thi các chính sách hỗ trợ.
aa
Năm 2024 - năm đặc biệt quan trọng, năm tạo bước đột phá trong giai đoạn thực hiện kế hoạch 5 năm nhằm đạt các chỉ tiêu Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đề ra. Theo đó, toàn ngành Ngân hàng đã quyết tâm, nỗ lực, đồng lòng bứt phá để thực hiện tốt Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh đối mặt với những cơ hội, khó khăn và thách thức đan xen, hệ thống ngân hàng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục đạt những kết quả quan trọng, tạo tiền đề để phấn đấu đạt kết quả cao hơn trong năm 2025 và những năm tiếp theo.

Những kết quả quan trọng

Năm 2024, hệ thống ngân hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục ghi nhận những thành quả đáng khích lệ dưới sự chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Các tổ chức tín dụng (TCTD) duy trì hoạt động an toàn, bảo đảm vai trò quan trọng của mình trong việc cung cấp vốn cho nền kinh tế. Thị trường tiền tệ giữ vững sự ổn định, lãi suất và tỉ giá biến động phù hợp với định hướng quản lý. Đồng thời, các chính sách về tiền tệ, tín dụng và ngoại hối được triển khai đầy đủ, kịp thời, giúp người dân và doanh nghiệp tại địa phương hưởng lợi tối đa từ những chính sách của Chính phủ và NHNN, qua đó thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Trong năm 2024, tín dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh tăng 11,34% so với cùng kỳ năm trước, đạt mức tăng trưởng ấn tượng. Lãi suất cho vay của các TCTD trên địa bàn tiếp tục xu hướng giảm so với cuối năm 2023, thể hiện sự đồng hành và chia sẻ khó khăn với cộng đồng doanh nghiệp thông qua việc thực thi các chính sách hỗ trợ.

Các TCTD trên địa bàn đã tích cực thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ để hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn theo Thông tư số 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023 của Thống đốc NHNN và Thông tư số 06/2024/TT-NHNN ngày 18/6/2024 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 02/2023/TT-NHNN. Tỉ lệ cơ cấu nợ trên địa bàn chiếm khoảng 29% tổng dư nợ và 26% số lượng khách hàng so với cả nước.

Ngoài ra, các TCTD đã triển khai gói tín dụng 60.000 tỉ đồng hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, chế biến lâm sản và thủy sản, cùng với gói 145.000 tỉ đồng dành cho vay nhà ở xã hội... Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt cũng được đẩy mạnh, giúp người dân tiếp cận dễ dàng hơn. Đặc biệt, số lượng giao dịch thanh toán điện tử trên địa bàn Thành phố năm 2024 tăng 107% so với năm 2023, khẳng định sự chuyển biến tích cực trong thói quen giao dịch của người dân.

Từ các kết quả thực hiện của hệ thống ngân hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2024, có thể khẳng định các cơ chế, chính sách, chương trình tín dụng đã được thực hiện đầy đủ, kịp thời, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp, khách hàng và hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, tạo điều kiện tăng trưởng và phát triển kinh tế Thành phố.

Những yếu tố thúc đẩy

Để đạt được các kết quả đáng khích lệ kể trên, NHNN Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh xác định 5 yếu tố thúc đẩy chính, góp phần tích cực vào sự tăng trưởng, phát triển của hệ thống ngân hàng trên địa bàn.

Thứ nhất, sự chỉ đạo thống nhất, xuyên suốt và việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD tổ chức thực thi chính sách hiệu quả, mang lại kết quả cao cho toàn ngành, trong đó có địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngay từ đầu năm 2024, Thống đốc NHNN đã ban hành kịp thời các chỉ thị nhằm định hướng và chỉ đạo thực hiện chính sách tiền tệ. Đây là năm thứ ba liên tiếp NHNN hướng tới mục tiêu giảm lãi suất cho doanh nghiệp nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Để bảo đảm thực thi chính sách đồng bộ, Thống đốc NHNN đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo và thông báo kết luận tại các hội nghị quan trọng, bao gồm triển khai giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trong năm 2024, sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và xác định nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm... Sự chỉ đạo linh hoạt, sát sao cùng chính sách điều hành phù hợp với thực tế đã tạo môi trường thuận lợi để các tổ chức tín dụng triển khai hiệu quả những giải pháp, góp phần hỗ trợ nền kinh tế phát triển bền vững.

Thứ hai, Lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh đã thể hiện quyết tâm mạnh mẽ trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đưa Thành phố trở lại vị thế đầu tàu của nền kinh tế quốc gia. Với tinh thần trách nhiệm cao, Lãnh đạo Thành phố liên tục chỉ đạo sát sao, tổ chức các cuộc họp thường xuyên để đôn đốc, đánh giá tình hình và yêu cầu toàn hệ thống tập trung triển khai các giải pháp cụ thể.

Đồng thời, những nỗ lực được hướng tới tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về thể chế, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển. Nhờ đó, Thành phố đã đạt được những kết quả tích cực, với mức tăng trưởng GRDP cả năm ước tính khoảng 7,17%, hoàn thành mục tiêu đề ra.

Thứ ba, công tác phối hợp của các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân 21 quận/huyện và thành phố Thủ Đức luôn thuận lợi, đã giúp NHNN Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh triển khai nhanh chóng, kịp thời các chính sách của Ngành đến cộng đồng người dân và doanh nghiệp. Ngoài ra, việc ký kết các quy chế phối hợp với những đơn vị trong công tác chuyên môn đã góp phần bảo đảm nhiệm vụ chung được thực hiện một cách hiệu quả và đồng bộ. Hệ thống ngân hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh đã phối hợp tổ chức 38 cuộc họp và hội nghị nhằm kết nối, đối thoại tại các địa bàn hoặc theo chuyên đề. Đồng thời, nhiều văn bản hướng dẫn được ban hành để tuyên truyền các cơ chế, chính sách liên quan đến chương trình tín dụng và thực hiện sinh trắc học cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Những hoạt động này giúp hỗ trợ thực thi hiệu quả công tác thanh toán, bảo đảm mục tiêu đồng hành và phát triển bền vững.

Thứ tư, sự đoàn kết, thống nhất của tập thể cán bộ, công chức NHNN Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp hoàn thành tốt nhất vai trò quản lý nhà nước đối với thị trường tiền tệ, hoạt động ngoại hối, tín dụng, ngân hàng trên địa bàn. Năm 2024, NHNN Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh đã tiếp nhận 4.966 thủ tục hành chính; giải quyết 4.817 thủ tục hành chính đúng hạn; đang giải quyết 149 thủ tục hành chính chưa đến hạn, không có hồ sơ trễ hạn. NHNN Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh đã tập trung thực hiện cải cách hành chính mạnh mẽ, thường xuyên lấy ý kiến đánh giá của khách hàng, doanh nghiệp thực hiện qua Bộ phận một cửa của Chi nhánh, tỉ lệ khách hàng hài lòng về chất lượng thực hiện các thủ tục hành chính đạt 100%.

Trong năm 2024, công tác thanh tra và giám sát của NHNN Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh đạt kết quả đáng ghi nhận. Đơn vị đã hoàn thành 41 cuộc thanh tra, đạt 100% kế hoạch đề ra. Qua thanh tra, các tồn tại và vi phạm trong hoạt động của các TCTD được phát hiện, đồng thời đưa ra các kiến nghị, khuyến nghị và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng.

Công tác giám sát tập trung vào việc bảo đảm an toàn vi mô, kết hợp theo dõi trực tiếp và gián tiếp. Đặc biệt, chú trọng giám sát chất lượng tín dụng, cấp tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro hoặc các khoản tín dụng lớn cho khách hàng ngoài địa bàn. NHNN Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh cũng thường xuyên ban hành văn bản để chấn chỉnh hoạt động của các TCTD. Trong năm 2024, đã có 557 văn bản khuyến nghị, cảnh báo được gửi đến các TCTD, nhằm hỗ trợ ngăn ngừa và xử lý kịp thời các rủi ro. Những nỗ lực này không chỉ bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng mà còn hướng tới mục tiêu phục vụ tốt nhất cho người dân và doanh nghiệp, lấy người dân và doanh nghiệp làm trọng tâm trong mọi hoạt động.

Thứ năm, sự đồng thuận của các TCTD trên địa bàn giúp việc tổ chức thực thi chính sách của Ngành được nhiều thuận lợi. Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh rất đa dạng về loại hình hoạt động của các TCTD, hệ thống mạng lưới hơn 2.000 đơn vị hoạt động, chiếm thị phần từ 25 - 27% hoạt động của hệ thống TCTD trên cả nước. Các TCTD trên địa bàn luôn quan tâm, tổ chức triển khai nhanh chóng, hiệu quả các chính sách, chỉ đạo từ NHNN và NHNN Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, tích cực phản hồi chính sách để công tác quản lý nhà nước trên địa bàn đạt hiệu quả tốt nhất. NHNN Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh thường xuyên tổ chức các buổi làm việc để trao đổi thông tin và nhận được các phản ánh, kiến nghị và đề xuất của các TCTD trên địa bàn về cơ chế, chính sách, từ đó tham mưu, phản ánh đến NHTW để chính sách ngày càng hiệu quả, đi vào cuộc sống.

Việc xác định các yếu tố thuận lợi trong quá trình thực thi chính sách trên địa bàn sẽ giúp hệ thống ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục phấn đấu, phát huy các mặt tích cực để cùng thực thi nhiệm vụ, hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch của năm 2025.

Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định chủ đề năm 2025 là “Tập trung sắp xếp tổ chức bộ máy tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả; đẩy mạnh chuyển đổi số, triển khai Nghị quyết số 98/2023/QH15 của Quốc hội; giải quyết cơ bản những vướng mắc, tồn đọng của Thành phố”, đồng thời Thành phố tiếp tục tổ chức thực hiện Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 30/12/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nhiều chủ trương, quyết sách định hướng cho sự phát triển đột phá mạnh mẽ của Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới sẽ được tổ chức thực hiện như: Thành lập Trung tâm khởi nghiệp sáng tạo; xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh thành trung tâm dịch vụ lớn của cả nước và khu vực; thành lập Trung tâm tài chính quốc tế toàn diện tại Thành phố Hồ Chí Minh… Những nội dung này hứa hẹn sẽ tạo nên sự chuyển mình mạnh mẽ của Thành phố Hồ Chí Minh trong vai trò là trung tâm kinh tế lớn của cả nước.

Theo đó, với vai trò là “huyết mạch cho nền kinh tế”, các TCTD trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh sẽ đón nhận những cơ hội và thách thức mới. Hệ thống ngân hàng trên địa bàn sẽ tiếp tục phát huy những lợi thế so sánh để đóng góp tích cực cho sự phát triển tổng hòa nhiều mặt của kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới.

Võ Minh Tuấn
Giám đốc NHNN Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh

Tin bài khác

Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu của ngành Ngân hàng, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đang khẳng định vai trò hạt nhân trong việc kết nối, phát triển nền tảng số dùng chung và hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nâng cao năng lực quản trị, mở rộng dịch vụ tài chính số, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển bền vững khu vực kinh tế hợp tác.
Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Ngày 03/7/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức Hội nghị Sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị nhằm sơ kết, đánh giá những kết quả trong điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời nhận diện những cơ hội, thách thức, khó khăn, đề ra giải pháp, định hướng thời gian tới. Thống đốc Phạm Đức Ấn và Ban Lãnh đạo NHNN điều hành Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có lãnh đạo các đơn vị Vụ, Cục thuộc NHNN, lãnh đạo các tổ chức, Hiệp hội trong Ngành, các tổ chức tín dụng (TCTD) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới điểm cầu NHNN chi nhánh các khu vực.
Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Những tháng đầu năm 2026, nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng, thúc đẩy tín dụng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ngành Ngân hàng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp và đạt được những kết quả tích cực. Tính đến ngày 29/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 20 triệu tỉ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025. Về cơ bản, cơ cấu tín dụng theo đúng định hướng, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong đó cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế. Vốn tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
Ngân hàng Phong cách sống: Phân tích so sánh các mô hình toàn cầu và hàm ý chiến lược cho thị trường Việt Nam

Ngân hàng Phong cách sống: Phân tích so sánh các mô hình toàn cầu và hàm ý chiến lược cho thị trường Việt Nam

Bài viết phân tích sự chuyển dịch của ngành Ngân hàng từ mô hình cung cấp sản phẩm sang xây dựng hệ sinh thái số gắn với phong cách sống, làm rõ các mô hình tiêu biểu trên thế giới và đề xuất những hàm ý chiến lược giúp ngân hàng thương mại Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.
Xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững tại Việt Nam

Xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững tại Việt Nam

Bài viết đề xuất bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững gồm 06 trụ cột và 18 chỉ tiêu thành phần, góp phần cung cấp công cụ đo lường toàn diện phục vụ chuyển đổi số ngành Ngân hàng theo hướng an toàn và bền vững.
Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giám sát ngân hàng thông qua trắc lượng thư mục bằng phần mềm VOSviewer

Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giám sát ngân hàng thông qua trắc lượng thư mục bằng phần mềm VOSviewer

Bài viết này sử dụng phương pháp trắc lượng thư mục với công cụ VOSviewer 1.6.20 để tổng quan và phân tích về hoạt động giám sát ngân hàng giai đoạn 2010 - 2025, qua đó làm rõ xu hướng phát triển, các chủ đề nghiên cứu trọng tâm và mạng lưới học thuật quốc tế trong lĩnh vực này.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ  ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích yêu cầu phát triển hệ sinh thái ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC). Dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính, bài viết lập luận rằng dịch vụ ngân hàng tại IFC cần chuyển từ tư duy sản phẩm đơn lẻ sang hệ sinh thái tích hợp xuyên suốt hành trình nhà đầu tư. Khung phân tích chỉ ra năng lực cạnh tranh của IFC là kết quả đầu ra của hệ sinh thái gồm sản phẩm, công nghệ, dữ liệu, pháp lý và quản trị rủi ro. Đánh giá bối cảnh Việt Nam cho thấy cơ hội lớn nhưng vẫn tồn tại điểm nghẽn về định danh xuyên biên giới, chuẩn hóa dữ liệu, giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) và rủi ro bên thứ ba. Từ đó, bài viết đề xuất lộ trình chính sách ba giai đoạn nhằm phát triển hạ tầng tài chính số an toàn, minh bạch, góp phần nâng cao năng lực hội nhập tài chính toàn cầu của Việt Nam.
Xem thêm
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam