25 năm phát triển sản phẩm, dịch vụ của Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam

Hoạt động ngân hàng
Tại Việt Nam, vào những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, khi hệ thống ngân hàng Việt Nam chuyển từ một cấp thành hai cấp, định hướng hoạt động theo cơ chế kinh tế thị trường, hàng loạt quỹ tín dụng, hợp tác xã tín dụng và cả một số ngân hàng lâm vào tình trạng mất vốn, nợ tồn đọng lớn, gây ảnh hưởng tới uy tín của hệ thống ngân hàng, lòng tin của người dân và doanh nghiệp.
aa

Lịch sử hoạt động thông tin tín dụng (TTTD) liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của hệ thống tài chính và ngân hàng. Hoạt động TTTD được khởi đầu từ thế kỷ 19 tại Mỹ và Anh khi các doanh nghiệp thương mại thường cần thông tin về khả năng tín dụng của khách hàng để đưa ra quyết định giao dịch. Tuy nhiên, đến thế kỷ 20, hoạt động TTTD mới dần dần phát triển rộng khắp tại các quốc gia trên thế giới từ châu Mỹ, châu Âu và lan rộng tới châu Á.

Tại Việt Nam, vào những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, khi hệ thống ngân hàng Việt Nam chuyển từ một cấp thành hai cấp, định hướng hoạt động theo cơ chế kinh tế thị trường, hàng loạt quỹ tín dụng, hợp tác xã tín dụng và cả một số ngân hàng lâm vào tình trạng mất vốn, nợ tồn đọng lớn, gây ảnh hưởng tới uy tín của hệ thống ngân hàng, lòng tin của người dân và doanh nghiệp. Nguyên nhân chủ yếu do nước ta mới chuyển sang áp dụng cơ chế thị trường, khả năng thích ứng với nền kinh tế này còn hạn chế, dẫn đến tình trạng thông tin bất cân xứng trong hệ thống ngân hàng; đặc biệt thiếu thông tin, dữ liệu chính xác, đầy đủ phục vụ cho quản lý điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Chính vì vậy, đứng dưới góc độ quản lý vĩ mô, việc xây dựng một tổ chức tập trung thu thập, xử lý và cung cấp TTTD trong toàn hệ thống là việc làm cần thiết và cấp bách trong bối cảnh bấy giờ. Sau khi thử nghiệm thành lập Trung tâm Phòng ngừa và giám sát rủi ro tại NHNN Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 10/1991, chỉ gần một năm sau đó, vào ngày 12/9/1992, Phòng Thông tin phòng ngừa rủi ro trực thuộc Vụ Tín dụng, NHNN là tiền thân của Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) đã được thành lập. Năm 1995, Phòng Thông tin phòng ngừa rủi ro được đổi tên thành Trung tâm Thông tin tín dụng (nay là CIC) và chính thức tách ra, hoạt động độc lập với cơ chế là đơn vị sự nghiệp trực thuộc NHNN vào tháng 02/1999.

25 năm phát triển sản phẩm, dịch vụ của Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam
CIC đóng góp tích cực vào sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng

Hiện nay, CIC hoạt động với vai trò là cơ quan TTTD công lập trực thuộc NHNN. Với đặc thù trong quá trình hình thành và phát triển, mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong chức năng nhiệm vụ của CIC hướng tới hỗ trợ công tác quản lý nhà nước của NHNN và bảo đảm an toàn, lành mạnh cho hoạt động tín dụng trong hệ thống ngân hàng. Hoạt động của CIC là sự kết hợp giữa hoạt động chức năng cơ quan TTTD công lập và công ty TTTD tư nhân, do đó, các sản phẩm, dịch vụ của CIC được xây dựng, thiết kế nhằm hỗ trợ hoạt động của NHNN, các tổ chức tín dụng (TCTD) và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp khách hàng vay.

Cụ thể, hệ thống sản phẩm, dịch vụ TTTD không ngừng được nghiên cứu đổi mới và hoàn thiện theo xu hướng quản lý nhà nước và quản trị rủi ro trong hệ thống ngân hàng, góp phần bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của toàn Ngành. Vai trò, uy tín của CIC trong cơ sở hạ tầng tài chính quốc gia được ghi nhận nhờ hệ thống sản phẩm, dịch vụ TTTD được tạo lập từ dữ liệu của cơ sở dữ liệu TTTD quốc gia không ngừng được đổi mới và hoàn thiện.

Thứ nhất, đối với các sản phẩm, dịch vụ phục vụ công tác quản lý nhà nước

CIC đã hoàn thành tốt vai trò là đơn vị đầu mối cung cấp thông tin hỗ trợ công tác quản lý điều hành, hoạch định chính sách, thanh tra giám sát cho NHNN. Từ khi bắt đầu triển khai hoạt động TTTD, CIC không ngừng hoàn thiện, cải tiến sản phẩm, mẫu biểu đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin của Ban Lãnh đạo NHNN, các đơn vị, vụ, cục trực thuộc NHNN và NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố, bao gồm: Nhiều mẫu biểu phục vụ công tác thanh tra giám sát, giám sát từ xa; dự báo thống kê; đánh giá tác động và hoạch định chính sách đối với một số lĩnh vực ưu tiên trọng điểm hoặc các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Năm 2014, CIC đã phối hợp với các đơn vị, vụ, cục NHNN phát triển nhiều sản phẩm, dịch vụ và tạo tiện ích ứng dụng trên Website CIC cho các đơn vị khai thác, sử dụng. Đến năm 2023, CIC tiếp tục hoàn thành xây dựng 15 báo cáo tổng hợp phục vụ công tác tham mưu chính sách, chỉ đạo điều hành của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng, các vụ, cục NHNN; 12 báo cáo phục vụ công tác quản lý, thanh tra, giám sát của NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố. Hệ thống báo cáo mới được phát triển thêm nhiều chỉ tiêu, nội dung báo cáo đa chiều, linh hoạt nhiều cấp độ, sử dụng các công cụ khai thác, phân tích dữ liệu mới. Ngoài ra, CIC tích cực phối hợp và cung cấp thông tin cho các đơn vị quản lý nhà nước khác, hỗ trợ triển khai công tác hoạt động theo chức năng của từng đơn vị như Bộ Công an, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia…

Thứ hai, đối với các sản phẩm, dịch vụ phục vụ công tác quản trị rủi ro

CIC không ngừng cải tiến danh mục, tăng cường chất lượng sản phẩm, dịch vụ dành cho các TCTD và các đơn vị khác trong hệ thống TTTD. Cụ thể, năm 2013, CIC thực hiện bổ sung và cung cấp sản phẩm cảnh báo tới tất cả các đơn vị khai thác và sử dụng theo 3 góc độ: Cảnh báo liên quan đến TCTD; cảnh báo liên quan đến ngành, vùng kinh tế, tỉnh/thành phố; cảnh báo liên quan đến khách hàng vay. Sản phẩm cảnh báo khách hàng vay S37 tức thời đã phát huy được hiệu quả và được nhiều đơn vị đăng ký sử dụng với mức độ tra cứu thông tin tăng đột biến trong năm 2022, đạt hơn 34 triệu lượt tra cứu. Năm 2021, đối với mô hình chấm điểm khách hàng cá nhân, CIC đã nâng cấp và kiểm thử thành công theo các tiêu chuẩn quốc tế mới nhất. Trong mô hình này, CIC đã ứng dụng công nghệ học máy (Machine Learning) giúp hỗ trợ tính toán các chỉ số, thông tin phi tài chính trong chấm điểm đối với những khách hàng không có lịch sử tín dụng (THIN file) nhằm tăng khả năng tiếp cận tín dụng cho đối tượng này, từ đó hỗ trợ các TCTD từng bước chuyển đổi từ hình thức cho vay có bảo đảm bằng tài sản sang hình thức cho vay tín chấp dựa trên dự báo mức độ rủi ro của khách hàng. Năm 2023, các báo cáo TTTD do CIC cung cấp được bổ sung thêm một số trường thông tin hữu ích cho đơn vị sử dụng như bổ sung thông tin xác suất vỡ nợ, thông tin xác thực với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Để phù hợp với xu thế về dịch vụ tài chính số, CIC đã ra mắt sản phẩm Báo cáo TTTD tức thời (S11T) vào tháng 5/2024 nhằm hỗ trợ các đơn vị sử dụng ra quyết định nhanh chóng khi xét duyệt khoản vay trên môi trường số. Ngoài ra, CIC cung cấp các sản phẩm theo yêu cầu đáp ứng nhu cầu đánh giá khách hàng vay, xây dựng và kiểm định mô hình của các TCTD.

Theo thống kê, số lượng báo cáo TTTD do CIC cung cấp cho các đơn vị sử dụng có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ theo từng giai đoạn 5 năm, đặc biệt trong giai đoạn 2014 - 2019 (tăng 8,5 lần) và giai đoạn 2019 - 2024 (tăng 2,3 lần). Trong năm 2024 (tính đến tháng 10), CIC đã cung cấp gần 75 triệu báo cáo cho các TCTD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm 2023.

Thứ ba, đối với các sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ, phục vụ cho khách hàng vay, tăng cường tính minh bạch, nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng và thúc đẩy tài chính toàn diện

Sau khi Cổng thông tin kết nối khách hàng vay chính thức được vận hành vào năm 2019, CIC tiếp tục đẩy mạnh phát triển và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ trực tiếp cho khách hàng vay. Tính đến tháng 10/2024, CIC đã ghi nhận hơn 1,9 triệu khách hàng cá nhân và gần 1,6 nghìn khách hàng pháp nhân đăng ký tài khoản và khai thác báo cáo TTTD thông qua Cổng thông tin kết nối khách hàng vay với số lượng báo cáo TTTD khai thác trung bình trong giai đoạn từ năm 2019 đến nay ước đạt khoảng gần 400.000 báo cáo/năm.

Nhờ có sự ra đời của hoạt động TTTD, bức tranh toàn cảnh về hoạt động tín dụng trong hệ thống ngân hàng trở nên rõ ràng, minh bạch hơn, giảm thiểu thông tin bất cân xứng giữa người cho vay và người đi vay. Đặc biệt, kết quả hoạt động TTTD do CIC là đơn vị đầu mối triển khai đã được ghi nhận và đánh giá cao khi hỗ trợ tích cực cho NHNN trong công tác quản lý nhà nước, hoạch định chính sách, thanh tra giám sát; hỗ trợ các TCTD trong công tác quản trị rủi ro, bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng. Trong suốt thời gian hơn 32 năm triển khai và 25 năm chính thức thành lập, hoạt động TTTD của NHNN đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận, trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba, hạng Nhì và hạng Nhất lần lượt vào các năm 2009, 2014 và 2019. Bước sang giai đoạn tiếp theo trong quá trình hình thành và phát triển, hoạt động TTTD của NHNN thông qua đơn vị đầu mối CIC được kỳ vọng sẽ tiếp tục giữ vững vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia, góp phần tích cực trong bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Cao Văn Bình
Chủ tịch Hội đồng quản lý CIC

Tin bài khác

Tác động của cấu trúc nguồn vốn huy động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của vốn chủ sở hữu

Tác động của cấu trúc nguồn vốn huy động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của vốn chủ sở hữu

Nghiên cứu này làm rõ tác động của tiền gửi khách hàng và nguồn vốn phi tiền gửi đến khả năng sinh lời của ngân hàng, đồng thời chỉ ra vai trò điều tiết quan trọng của vốn chủ sở hữu trong mối quan hệ này. Kết quả thực nghiệm cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc tối ưu hóa cấu trúc nguồn vốn và định hướng chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Tác động của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tại các quốc gia ASEAN

Tác động của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tại các quốc gia ASEAN

Bài viết phân tích vai trò của tín dụng xanh trong bối cảnh các quốc gia ASEAN đối mặt với thách thức biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, qua đó làm rõ tác động tích cực của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần, đồng thời xem xét mức độ ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong mối quan hệ này.
Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu đề xuất hàm ý chính sách cho các nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý: Các ngân hàng cần định hình và vận dụng khẩu vị rủi ro như một chiếc la bàn xuyên suốt quá trình quản trị; đồng thời, cần chủ động trích lập dự phòng dựa trên các dự báo và kịch bản kinh tế vĩ mô, tăng cường giám sát sớm để phát hiện kịp thời các dấu hiệu suy giảm chất lượng tín dụng, xử lý nợ xấu một cách dứt khoát nhằm tránh hiệu ứng tích tụ rủi ro.
Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Nghiên cứu này tập trung đánh giá ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng trong bối cảnh ngân hàng số Việt Nam. Kết quả nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm mới cho bối cảnh Việt Nam, đồng thời củng cố các lý thuyết trước đó về niềm tin trong môi trường ngân hàng số.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính tại Trung tâm tài chính quốc tế: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính tại Trung tâm tài chính quốc tế: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và khuyến nghị cho Việt Nam

Việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh và định vị của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong giai đoạn tới. Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, tác giả đề xuất khung sản phẩm, dịch vụ tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam dựa trên bốn yếu tố tích hợp về thể chế, hạ tầng, nhân lực và hợp tác quốc tế.
Áp lực công việc và sự hài lòng, trung thành với tổ chức của nhân viên ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Áp lực công việc và sự hài lòng, trung thành với tổ chức của nhân viên ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Bài viết nhằm làm rõ các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến tâm lý và hành vi của nhân viên, qua đó đề xuất các giải pháp thiết thực giúp ngân hàng tăng cường sự gắn bó, ổn định nguồn lực nhân sự và nâng cao sức cạnh tranh trong bối cảnh mới.
Tác động của chính sách tín dụng xanh đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của chính sách tín dụng xanh đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Thực tiễn triển khai tín dụng xanh tại Việt Nam cho thấy hiệu ứng tích cực về mặt xã hội và kinh tế, đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp bền vững, năng lượng tái tạo và sản xuất sạch hơn.
Tác động của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tỉnh Bắc Ninh

Tác động của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tỉnh Bắc Ninh

Chương trình tín dụng vi mô là một bộ phận quan trọng của thị trường tín dụng chính thức ở khu vực nông thôn Việt Nam nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng. Việc tham gia các chương trình này mang lại cho phụ nữ nhiều cơ hội việc làm, tăng sự tự tin, nâng cao kỹ năng giao tiếp, khả năng quản lý tài chính cá nhân, tiếp cận tri thức và mở rộng cơ hội lựa chọn trong đời sống. Nhờ đó, họ có điều kiện khẳng định vai trò và quyền ra quyết định của mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội.
Xem thêm
Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Ngày 01/01/2026, Văn phòng Quốc hội công bố 10 sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025
Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Đối với Việt Nam, việc ban hành các văn bản pháp luật đã phần nào đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (viết tắt là cơ chế thử nghiệm), đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, để cơ chế thử nghiệm thực sự phát huy hiệu quả, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý tổng thể, thiết lập quy trình minh bạch, cơ chế giám sát rủi ro chặt chẽ và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý, đồng thời cần gắn với mục tiêu phát triển bền vững và chuyển đổi số quốc gia.
Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Bài viết phân tích thực trạng, nguyên nhân và khẳng định sự cần thiết đổi mới đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo hướng áp dụng các chỉ số đo lường hiệu quả công việc (Key Performance Indicators - KPI), đồng thời đề xuất giải pháp triển khai phù hợp với khu vực công.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Bài viết làm rõ triển vọng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, đồng thời chỉ ra những điều kiện then chốt để mô hình này phát triển hiệu quả, bền vững và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Tài chính xanh chỉ có thể phát huy hiệu quả khi dòng vốn được phân bổ đúng địa chỉ, đúng nhu cầu và thực chất, nhằm bảo đảm tín dụng xanh không chỉ là trách nhiệm với cộng đồng mà còn trở thành cơ hội chiến lược để các ngân hàng định vị hướng phát triển bền vững của mình.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Quyết định vay vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài thị trường tài chính thuần túy, trong đó môi trường thông tin và thể chế ngày càng nổi lên như những biến số quan trọng. Trên cơ sở phân tích định lượng, bài viết đánh giá vai trò của tự do ngôn luận trong mối quan hệ giữa tham nhũng và sự nản lòng vay vốn ngân hàng.
Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế  và khuyến nghị đối với Việt Nam

Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa ở Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh xét theo cả quy mô giao dịch và mức độ phổ cập trong đời sống tài chính, yêu cầu hoàn thiện khung phòng, chống rửa tiền trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, bởi các chỉ dấu khách quan cho thấy Việt Nam vừa nằm trong nhóm quốc gia có giá trị giao dịch trên chuỗi rất lớn.
Pháp luật Liên minh châu Âu  về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Pháp luật Liên minh châu Âu về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Dữ liệu cá nhân giữ vai trò nền tảng trong thương mại điện tử, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động tương tác và kinh doanh trên môi trường số. Bài viết phân tích quy định của EU (đặc biệt là GDPR 2016), đánh giá tác động thực thi, so sánh với pháp luật Việt Nam để chỉ ra bất cập và đề xuất hoàn thiện cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng