25 năm phát triển sản phẩm, dịch vụ của Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam

Hoạt động ngân hàng
Tại Việt Nam, vào những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, khi hệ thống ngân hàng Việt Nam chuyển từ một cấp thành hai cấp, định hướng hoạt động theo cơ chế kinh tế thị trường, hàng loạt quỹ tín dụng, hợp tác xã tín dụng và cả một số ngân hàng lâm vào tình trạng mất vốn, nợ tồn đọng lớn, gây ảnh hưởng tới uy tín của hệ thống ngân hàng, lòng tin của người dân và doanh nghiệp.
aa

Lịch sử hoạt động thông tin tín dụng (TTTD) liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của hệ thống tài chính và ngân hàng. Hoạt động TTTD được khởi đầu từ thế kỷ 19 tại Mỹ và Anh khi các doanh nghiệp thương mại thường cần thông tin về khả năng tín dụng của khách hàng để đưa ra quyết định giao dịch. Tuy nhiên, đến thế kỷ 20, hoạt động TTTD mới dần dần phát triển rộng khắp tại các quốc gia trên thế giới từ châu Mỹ, châu Âu và lan rộng tới châu Á.

Tại Việt Nam, vào những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, khi hệ thống ngân hàng Việt Nam chuyển từ một cấp thành hai cấp, định hướng hoạt động theo cơ chế kinh tế thị trường, hàng loạt quỹ tín dụng, hợp tác xã tín dụng và cả một số ngân hàng lâm vào tình trạng mất vốn, nợ tồn đọng lớn, gây ảnh hưởng tới uy tín của hệ thống ngân hàng, lòng tin của người dân và doanh nghiệp. Nguyên nhân chủ yếu do nước ta mới chuyển sang áp dụng cơ chế thị trường, khả năng thích ứng với nền kinh tế này còn hạn chế, dẫn đến tình trạng thông tin bất cân xứng trong hệ thống ngân hàng; đặc biệt thiếu thông tin, dữ liệu chính xác, đầy đủ phục vụ cho quản lý điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Chính vì vậy, đứng dưới góc độ quản lý vĩ mô, việc xây dựng một tổ chức tập trung thu thập, xử lý và cung cấp TTTD trong toàn hệ thống là việc làm cần thiết và cấp bách trong bối cảnh bấy giờ. Sau khi thử nghiệm thành lập Trung tâm Phòng ngừa và giám sát rủi ro tại NHNN Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 10/1991, chỉ gần một năm sau đó, vào ngày 12/9/1992, Phòng Thông tin phòng ngừa rủi ro trực thuộc Vụ Tín dụng, NHNN là tiền thân của Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) đã được thành lập. Năm 1995, Phòng Thông tin phòng ngừa rủi ro được đổi tên thành Trung tâm Thông tin tín dụng (nay là CIC) và chính thức tách ra, hoạt động độc lập với cơ chế là đơn vị sự nghiệp trực thuộc NHNN vào tháng 02/1999.

25 năm phát triển sản phẩm, dịch vụ của Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam
CIC đóng góp tích cực vào sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng

Hiện nay, CIC hoạt động với vai trò là cơ quan TTTD công lập trực thuộc NHNN. Với đặc thù trong quá trình hình thành và phát triển, mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong chức năng nhiệm vụ của CIC hướng tới hỗ trợ công tác quản lý nhà nước của NHNN và bảo đảm an toàn, lành mạnh cho hoạt động tín dụng trong hệ thống ngân hàng. Hoạt động của CIC là sự kết hợp giữa hoạt động chức năng cơ quan TTTD công lập và công ty TTTD tư nhân, do đó, các sản phẩm, dịch vụ của CIC được xây dựng, thiết kế nhằm hỗ trợ hoạt động của NHNN, các tổ chức tín dụng (TCTD) và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp khách hàng vay.

Cụ thể, hệ thống sản phẩm, dịch vụ TTTD không ngừng được nghiên cứu đổi mới và hoàn thiện theo xu hướng quản lý nhà nước và quản trị rủi ro trong hệ thống ngân hàng, góp phần bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của toàn Ngành. Vai trò, uy tín của CIC trong cơ sở hạ tầng tài chính quốc gia được ghi nhận nhờ hệ thống sản phẩm, dịch vụ TTTD được tạo lập từ dữ liệu của cơ sở dữ liệu TTTD quốc gia không ngừng được đổi mới và hoàn thiện.

Thứ nhất, đối với các sản phẩm, dịch vụ phục vụ công tác quản lý nhà nước

CIC đã hoàn thành tốt vai trò là đơn vị đầu mối cung cấp thông tin hỗ trợ công tác quản lý điều hành, hoạch định chính sách, thanh tra giám sát cho NHNN. Từ khi bắt đầu triển khai hoạt động TTTD, CIC không ngừng hoàn thiện, cải tiến sản phẩm, mẫu biểu đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin của Ban Lãnh đạo NHNN, các đơn vị, vụ, cục trực thuộc NHNN và NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố, bao gồm: Nhiều mẫu biểu phục vụ công tác thanh tra giám sát, giám sát từ xa; dự báo thống kê; đánh giá tác động và hoạch định chính sách đối với một số lĩnh vực ưu tiên trọng điểm hoặc các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Năm 2014, CIC đã phối hợp với các đơn vị, vụ, cục NHNN phát triển nhiều sản phẩm, dịch vụ và tạo tiện ích ứng dụng trên Website CIC cho các đơn vị khai thác, sử dụng. Đến năm 2023, CIC tiếp tục hoàn thành xây dựng 15 báo cáo tổng hợp phục vụ công tác tham mưu chính sách, chỉ đạo điều hành của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng, các vụ, cục NHNN; 12 báo cáo phục vụ công tác quản lý, thanh tra, giám sát của NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố. Hệ thống báo cáo mới được phát triển thêm nhiều chỉ tiêu, nội dung báo cáo đa chiều, linh hoạt nhiều cấp độ, sử dụng các công cụ khai thác, phân tích dữ liệu mới. Ngoài ra, CIC tích cực phối hợp và cung cấp thông tin cho các đơn vị quản lý nhà nước khác, hỗ trợ triển khai công tác hoạt động theo chức năng của từng đơn vị như Bộ Công an, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia…

Thứ hai, đối với các sản phẩm, dịch vụ phục vụ công tác quản trị rủi ro

CIC không ngừng cải tiến danh mục, tăng cường chất lượng sản phẩm, dịch vụ dành cho các TCTD và các đơn vị khác trong hệ thống TTTD. Cụ thể, năm 2013, CIC thực hiện bổ sung và cung cấp sản phẩm cảnh báo tới tất cả các đơn vị khai thác và sử dụng theo 3 góc độ: Cảnh báo liên quan đến TCTD; cảnh báo liên quan đến ngành, vùng kinh tế, tỉnh/thành phố; cảnh báo liên quan đến khách hàng vay. Sản phẩm cảnh báo khách hàng vay S37 tức thời đã phát huy được hiệu quả và được nhiều đơn vị đăng ký sử dụng với mức độ tra cứu thông tin tăng đột biến trong năm 2022, đạt hơn 34 triệu lượt tra cứu. Năm 2021, đối với mô hình chấm điểm khách hàng cá nhân, CIC đã nâng cấp và kiểm thử thành công theo các tiêu chuẩn quốc tế mới nhất. Trong mô hình này, CIC đã ứng dụng công nghệ học máy (Machine Learning) giúp hỗ trợ tính toán các chỉ số, thông tin phi tài chính trong chấm điểm đối với những khách hàng không có lịch sử tín dụng (THIN file) nhằm tăng khả năng tiếp cận tín dụng cho đối tượng này, từ đó hỗ trợ các TCTD từng bước chuyển đổi từ hình thức cho vay có bảo đảm bằng tài sản sang hình thức cho vay tín chấp dựa trên dự báo mức độ rủi ro của khách hàng. Năm 2023, các báo cáo TTTD do CIC cung cấp được bổ sung thêm một số trường thông tin hữu ích cho đơn vị sử dụng như bổ sung thông tin xác suất vỡ nợ, thông tin xác thực với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Để phù hợp với xu thế về dịch vụ tài chính số, CIC đã ra mắt sản phẩm Báo cáo TTTD tức thời (S11T) vào tháng 5/2024 nhằm hỗ trợ các đơn vị sử dụng ra quyết định nhanh chóng khi xét duyệt khoản vay trên môi trường số. Ngoài ra, CIC cung cấp các sản phẩm theo yêu cầu đáp ứng nhu cầu đánh giá khách hàng vay, xây dựng và kiểm định mô hình của các TCTD.

Theo thống kê, số lượng báo cáo TTTD do CIC cung cấp cho các đơn vị sử dụng có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ theo từng giai đoạn 5 năm, đặc biệt trong giai đoạn 2014 - 2019 (tăng 8,5 lần) và giai đoạn 2019 - 2024 (tăng 2,3 lần). Trong năm 2024 (tính đến tháng 10), CIC đã cung cấp gần 75 triệu báo cáo cho các TCTD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm 2023.

Thứ ba, đối với các sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ, phục vụ cho khách hàng vay, tăng cường tính minh bạch, nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng và thúc đẩy tài chính toàn diện

Sau khi Cổng thông tin kết nối khách hàng vay chính thức được vận hành vào năm 2019, CIC tiếp tục đẩy mạnh phát triển và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ trực tiếp cho khách hàng vay. Tính đến tháng 10/2024, CIC đã ghi nhận hơn 1,9 triệu khách hàng cá nhân và gần 1,6 nghìn khách hàng pháp nhân đăng ký tài khoản và khai thác báo cáo TTTD thông qua Cổng thông tin kết nối khách hàng vay với số lượng báo cáo TTTD khai thác trung bình trong giai đoạn từ năm 2019 đến nay ước đạt khoảng gần 400.000 báo cáo/năm.

Nhờ có sự ra đời của hoạt động TTTD, bức tranh toàn cảnh về hoạt động tín dụng trong hệ thống ngân hàng trở nên rõ ràng, minh bạch hơn, giảm thiểu thông tin bất cân xứng giữa người cho vay và người đi vay. Đặc biệt, kết quả hoạt động TTTD do CIC là đơn vị đầu mối triển khai đã được ghi nhận và đánh giá cao khi hỗ trợ tích cực cho NHNN trong công tác quản lý nhà nước, hoạch định chính sách, thanh tra giám sát; hỗ trợ các TCTD trong công tác quản trị rủi ro, bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng. Trong suốt thời gian hơn 32 năm triển khai và 25 năm chính thức thành lập, hoạt động TTTD của NHNN đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận, trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba, hạng Nhì và hạng Nhất lần lượt vào các năm 2009, 2014 và 2019. Bước sang giai đoạn tiếp theo trong quá trình hình thành và phát triển, hoạt động TTTD của NHNN thông qua đơn vị đầu mối CIC được kỳ vọng sẽ tiếp tục giữ vững vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia, góp phần tích cực trong bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Cao Văn Bình
Chủ tịch Hội đồng quản lý CIC

Tin bài khác

ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

Bài viết phân tích thực trạng triển khai tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) tại các ngân hàng Việt Nam, làm rõ tác động của ESG đối với hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển ngân hàng bền vững và tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu của ngành Ngân hàng, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đang khẳng định vai trò hạt nhân trong việc kết nối, phát triển nền tảng số dùng chung và hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nâng cao năng lực quản trị, mở rộng dịch vụ tài chính số, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển bền vững khu vực kinh tế hợp tác.
Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Ngày 03/7/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức Hội nghị Sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị nhằm sơ kết, đánh giá những kết quả trong điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời nhận diện những cơ hội, thách thức, khó khăn, đề ra giải pháp, định hướng thời gian tới. Thống đốc Phạm Đức Ấn và Ban Lãnh đạo NHNN điều hành Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có lãnh đạo các đơn vị Vụ, Cục thuộc NHNN, lãnh đạo các tổ chức, Hiệp hội trong Ngành, các tổ chức tín dụng (TCTD) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới điểm cầu NHNN chi nhánh các khu vực.
Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Những tháng đầu năm 2026, nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng, thúc đẩy tín dụng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ngành Ngân hàng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp và đạt được những kết quả tích cực. Tính đến ngày 29/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 20 triệu tỉ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025. Về cơ bản, cơ cấu tín dụng theo đúng định hướng, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong đó cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế. Vốn tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
Ngân hàng Phong cách sống: Phân tích so sánh các mô hình toàn cầu và hàm ý chiến lược cho thị trường Việt Nam

Ngân hàng Phong cách sống: Phân tích so sánh các mô hình toàn cầu và hàm ý chiến lược cho thị trường Việt Nam

Bài viết phân tích sự chuyển dịch của ngành Ngân hàng từ mô hình cung cấp sản phẩm sang xây dựng hệ sinh thái số gắn với phong cách sống, làm rõ các mô hình tiêu biểu trên thế giới và đề xuất những hàm ý chiến lược giúp ngân hàng thương mại Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.
Xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững tại Việt Nam

Xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững tại Việt Nam

Bài viết đề xuất bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững gồm 06 trụ cột và 18 chỉ tiêu thành phần, góp phần cung cấp công cụ đo lường toàn diện phục vụ chuyển đổi số ngành Ngân hàng theo hướng an toàn và bền vững.
Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giám sát ngân hàng thông qua trắc lượng thư mục bằng phần mềm VOSviewer

Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giám sát ngân hàng thông qua trắc lượng thư mục bằng phần mềm VOSviewer

Bài viết này sử dụng phương pháp trắc lượng thư mục với công cụ VOSviewer 1.6.20 để tổng quan và phân tích về hoạt động giám sát ngân hàng giai đoạn 2010 - 2025, qua đó làm rõ xu hướng phát triển, các chủ đề nghiên cứu trọng tâm và mạng lưới học thuật quốc tế trong lĩnh vực này.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Xem thêm
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam