Hệ thống ngân hàng tỉnh Quảng Trị tiếp tục đồng hành phát triển kinh tế - xã hội địa phương

Hoạt động ngân hàng
Là một tỉnh có kinh tế nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm, thu nhập cho người dân cũng như bảo đảm an sinh xã hội, các chính sách tín dụng hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn đã được NHNN Chi nhánh tỉnh Quảng Trị triển khai trên diện rộng, mang tính đặc thù riêng của địa phương được thực hiện thông qua ngân hàng, tạo lực đẩy phát triển bền vững cho kinh tế tỉnh.
aa

Năm 2024, kinh tế tỉnh Quảng Trị vẫn tiếp tục trên đà phục hồi tăng trưởng; có 14/18 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu đã được thực hiện thành công và vượt kế hoạch. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) tăng khoảng 5,97% so với năm 2023; tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt trên 87% dự toán địa phương, tăng 26,8% so với cùng kỳ năm 2023; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,9%; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 3,96% so với cùng kỳ năm 2023. Hoạt động thương mại, dịch vụ có nhiều chuyển biến tích cực. Các cân đối lớn của kinh tế địa phương được giữ ổn định; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng. Để có được những thành công này phải kể đến sự chung tay, phối hợp nhịp nhàng của các sở, ban, ngành tại địa phương và người dân, đặc biệt là của hệ thống ngân hàng tỉnh Quảng Trị. Mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực bởi những khó khăn của nền kinh tế nhưng toàn hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã luôn chủ động triển khai các chính sách, giải pháp về tín dụng, lãi suất một cách đồng bộ, hỗ trợ tối đa cho người dân, doanh nghiệp góp phần khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Tăng cường công tác tín dụng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dân

Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Chi nhánh tỉnh Quảng Trị đã nỗ lực không ngừng để thực hiện mọi giải pháp tín dụng một cách linh hoạt nhằm kiểm soát quy mô, tăng trưởng tín dụng hợp lý trên cơ sở mục tiêu tăng trưởng, lạm phát, diễn biến của thị trường, kịp thời đáp ứng vốn cho nền kinh tế, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Bên cạnh đó, NHNN Chi nhánh tỉnh Quảng Trị cũng chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp tục đẩy mạnh triển khai các chương trình, chính sách tín dụng nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn của người dân, doanh nghiệp góp phần quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Tính đến hết năm 2024, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị có 23 TCTD, trong đó có 11 Chi nhánh cấp 1 (ngân hàng thương mại (NHTM)); 01 Ngân hàng Chính sách xã hội; 11 Quỹ tín dụng nhân dân; 10 Chi nhánh cấp 2 (Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện, thị xã, thành phố); 52 phòng giao dịch của NHTM và Ngân hàng Chính sách xã hội trải đều các thị trấn, thị tứ và các vùng kinh tế trọng điểm, tập trung trên địa bàn tỉnh.

Là một tỉnh có kinh tế nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm, thu nhập cho người dân cũng như bảo đảm an sinh xã hội, các chính sách tín dụng hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn đã được NHNN Chi nhánh tỉnh Quảng Trị triển khai trên diện rộng, mang tính đặc thù riêng của địa phương được thực hiện thông qua ngân hàng, tạo lực đẩy phát triển bền vững cho kinh tế tỉnh, cụ thể như: Chương trình tín dụng cho vay lâm sản, thủy sản của NHTM cổ phần Công thương Việt Nam (VietinBank) Chi nhánh tỉnh Quảng Trị và NHTM cổ phần Á Châu (ACB) Chi nhánh tỉnh Quảng Trị có doanh số giải ngân lũy kế đạt 184,89 tỉ đồng, với 18 lượt khách hàng vay; Chương trình cho vay các lĩnh vực ưu tiên với lãi suất cho vay theo quy định của Thống đốc NHNN hiện nay tối đa 4%/năm, có tổng dư nợ cho vay ngắn hạn 5 lĩnh vực ưu tiên đạt 1.290 tỉ đồng, chiếm 2,37% tổng dư nợ, trong đó cho vay nông nghiệp, nông thôn là 1.171 tỉ đồng, cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa là 119 tỉ đồng.

Căn cứ quy định tại Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, NHNN Chi nhánh tỉnh Quảng Trị tiếp tục chỉ đạo các TCTD thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn có dư nợ đạt 13.729 tỉ đồng, chiếm tỉ trọng 25,43% tổng dư nợ và tăng 10,79% so với năm 2023. Số khách hàng còn dư nợ là 42.203, trong đó có 41.896 cá nhân, hộ gia đình; 02 hộ kinh doanh và 305 doanh nghiệp.

Để tăng cường cho vay theo Nghị quyết số 100/2022/NQ-HĐND ngày 09/12/2022 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Trị quy định Chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2022 - 2025, đến hết năm 2024, hệ thống ngân hàng tỉnh Quảng Trị đã cho vay 32 hộ gia đình, cá nhân với dư nợ 14,1 tỉ đồng, với tổng số tiền đã hỗ trợ lãi suất là 90,6 triệu đồng.

Tính đến ngày 31/12/2024, số dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ lũy kế là 442,62 tỉ đồng; số khách hàng được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lũy kế là 185 lượt khách hàng. Cùng với đó, các TCTD đã tiết giảm tối đa các loại chi phí để tập trung giảm lãi suất giúp doanh nghiệp và người dân gia tăng nguồn lực tài chính khôi phục và phát triển sản xuất, kinh doanh. Các TCTD trên địa bàn thực hiện nhiều gói lãi suất ưu đãi cho khách hàng với mức lãi suất dưới 4%/năm. Đến hết năm 2024, lãi suất cho vay bình quân các món vay mới phát sinh là 7,09%/năm, giảm hơn 2%/năm so với cuối năm 2023 (lãi suất cho vay bình quân năm 2023 là 9,35%/năm).

Bên cạnh đó, tín dụng chính sách đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách tiếp tục phát huy hiệu quả, góp phần hỗ trợ người nghèo, đối tượng chính sách có thể duy trì và phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lượng cuộc sống. Đến ngày 31/12/2024, Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Quảng Trị đã giải ngân cho 25.636 lượt vay vốn với tổng dư nợ là 5.155 tỉ đồng, tăng 8,12% so với cuối năm 2023 với tổng số khách hàng còn dư nợ là 109.171 khách hàng. Dư nợ tập trung ở một số chương trình: Cho vay hộ nghèo chiếm 10,05% tổng dư nợ các chương trình; cho vay hộ cận nghèo chiếm 19,92%; cho vay hộ mới thoát nghèo chiếm 10,3%; cho vay học sinh, sinh viên chiếm 6,8%; cho vay hộ gia đình sản xuất, kinh doanh vùng khó khăn chiếm 9,7%; cho vay nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn chiếm 11,81%; cho vay giải quyết việc làm chiếm 18,27%; cho vay nhà ở xã hội chiếm 9,31% tổng dư nợ các chương trình.

Tính đến ngày 31/12/2024, tín dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đạt dư nợ là 55.812 tỉ đồng, tăng 4.204 tỉ đồng (8,15%) so với cuối năm 2023.

Tăng cường chuyển đổi số

Các TCTD trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã tập trung nguồn lực hoàn thiện, phát triển nền tảng công nghệ số hiện đại, tiện ích, hướng đến tối ưu trải nghiệm khách hàng, hạn chế tối đa giao dịch tiền mặt.

NHNN Chi nhánh tỉnh Quảng Trị đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các TCTD áp dụng biện pháp phòng, chống rủi ro gian lận trong mở tài khoản thanh toán, bảo đảm an ninh, an toàn trong hoạt động thẻ tín dụng và quyền lợi của khách hàng trong quá trình phát hành, sử dụng thẻ tín dụng ngân hàng; đẩy mạnh chuyển đổi số, thanh toán không dùng tiền mặt tại trường học, cơ sở giáo dục, bệnh viện, cơ sở y tế; chi trả an sinh xã hội trên địa bàn; phối hợp với Bảo hiểm xã hội tỉnh thực hiện kế hoạch triển khai ứng dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trong chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội qua thanh toán không dùng tiền mặt; tăng cường bảo đảm an ninh, an toàn trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng; thường xuyên tăng cường phối hợp, trao đổi thông tin với công an, cơ quan đơn vị liên quan về các phương thức, thủ đoạn tội phạm, qua đó, nhận biết kịp thời những nguy cơ rủi ro để có biện pháp ngăn chặn và phòng ngừa hiệu quả cho khách hàng.

Theo Quyết định số 182/QĐ-NHNN ngày 01/02/2024 của Thống đốc NHNN ban hành Kế hoạch năm 2024 của ngành Ngân hàng triển khai Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ việc chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06), NHNN Chi nhánh tỉnh Quảng Trị đã thành lập Ban Chỉ đạo để chỉ đạo các NHTM, Ngân hàng Chính sách xã hội trên địa bàn nghiêm túc đẩy mạnh triển khai thực hiện các mô hình, nhiệm vụ trong Đề án 06.

Các TCTD triển khai quyết liệt những giải pháp xác thực sinh trắc học qua căn cước công dân gắn chíp và tài khoản định danh điện tử để xác thực giao dịch thanh toán trực tuyến tuân thủ theo quy định tại Quyết định số 2345/QĐ-NHNN ngày 18/12/2023 của Thống đốc NHNN về việc triển khai các giải pháp an toàn, bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng. Đến hết năm 2024, số tài khoản đã thực hiện sinh trắc học chiếm 35% tổng số tài khoản đã mở trên địa bàn.

Đồng thời, NHNN tỉnh Quảng Trị đã ban hành văn bản đề nghị Sở Y tế, Công an tỉnh phối hợp chỉ đạo các cơ sở y tế trên địa bàn thực hiện lắp đặt Ki-ốt thông minh của NHTM cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank) Chi nhánh tỉnh Quảng Trị; chỉ đạo HDBank Chi nhánh Quảng Trị tiếp tục bám sát Công văn số 4687/CV-TCTTKĐA về việc triển khai miễn phí giải pháp Ki-ốt y tế thông minh đối với các cơ sở y tế trên toàn quốc; thực hiện các văn bản chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai lắp đặt Ki-ốt thông minh trên địa bàn. Hiện nay, HDBank Chi nhánh tỉnh Quảng Trị đã ký hợp đồng và tiến hành lắp đặt, bàn giao Ki-ốt với Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị và Bệnh viện đa khoa Khu vực Vĩnh Linh, là những bệnh viện lớn trên địa bàn.

Trên địa bàn tỉnh Quảng Trị hiện có 122 ATM (trong đó có 15 ATM đa chức năng, tăng 05 máy so với năm 2023). Hệ thống ATM hoạt động thông suốt, ổn định, an toàn; 916 máy POS, doanh số thanh toán đạt 1.260 tỉ đồng; mạng lưới QR Code được phủ sóng toàn bộ các huyện, thị với hơn 48.000 điểm chấp nhận thanh toán qua QR Code được đặt tại các doanh nghiệp, cửa hàng bán lẻ, nhà hàng, khách sạn, cơ sở y tế, bệnh viện, trường học.

NHNN Chi nhánh tỉnh Quảng Trị thường xuyên chỉ đạo, nhắc nhở các TCTD trên địa bàn trang bị cơ sở vật chất, hệ thống thiết bị an ninh, an toàn tiên tiến, phương tiện vận chuyển chuyên dùng theo đúng quy định; nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ tài sản, đặc biệt là nâng cao nghiệp vụ bảo vệ; thường xuyên rà soát phương án, trang bị cơ sở vật chất phục vụ cho công tác phòng cháy, chữa cháy; phòng, chống bão lũ, ngập lụt để chủ động ứng phó khi có tình huống xảy ra; triển khai phương án phòng, chống khủng bố tại các điểm trọng yếu; đẩy mạnh việc báo cáo giao dịch đáng ngờ liên quan đến tài trợ khủng bố; thường xuyên phối hợp với chính quyền địa phương, lực lượng an ninh, cảnh sát khu vực giữ gìn an ninh, trật tự trên địa bàn hoạt động; bảo đảm tuyệt đối an toàn kho quỹ và vận chuyển tiền mặt.

Công tác phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng tiếp tục được củng cố và phát triển. NHNN Chi nhánh tỉnh Quảng Trị đã thực hiện xác nhận, cấp phép mạng lưới theo đúng thẩm quyền quy định. Trong năm 2024, đã chấp thuận thay đổi địa điểm cho 03 Phòng Giao dịch của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh tỉnh Quảng Trị, NHTM cổ phần Lộc Phát Chi nhánh tỉnh Quảng Trị và NHTM cổ phần Ngoại thương Chi nhánh tỉnh Quảng Trị. Trong năm 2024, trên địa bàn thành lập thêm 02 Phòng Giao dịch của NHTM cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) Chi nhánh tỉnh Quảng Trị tại huyện Gio Linh và HDBank Chi nhánh tỉnh Quảng Trị tại thị xã Quảng Trị.

Thời gian qua, hệ thống ngân hàng tỉnh Quảng Trị đã thể hiện tinh thần trách nhiệm xã hội thông qua nhiều chương trình an sinh ý nghĩa. Năm 2024, các ngân hàng đã đóng góp hơn 20 tỉ đồng để xây dựng Trường tiểu học ở Đakrông, Cam Lộ, Vĩnh Linh; hỗ trợ cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, dân sinh cho quân và dân huyện đảo Cồn Cỏ; xây nhà chống lũ ở Hải Lăng, Cam Lộ; tặng học bổng cho học sinh nghèo vượt khó; tài trợ các dự án cộng đồng… Những hoạt động này không chỉ giúp cải thiện đời sống người dân mà còn lan tỏa hình ảnh tích cực của ngành Ngân hàng trên địa bàn tỉnh.

Định hướng thời gian tới

Tiếp tục phát huy những thành quả đã đạt được, trong thời gian tới, hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị sẽ tiếp tục bám sát chủ trương của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ, Thống đốc NHNN, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị và diễn biến tình hình kinh tế vĩ mô, tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả chính sách tiền tệ, tín dụng hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Đối với đơn vị quản lý các TCTD trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, tiếp tục điều hành linh hoạt các giải pháp, nhằm bảo đảm thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng trên địa bàn tăng trưởng và phát triển theo định hướng của NHNN, góp phần quan trọng trong thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ năm 2025; gắn liền với những nhiệm vụ cơ bản bảo đảm thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng trên địa bàn ổn định, hoạt động an toàn, hiệu quả; theo dõi, nắm bắt tình hình kinh tế - xã hội và hoạt động ngân hàng trên địa bàn, đặc biệt là các lĩnh vực kinh tế trọng điểm, ưu tiên của Chính phủ, của tỉnh để kịp thời tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương; làm đầu mối phối hợp chặt chẽ với các sở, ban, ngành triển khai thực hiện hiệu quả các cơ chế, chính sách của ngân hàng, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương; giám sát việc triển khai của các TCTD trên địa bàn về thực hiện chủ trương của Chính phủ, NHNN trong giảm lãi suất cho vay, giảm các loại phí hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi, phát triển sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, đẩy mạnh Chương trình Kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, nhằm kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn của doanh nghiệp và người dân; tiếp tục triển khai có hiệu quả các chương trình tín dụng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân, trong đó, có chương trình tín dụng về phát triển lâm, thủy sản; chương trình tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội đối với hộ nghèo và đối tượng chính sách.

Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục chỉ đạo các TCTD đẩy mạnh triển khai các giải pháp ứng dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, làm sạch dữ liệu khách hàng, bảo đảm 100% khách hàng cá nhân tại TCTD được đối chiếu với thông tin sinh trắc học trong căn cước công dân gắn chíp hoặc thông qua xác thực định danh điện tử theo quy định về hoạt động thanh toán tại Thông tư hướng dẫn Nghị định số 52/2024/NĐ-CP của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt; đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về thanh toán không dùng tiền mặt, nâng cao nhận thức, cảnh giác của người dân, doanh nghiệp trước những rủi ro an ninh mạng, các thủ đoạn, hành vi tội phạm, lừa đảo trong hoạt động thanh toán, trung gian thanh toán.

Cùng với đó, các TCTD trên địa bàn tỉnh Quảng Trị tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra tại các chương trình, kế hoạch, đề án chuyển đổi số và thanh toán không dùng tiền mặt của NHNN; tăng cường công tác bảo đảm an ninh, an toàn, kiểm soát chặt chẽ việc mở tài khoản thanh toán của tổ chức để ngăn ngừa việc lợi dụng cho các mục đích bất hợp pháp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

2. Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt.

3. Nghị quyết số 100/2022/NQ-HĐND ngày 09/12/2022 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Trị quy định Chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2022 - 2025.

4. Quyết định số 182/QĐ-NHNN ngày 01/02/2024 của Thống đốc NHNN ban hành Kế hoạch năm 2024 của ngành Ngân hàng triển khai Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ việc chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

5. Quyết định số 2345/QĐ-NHNN ngày 18/12/2023 của Thống đốc NHNN về việc triển khai các giải pháp an toàn, bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng.

6. https://www.quangtri.gov.vn/

Nguyễn Xuân Hòa
NHNN Chi nhánh tỉnh Quảng Trị

Tin bài khác

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Sự hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đặt ra yêu cầu thiết kế thể chế mới: Dịch vụ ngân hàng số phục vụ IFC không thể được đồng nhất với các tiện ích số bán lẻ vốn đã phát triển nhanh trong thập kỷ qua. Trên cơ sở phân tích đối chứng giữa Singapore và Hồng Kông, bài viết xây dựng khung năng lực vận hành gồm bốn lớp hạ tầng (gia nhập thị trường, giao dịch, tuân thủ, niềm tin thị trường) và chỉ ra rằng sức mạnh của một IFC phụ thuộc vào độ sâu và khả năng liên thông của các lớp dịch vụ ở cấp độ tổ chức, không phải vào quy mô dịch vụ bán lẻ. Trên nền tảng đó, nghiên cứu đề xuất lộ trình ba giai đoạn cho IFC Việt Nam: (1) Chuẩn hóa định danh điện tử (eKYC) cho khách hàng phi cư trú, tài khoản đa tiền tệ và thanh toán xuyên biên giới theo chuẩn ISO 20022 trong giai đoạn 2026 - 2027; (2) Phát triển ngoại hối tổ chức, tài trợ thương mại số và lưu ký số trong giai đoạn 2027 - 2029; (3) Hoàn thiện công nghệ giám sát (SupTech), tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) bán buôn và cơ chế tường lửa tài chính từ năm 2029.
Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính theo hướng hiện đại, an toàn, minh bạch và có khả năng kết nối quốc tế. Trong bối cảnh đó, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số giữ vai trò then chốt; không chỉ hỗ trợ thanh toán, quản lý dòng tiền, giao dịch ngoại hối, tài trợ thương mại, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường tài chính, cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế số.
Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

Bài viết phân tích thực trạng triển khai tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) tại các ngân hàng Việt Nam, làm rõ tác động của ESG đối với hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển ngân hàng bền vững và tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu của ngành Ngân hàng, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đang khẳng định vai trò hạt nhân trong việc kết nối, phát triển nền tảng số dùng chung và hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nâng cao năng lực quản trị, mở rộng dịch vụ tài chính số, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển bền vững khu vực kinh tế hợp tác.
Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Ngày 03/7/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức Hội nghị Sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị nhằm sơ kết, đánh giá những kết quả trong điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời nhận diện những cơ hội, thách thức, khó khăn, đề ra giải pháp, định hướng thời gian tới. Thống đốc Phạm Đức Ấn và Ban Lãnh đạo NHNN điều hành Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có lãnh đạo các đơn vị Vụ, Cục thuộc NHNN, lãnh đạo các tổ chức, Hiệp hội trong Ngành, các tổ chức tín dụng (TCTD) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới điểm cầu NHNN chi nhánh các khu vực.
Xem thêm
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, không chỉ góp phần bảo đảm an sinh xã hội mà còn tạo động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam trong thời gian tới.
Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảo hiểm tiền gửi là trụ cột quan trọng củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính, góp phần huy động nguồn lực và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Khi người dân yên tâm gửi gắm đồng tiền tích lũy, nguồn vốn trong xã hội được khơi thông, tạo thêm động lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại